Thứ ba 10/03/2026 10:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nợ xấu và việc bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay theo pháp luật Liên bang Nga

Bài viết này phân tích vấn đề nợ xấu và việc bảo vệ quyền đòi nợ của ngân hàng thương mại cho vay bằng một số biện pháp theo pháp luật của Liên Bang Nga, trên cơ sở đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


1. Khái niệm và đặc điểm của nợ xấu

Theo pháp luật Liên bang Nga, nợ xấu là khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng nhưng quá thời hạn trả nợ từ 90 ngày trở lên và khả năng trả nợ của con nợ bị nghi ngờ. Bên cạnh khái niệm nợ xấu, còn có khái niệm nợ không có khả năng thu hồi. Nợ không có khả năng thu hồi trước hết chính là các khoản nợ xấu, tuy nhiên, khả năng trả nợ của con nợ đã không còn và ngân hàng không có khả năng thu hồi trên thực tế. Theo Điều 266 Bộ luật Thuế Liên bang Nga năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2019, thì nợ xấu là khoản nợ của người nộp thuế mà thời hiệu khởi kiện đã hết hoặc đây là các khoản nợ mà theo quy định của pháp luật dân sự, nghĩa vụ bị chấm dứt do không thể thực hiện được trên cơ sở văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc do tổ chức đó bị giải thể. Nợ xấu cũng có thể là các khoản tiền phát sinh từ các nghĩa vụ tiền tệ đã bị chấm dứt đối với ngân hàng. Danh sách các nghĩa vụ này được liệt kê trong Quyết định của Chính phủ Nga được ban hành dựa trên Khoản 3 Điều 5 Luật ngày 29/07/2018 “về sửa đổi một số văn bản của Liên bang Nga”.

Với các khái niệm được phân tích ở trên, nợ xấu có một số đặc điểm sau đây:

(i) Nợ xấu phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng được ký kết giữa tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng, trong đó ngân hàng cho vay là chủ nợ, khách hàng vay là con nợ.

(ii) Dấu hiệu nợ xấu là khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên và con nợ bị nghi ngờ về khả năng trả nợ.

(iii) Ngân hàng cho vay phải trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu. Mức trích lập dự phòng rủi ro từ 20% - 100%. Mức trích 100% áp dụng đối với khoản nợ có khả năng mất vốn (theo Quyết định số 590). Về nguyên tắc, các khoản nợ quá hạn (đặc biệt là nợ xấu) càng nhiều, thì các TCTD cần phải trích lập nhiều và với tỷ lệ lớn mức dự phòng rủi ro.

(iv) Nợ xấu ngân hàng có thể là các khoản vay không hoàn trả được trong năm 2020 được cấp cho pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh để phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc để đảm bảo sự tồn tại của chủ thể nêu trên; hoặc nợ xấu ngân hàng có thể là khoản tiền theo hợp đồng tín dụng được ký trong năm 2020 hoặc 2021 có sự trợ cấp về lãi suất cho vay của Chính phủ nhưng không được hoàn trả đúng hạn. Đây là trường hợp nợ xấu rất đặc biệt, được xác định trong giai đoạn bệnh dịch Covid-19 đang lan tràn toàn cầu, nên không cần phải thỏa mãn điều kiện về thời hạn quá hạn của khoản nợ là 90 ngày, nhưng khoản nợ này vẫn được coi là nợ xấu.

(v) Nợ xấu dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của TCTD trong hợp đồng tín dụng không được đảm bảo do khoản vay không thu hồi được. Nợ xấu có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng cho vay mất khả năng thanh toán, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Ngân hàng có thể mất vốn, thậm chí, có thể phá sản do nợ xấu. Nếu không áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay, các khoản nợ này sẽ tác động xấu tới sự phát triển của nền kinh tế.

2. Một số biện pháp bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay khi phát sinh nợ xấu

2.1. Biện pháp cầm cố

Theo Điều 33 Luật Ngân hàng và hoạt động ngân hàng của Liên bang Nga về bảo đảm hoàn trả khoản tín dụng, các khoản tín dụng có thể được bảo đảm bằng cầm cố bất động sản hoặc động sản, trong đó, bao gồm chứng khoán của Nhà nước và các loại chứng khoán khác.

Theo khoản 1 Điều 334 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga, trong quan hệ cầm cố, bên nhận cầm cố (bên cho vay) có quyền ưu tiên nhận được khoản bồi hoàn cho khoản vay từ giá trị của tài sản bảo đảm (đối tượng cầm cố) so với các chủ nợ khác của bên cầm cố khi khách hàng không trả được nợ hoặc không trả được nợ đầy đủ. Ở đây có sự ưu tiên đối với bên nhận cầm cố (bên cho vay) so với các chủ nợ khác. Ngân hàng có quyền xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ, nếu số tiền còn dư thì mới đến lượt các chủ nợ khác. Khi khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, ngân hàng có thể thu hồi nợ và các khoản lãi suất vay trước hạn nếu như điều này được thỏa thuận trong hợp đồng và ngân hàng có quyền xử lý tài sản cầm cố theo thủ tục luật định. Trong trường hợp pháp luật quy định, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố để khấu trừ vào khoản nợ. Trong biện pháp cầm cố, việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ là các ngân hàng thương mại (NHTM) còn được thể hiện thông qua việc cho phép NHTM - bên nhận cầm cố có thể thu hồi nợ từ các tài sản khác của con nợ khi giá trị của tài sản cầm cố không đủ để trả khoản nợ đã vay, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 334 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga). Đặc biệt, các quyền và lợi ích hợp pháp của NHTM được thể hiện thông qua hợp đồng cầm cố. Theo quy định của pháp luật, quan hệ cầm cố phải được thể hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản (khoản 1 Điều 334, khoản 3 Điều 339 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga), nếu pháp luật hoặc các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về việc bắt buộc phải công chứng. Có thể thấy, quy định này rất quan trọng, dựa vào đó quyền lợi của ngân hàng cho vay được bảo vệ thông qua cơ chế hợp đồng, là cơ sở để ngân hàng có thể khiếu kiện bên cầm cố khi quyền lợi bị xâm phạm.

Trong hợp đồng cầm cố các bên phải thỏa thuận về đối tượng cầm cố, đặc điểm và quy mô nghĩa vụ, thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố. Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố có thể đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong tương lai. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố về cách thức xử lý tài sản cầm cố để thu hồi nợ khi có hoặc không có khởi kiện tại Tòa án về việc xử lý tài sản cầm cố (khoản 1 Điều 339 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga). Nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng có thể phát sinh trong tương lai, bao gồm cả nợ gốc, lãi vay, trên cơ sở đó bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay. Pháp luật của Liên bang Nga có các quy định rất cụ thể về từng loại cầm cố, như cầm cố quyền tài sản của các chủ thể trong doanh nghiệp, cầm cố chứng khoán, cầm cố sổ tiết kiệm, cầm cố đối với chứng khoán, cầm cố quyền sở trí tuệ. Đối tượng của cầm cố có thể là các loại tài sản khác nhau, trong đó bao gồm cả các vật và các quyền tài sản, trừ các tài sản pháp luật cấm... Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi của chủ nợ - ngân hàng cho vay, pháp luật yêu cầu bên cầm cố phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về các quyền của bên thứ ba đối tài sản cầm cố (ví dụ các quyền từ hợp đồng thuê nhà, hợp đồng vay vốn…). Trong trường hợp khách hàng không thông báo, ngân hàng nhận cầm cố có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố trước thời hạn hoặc yêu cầu thay đổi các điều kiện của hợp đồng cầm cố, trừ trường hợp pháp luật quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác (khoản 4 Điều 336 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga).

Để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay, pháp luật Liên Bang Nga còn quy định việc bảo hiểm cho tài sản cầm cố, bảo hiểm trách nhiệm trả nợ của khách hàng vay và bảo hiểm rủi ro tài chính cho chủ nợ (Điều 31 Luật Cầm cố bất động sản). Theo đó, việc bảo hiểm bất động sản cầm cố được thể hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng này phải được ký kết để bảo đảm lợi ích của bên nhận cầm cố, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác (khoản 1 Điều 31). Trong trường hợp không có thỏa thuận về các điều kiện bảo hiểm bất động sản, bên cầm cố phải có trách nhiệm mua bảo hiểm bằng tiền của mình cho tài sản cầm cố để bù đắp mọi tổn thất có thể xảy ra (giá trị tối thiểu bằng giá trị của nghĩa vụ bảo đảm). Đặc biệt, bên nhận bảo đảm (ngân hàng cho vay) có quyền thu hồi nợ trực tiếp từ số tiền bảo hiểm cho việc mất hoặc bị hư hỏng tài sản cầm cố (trừ trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra do lỗi của bên nhận cầm cố). Đây là quyền ưu tiên được áp dụng đối với bên nhận cầm cố so với các chủ nợ khác của bên cầm cố.

Ngoài ra, quyền thu hồi nợ của ngân hàng cho vay còn được bảo vệ thông qua việc ngân hàng (bên nhận cầm cố) có quyền mua bảo hiểm cho rủi ro tài chính phát sinh khi không thu hồi nợ đầy đủ từ tài sản cầm cố (khoản 5 Điều 31 Luật Cầm cố bất động sản). Bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu khách hàng vay hoàn trả khoản nợ trước thời hạn khi bên cầm cố vi phạm các quy định về sử dụng, bảo quản và sửa chữa tài sản cầm cố, về áp dụng các biện pháp bảo quản tài sản cầm cố nếu như vi phạm này có thể gây ra thiệt hại hoặc làm mất tài sản cầm cố. Nếu khoản nợ không được hoàn trả thì trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày yêu cầu, bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố là bất động sản. Nếu bên cầm cố không giao tài sản để xử lý thì ngân hàng nhận cầm cố có quyền khởi kiện ra tòa án để thu giữ tài sản cầm cố và xử lý, thu hồi nợ (Điều 51, Điều 52 Luật Cầm cố bất động sản).

2.2. Biện pháp mua, bán nợ xấu

Ở Liên bang Nga hiện nay, việc xử lý nợ xấu được kết hợp bởi cả cơ chế tập trung và phi tập trung. Cơ chế tập trung được thực hiện dựa vào ngân sách quốc gia, do Ngân hàng Trung ương Nga quản lý, còn cơ chế phi tập trung dựa trên các nguồn vốn và được thực hiện bởi các công ty mua bán nợ xấu, cá nhân.

Chủ thể bán nợ xấu là các ngân hàng có khoản nợ xấu. Chủ thể mua nợ xấu có thể là tổ chức, cá nhân. Trước khi bán nợ xấu, ngân hàng cho vay thường yêu cầu con nợ tái cơ cấu khoản nợ, trả ngân hàng các khoản tiền từ việc phạt vi phạm bởi con nợ hoặc trả nợ dần dần. Ngân hàng bán nợ khi: (i) Con nợ không thỏa thuận được với ngân hàng về các vấn đề trên hoặc (ii) Khi con nợ không có thu nhập chính thức, không có tài sản để Tòa án có thể dựa vào đó ra phán quyết thu hồi nợ; hoặc (iii) Không ai biết về chỗ ở, nơi cư trú, trụ sở chính của con nợ.

Theo khoản 3 Điều 7 Luật Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ năm 2016, chủ nợ hoặc người đại diện chủ nợ không có quyền gặp gỡ con nợ vào những ngày làm việc từ 22h đến 8h và vào các ngày nghỉ, ngày lễ từ 20h đến 9h theo giờ địa phương nơi cư trú hoặc sinh sống của con nợ để thực hiện các hành vi vì lợi ích của chủ nợ. Trong trường hợp tổ chức mua nợ vi phạm những điều cấm nêu trên, con nợ bị thiệt hại có thể làm đơn yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý hình sự hoặc dân sự đối với hành vi vi phạm của tổ chức mua nợ xấu và yêu cầu bồi thường thiệt hại về những tổn hại tinh thần gây ra cho con nợ.

Các tổ chức mua nợ có tư cách pháp nhân bắt buộc phải được đăng ký tại hệ thống đăng ký quốc gia. Các tổ chức này thực hiện hoạt động thu hồi nợ (trong đó có cả nợ xấu) với tính chất là hoạt động cơ bản, mang tính nghề nghiệp (khoản 2 Điều 2 Luật Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ năm 2016). Theo điểm 3 khoản 1 Điều 13 Đạo luật này, thì các tổ chức trên được cho phép đăng ký khi giá trị tài sản ròng trên sổ sách kế toán đến thời điểm lập báo cáo đăng ký không dưới 10 triệu rúp và phải thỏa mãn nhiều điều kiện khác theo quy định tại điều luật này.

Việc bán nợ (chuyển quyền yêu cầu đòi nợ) của ngân hàng cho vay sang bên thứ ba được thực hiện thông qua “hợp đồng chuyển quyền yêu cầu”. Theo đó, chủ nợ ngân hàng nhận được một khoản tiền từ bên mua nợ, còn bản thân chủ nợ không còn bất cứ quyền nào đối với khoản nợ đó nữa. Công ty mua bán nợ chuyên nghiệp được Nhà nước cấp phép kinh doanh[1] thông thường mua khoản nợ với giá khoảng từ 10%-75% giá trị của khoản nợ[2], thậm chí có khoản nợ tiêu dùng cho cá nhân chỉ được bán với giá 3% giá trị khoản nợ.

2.3. Khởi kiện tại Tòa án

Ngân hàng cho vay - chủ nợ xấu có thể nộp đơn khởi kiện đòi nợ đối với con nợ tại Tòa án. Đây là cách phổ biến để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng - chủ nợ xấu. Theo khoản 3 Điều 308 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga (Bảo vệ quyền lợi của bên cho vay theo thỏa thuận): “Trong trường hợp con nợ không thanh toán nghĩa vụ trả nợ, chủ nợ có quyền nộp đơn tới Tòa án yêu cầu con nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cả gốc và lãi, nếu như hợp đồng không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác. Tòa án theo yêu cầu của chủ nợ có quyền ban hành quyết định yêu cầu con nợ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền dựa trên nguyên tắc công bằng, phù hợp và không cho phép trục lợi từ hành vi trái pháp luật và không trên tinh thần tự nguyện”. Khi phán quyết của Tòa án có hiệu lực, chủ thể thi hành án sẽ xác định nguồn thu nhập của con nợ và cố gắng thu nợ từ các nguồn này. Nếu con nợ không có việc làm, không có thu nhập thường xuyên, toàn bộ tài sản của con nợ sẽ được xử lý để thu hồi nợ (cả động sản và bất động sản).

Điều 2 Bộ luật Tố tụng trọng tài của Liên bang Nga năm 2002, được sửa đổi, bổ sung vào ngày 08/06/2020 cũng có quy định: “Nhiệm vụ của Tòa án trọng tài là bảo vệ các quyền và lợi ích bị xâm phạm của các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh...”. Điều này cho thấy, quyền đòi nợ xấu của ngân hàng theo hợp đồng tín dụng khi bị xâm phạm là ngân hàng có thể nộp đơn kiện tới Tòa án trọng tài để yêu cầu bảo vệ, bởi lẽ, quyền này phát sinh khi ngân hàng thực hiện hoạt động kinh doanh (hoạt động cho vay) trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Tuy nhiên, khoản 5 Điều 4 Bộ luật trên đây quy định: “Tranh chấp liên quan đến đòi nợ (trong đó có nợ xấu) phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc các giao dịch, có thể đưa ra giải quyết tại Tòa án trọng tài sau khi các bên tranh chấp đã áp dụng các biện pháp xử lý trong vòng 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu con nợ trả nợ, nếu như không có thỏa thuận hoặc pháp luật không có quy định về thời hạn khác”. Vậy trước khi nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, ngân hàng cho vay phải áp dụng các biện pháp để thu hồi nợ. Nếu các biện pháp này không hiệu quả thì “đường cùng”, ngân hàng mới nộp đơn kiện tới Tòa án để bảo vệ quyền đòi nợ của mình. Trước khi xét xử, Tòa án có trách nhiệm thực hiện thủ tục hòa giải giữa các bên (khoản 1 Điều 138 Bộ luật Tố tụng trọng tài của Liên bang Nga).

Con nợ hoặc chủ thể có trách nhiệm trả nợ thay con nợ hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về việc không thi hành quyết định của Tòa án và phải trả khoản tiền phạt (theo quy định tại Điều 332 Bộ luật Tố tụng trọng tài của Liên bang Nga). Trong trường hợp không thi hành án được, con nợ vẫn không được giải phóng khỏi trách nhiệm trả nợ. Quy định này của Bộ luật hướng tới bảo vệ quyền đòi nợ của chủ nợ khi quyền này bị xâm phạm. Ngoài ra, TCTD có thể bảo vệ quyền đòi nợ của mình bằng việc nộp đơn tại Tòa án trọng tài yêu cầu về việc giải quyết phá sản đối với con nợ (Điều 34 Luật Ngân hàng và hoạt động ngân hàng). Tuy nhiên, từ ngày 01/09/2020 (thời điểm có hiệu lực của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phá sản năm 2002), các cá nhân người Nga (con nợ) có khoản nợ từ 50.000 đến 500.000 rúp có thể tự làm đơn xin phá sản và không cần phải thông qua thủ tục tại Tòa án. Điều này được quy định nhằm mục đích giúp cho cá nhân có khoản nợ tại ngân hàng, nhưng không còn bất kỳ tài sản nào để có thể trả nợ và không thể thi hành bản án.

3. Một số bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Liên bang Nga

Trên cơ sở phân tích pháp luật Liên bang Nga về nợ xấu và bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong xử lý nợ xấu, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Một là, về nợ xấu, pháp luật cần quy định cụ thể về các dấu hiệu của nợ xấu, các loại nợ xấu và các biện pháp áp dụng để xử lý nợ xấu, trong đó, có biện pháp thỏa thuận và biện pháp bắt buộc do pháp luật quy định.

Hai là, pháp luật cần quy định đa dạng các loại cầm cố tài sản bảo đảm tiền vay tại ngân hàng để ngân hàng có thể thu hồi nợ xấu. Để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng cho vay, pháp luật nên quy định việc bảo hiểm cho tài sản cầm cố, bảo hiểm trách nhiệm trả nợ của khách hàng vay và bảo hiểm rủi ro tài chính cho chủ nợ. Đặc biệt, pháp luật cần quy định cụ thể về cầm cố bất động sản, thậm chí, có thể thể hiện bằng đạo luật riêng về cầm cố bất động sản bởi những đặc thù của loại cầm cố này. Ngoài ra, pháp luật có thể quy định việc cầm cố lại, theo đó, người nhận cầm cố có quyền dùng tài sản cầm cố đã nhận để bảo đảm một nghĩa vụ khác như tài sản thuộc sở hữu của mình với điều kiện là thời hạn cầm cố lại không được dài hơn thời hạn cầm cố lần đầu tiên và điều này được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản cầm cố. Việc quy định như vậy tạo sự linh hoạt trong việc khai thác lợi ích của tài sản cầm cố, trên cơ sở đó, bảo đảm được các nghĩa vụ của các chủ thể. Ngoài ra, để bảo đảm thu hồi nợ vay, nên có quy định theo hướng nếu như pháp luật không quy định hoặc các bên không có thỏa thuận khác, thì trong trường hợp số tiền thu hồi được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bên nhận bảo đảm có quyền xiết nợ từ tài sản khác của bên bảo đảm (khoản 3 Điều 334 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga). Như vậy, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn trả vốn của bên bảo đảm lẫn việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng cho vay mà không cần phải thông qua thủ tục khiếu kiện tại cơ quan tài phán (như quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay).

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng nên ghi nhận trường hợp: Nếu tài sản cầm cố không thuộc sở hữu của bên cầm cố và bên nhận cầm cố không biết về tình trạng của tài sản cầm cố thì chủ sở hữu đích thực của tài sản cầm cố sẽ chịu trách nhiệm thay cho bên cầm cố (nếu pháp luật hoặc các bên trong hợp đồng cầm cố không có thỏa thuận khác). Bởi lẽ, trong trường hợp này, bên nhận cầm cố là người ngay tình, do vậy, quyền lợi của họ vẫn được bảo đảm. Trong trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về việc giao tài sản cho ngân hàng để xử lý nếu đến hạn, bên cầm cố (khách hàng) không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ[3].

Ba là, về mua, bán nợ xấu, cần có quy định cụ thể về việc cấp phép và hệ thống đăng ký thông tin cho các tổ chức chuyên nghiệp mua, bán các khoản nợ xấu ngân hàng. Thêm vào đó, cần giới hạn các khoản nợ có giá trị nhất định thì mới được mua, bán qua các tổ chức mua bán nợ và cần có quy định về vốn pháp định đối với các tổ chức này nhằm mục tiêu bảo vệ tối đa quyền của chủ nợ.

Bốn là, pháp luật cần quy định cụ thể việc chuyển quyền yêu cầu đòi nợ từ ngân hàng cho vay sang chủ thể mua nợ (không cần sự đồng ý của con nợ, tuy nhiên, con nợ cần phải được thông báo về vấn đề này). Tuy nhiên, đối với con nợ - khách hàng vay là cá nhân thì vấn đề chuyển nhượng quyền yêu cầu đòi nợ cho bên thứ ba cần phải được sự đồng ý và thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Con nợ không thể là người mua khoản nợ xấu, bởi lẽ, con nợ là một bên của hợp đồng.

Ngoài ra, pháp luật cũng cần quy định cụ thể về thành lập sàn giao dịch tài sản bảo đảm để xử lý các tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ trả nợ xấu; quy định căn cứ cụ thể hơn về xử lý nợ xấu thông qua thủ tục tại Tòa án và ngoài Tòa án như thủ tục tuyên bố con nợ - cá nhân phá sản khi giá trị khoản nợ ở mức độ nhất định...

PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy

Đại học Quốc gia Hà Nội





[1]. Василий Фотинский, Рынок долгов: что купить и как на этом заработат (Thị trường nợ: mua gì và kiếm lợi như thế nào trên thị trường này), https://abkazakov.ru/comments/rynok-dolgov-chto-kupit-i-kak-na-etom-zarabotat/.

[2]. Василий Фотинский, Рынок долгов: что купить и как на этом заработат (Thị trường nợ: mua gì và kiếm lợi như thế nào trên thị trường này), https://abkazakov.ru/comments/rynok-dolgov-chto-kupit-i-kak-na-etom-zarabotat/.

[3]. PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy (Chủ biên) (2016), Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của TCTD ở Việt Nam và một số nước trên thế giới (Sách chuyên khảo), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.175, tr.176.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: