Thứ tư 03/06/2026 23:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật thế giới về phạm vi bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra và bài học cho Việt Nam

Tóm tắt: Quy định phạm vi chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như việc đảm bảo sự cân bằng,

Tóm tắt: Quy định phạm vi chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như việc đảm bảo sự cân bằng, hợp lý về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ trách nhiệm sản phẩm. Bài viết sau đây sẽ góp phần làm rõ các quy định của pháp luật thế giới và pháp luật Việt Nam về phạm vi bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra.

Abstract: Provisions on liability scope of damage compensation may have great impact on interests of business organizations, inpiduals as well as ensure the balance, rationality of interests between subjects in product liability relationships. The paper may contribute to clearly making legal provisions in the world and in Vietnam on scope of damage compensation caused by defect products.

1. Quy định phạm vi bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Trách nhiệm sản phẩm (TNSP) là một chế định pháp luật quan trọng ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển. Với quan niệm người tiêu dùng luôn ở vị trí yếu thế trong mối quan hệ với các chủ thể kinh doanh khi xảy ra rủi ro, thiệt hại trong quá trình sử dụng sản phẩm, các nhà lập pháp đã nỗ lực tìm kiếm giải pháp khắc phục vấn đề này nhằm đảm bảo sự cân bằng hợp lý về lợi ích giữa người sử dụng, nhà sản xuất cũng như các chủ thể liên quan trong chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm cho thị trường, từ đó, dẫn đến sự ra đời của các quy định pháp luật về TNSP.

Theo nghĩa hẹp, có thể hiểu, TNSP là những hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải gánh chịu theo quy định của pháp luật do đã sản xuất, cung ứng các sản phẩm có khuyết tật cho xã hội. Những hậu quả pháp lý này phụ thuộc vào quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia, nhưng thường bao gồm: (i) Trách nhiệm khắc phục khuyết tật của sản phẩm; (ii) Trách nhiệm thu hồi sản phẩm có khuyết tật; (iii) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do sản phẩm có khuyết tật gây ra. Như vậy, nếu sản phẩm có khuyết tật đã gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng (NTD) thì nhà sản xuất, kinh doanh phải chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại xảy ra. Khi đó, vấn đề phạm vi chịu trách nhiệm BTTH được quy định như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của nhà sản xuất, kinh doanh, đến việc đảm bảo sự cân bằng hợp lý về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ TNSP và cơ chế pháp lý được áp dụng để bảo vệ họ. Do đó, pháp luật về TNSP của các quốc gia luôn quy định rõ trong trường hợp sản phẩm có khuyết tật đã gây thiệt hại cho NTD thì các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những loại thiệt hại nào.

Pháp luật của các quốc gia đều quy định TNSP chỉ áp dụng đối với các thiệt hại về tài sản và thiệt hại liên quan đến sức khỏe, tính mạng NTD, chứ không áp dụng đối với thiệt hại của chính sản phẩm có khuyết tật. Tuy nhiên, có quốc gia quy định phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra trong các đạo luật về TNSP hoặc bảo vệ quyền lợi NTD, có quốc gia quy định viện dẫn đến các quy định về BTTH của Bộ luật Dân sự; có quốc gia quy định thành nguyên tắc chung, có quốc gia quy định chi tiết, cụ thể các loại thiệt hại mà người bị thiệt hại có thể yêu cầu nhà sản xuất, kinh doanh bồi thường. Ở Hoa Kỳ, các quy định về TNSP xuất hiện đầu tiên trong “Restatement of The Law Second, Torts” năm 1965 do Viện Luật Hoa Kỳ biên soạn, sau đó là “Restatement of The Law Third, Torts: Products Liability” năm 1998. Trước đó, năm 1996, nhằm đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về TNSP ở tất cả các bang, Hoa Kỳ đã thông qua Luật chung về TNSP[1]. Trong đó, theo quy định tại Điều 101(6),(8),(12), thiệt hại được bồi thường do sản phẩm có khuyết tật gây ra bao gồm: “Thiệt hại kinh tế và thiệt hại phi kinh tế”. Trong đó, “thiệt hại kinh tế” là bất kỳ tổn thất tiền bạc nào nhằm khôi phục các thiệt hại xảy ra (bao gồm tổn thất về thu nhập hoặc những phụ cấp khác liên quan đến công việc, chi phí y tế, chi phí dịch vụ thay thế, chi phí do thiệt hại tính mạng, mất cơ hội kinh doanh hoặc công việc); “thiệt hại phi kinh tế” là những tổn thất không tính được thành tiền như sự đau đớn, đau khổ, khó chịu, phiền muộn về tinh thần, tình cảm, tổn thất về uy tín, danh dự, nhân phẩm… của người bị thiệt hại. Đáng chú ý, trong trường hợp có nhiều chủ thể cùng chịu trách nhiệm, Luật quy định: “Đối với các thiệt hại phi kinh tế, trách nhiệm của mỗi bị đơn được xác định cụ thể và không có sự liên đới. Mỗi bị đơn chỉ phải chịu trách nhiệm theo phần đối với những thiệt hại phi kinh tế theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm của mình đối với những thiệt hại xảy ra cho nguyên đơn mà bị đơn phải chịu trách nhiệm” (Điều 110).

Cùng với Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu đã quan tâm đến việc điều chỉnh trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm của mình từ khá sớm, đồng thời ký kết, ban hành nhiều văn bản về vấn đề này. Trong đó, Chỉ thị 85/374/EEC về TNSP[2] là văn bản pháp luật quan trọng nhất, nó tạo ra một quan niệm, nhận thức mới về TNSP. Chỉ thị này sau đó được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Chỉ thị 1999/34/EC với những nội dung mới, tiến bộ hơn. Theo Điều 9 Chỉ thị 85/374/EEC, thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra bao gồm: “(i) Thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe; (ii) Thiệt hại về các vật phẩm, tài sản khác ngoài sản phẩm có khuyết tật, với ngưỡng thấp hơn 500 ECU[3] và tài sản đó là loại bình thường dùng cho sử dụng hoặc tiêu dùng cá nhân và được sử dụng chủ yếu bởi người bị thiệt hại vì mục đích sử dụng hoặc tiêu dùng của riêng người đó” và “Các thiệt hại này không ảnh hưởng đến quy định về thiệt hại phi vật chất (thiệt hại tinh thần) trong pháp luật của các quốc gia thành viên”.

Có thể thấy, khác với pháp luật Hoa Kỳ, phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra theo pháp luật của Liên minh châu Âu không bao gồm các thiệt hại phi vật chất. Tuy nhiên, đối với loại thiệt hại này, Chỉ thị 85/374/EEC đã xây dựng một quy định mở, từ đó tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên có thể nội luật hóa Chỉ thị phù hợp với những điểm đặc thù của mình. Do đó, khi đánh giá về Chỉ thị, đã có ý kiến cho rằng: “Các quy định của Liên minh châu Âu về TNSP được ban hành mang tính mềm dẻo, có khả năng xác định những định hướng cho các nước thành viên trong quá trình xây dựng pháp luật quốc gia mình. Chính ưu điểm này đã làm cho hệ thống pháp luật của EU trở thành một hình mẫu đáng chú ý trong việc điều chỉnh quan hệ TNSP”[4]. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 14 thì Chỉ thị 85/374/EEC: “Không áp dụng đối với các thương tích và thiệt hại phát sinh từ tai nạn hạt nhân (những trường hợp này được giải quyết theo Công ước quốc tế của các quốc gia thành viên)”. Ngoài ra, Chỉ thị còn đưa ra các quy định giới hạn về thiệt hại xảy ra, theo đó: “Chỉ áp dụng với những thiệt hại về tài sản từ 500 ECU trở lên và không quy định hạn mức cao nhất; đối với các thiệt hại về tính mạng và sức khỏe do các sản phẩm giống nhau với cùng khuyết tật gây ra, các nước thành viên có thể quy định giới hạn tổng số tiền mà nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm nhưng không được ít hơn 70 triệu ECU”. Như vậy, Chỉ thị chỉ áp dụng đối với những tài sản bị thiệt hại có giá trị từ 500 EURO trở lên, đối với những tài sản có giá trị thấp hơn thì phải thỏa mãn những điều kiện theo quy định của Chỉ thị thì mới thuộc phạm vi được bồi thường.

Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật riêng về TNSP năm 1994. Đáng chú ý, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản[5] không có quy định cụ thể về các loại thiệt hại được bồi thường do sản phẩm có khuyết tật gây ra, tuy nhiên, Điều 6 Luật này xác định: “Trong trường hợp Luật không quy định thì trách nhiệm của nhà sản xuất và các chủ thể khác về các thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra sẽ được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự”. Đây cũng là nội dung được quy định tại Điều 8 Luật Trách nhiệm sản phẩm của Hàn Quốc năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2013)[6]. Như vậy, trong hệ thống pháp luật Nhật Bản và Hàn Quốc, Luật Trách nhiệm sản phẩm đóng vai trò là luật chuyên ngành, còn Bộ luật Dân sự là luật chung khi điều chỉnh các vấn đề về TNSP. Luật Trách nhiệm sản phẩm trực tiếp điều chỉnh trách nhiệm của nhà sản xuất và các chủ thể khác đối với thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra. Trong trường hợp Luật này không quy định thì TNSP sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Bộ luật Dân sự. Do đó, các loại thiệt hại được bồi thường do sản phẩm có khuyết tật gây ra sẽ được điều chỉnh theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trong khu vực Đông Nam Á, các quy định đặc thù về TNSP mới được ban hành trong những năm gần đây. Trong đó, Philippines được coi là quốc gia đầu tiên ban hành các quy định về TNSP trong Luật về Người tiêu dùng năm 1992[7]. Tuy nhiên, cũng như Nhật Bản và Hàn Quốc, Luật này không quy định cụ thể các loại thiệt hại được bồi thường do sản phẩm có khuyết tật gây ra. Khác với các đạo luật trên thường quy định phạm vi thiệt hại được bồi thường do sản phẩm có khuyết tật gây ra bằng phương pháp liệt kê, Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999[8] lại quy định nội dung này bằng phương pháp loại trừ. Theo đó: “Các thiệt hại thuộc phạm vi phải chịu trách nhiệm do khuyết tật của sản phẩm gây ra không bao gồm: (i) Thiệt hại đối với chính sản phẩm có khuyết tật; (ii) Thiệt hại đối với bất kỳ tài sản nào tại thời điểm bị mất mát hoặc hư hỏng không phải là tài sản thường được sử dụng cho mục đích cá nhân, nghề nghiệp hoặc tiêu dùng; và dự định của người bị thiệt hại không phải cho mục đích sử dụng, nghề nghiệp hoặc tiêu dùng cá nhân của mình” (Điều 69).

Qua các quy định trên, có thể nhận thấy, bên cạnh thiệt hại về tài sản, pháp luật về TNSP của hầu hết các quốc gia chỉ quy định các thiệt hại về vật chất do sản phẩm có khuyết tật xâm hại đến tính mạng, sức khỏe người sử dụng hoặc người thứ ba, trong khi đó Luật Trách nhiệm đối với sản phẩm không an toàn Thái Lan năm 2008[9] quy định cả các thiệt hại về tinh thần. Cụ thể, Điều 11 quy định: “BTTH về tinh thần đối với người bị tổn thương về thân thể hoặc sức khỏe và trong trường hợp người đó chết thì chồng, vợ, cha mẹ hoặc người thừa kế của họ có quyền nhận BTTH về tinh thần”.

2. Thực trạng quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây ra theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị

Theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm BTTH trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD...”. Có thể thấy, tương tự như pháp luật về TNSP của các quốc gia, khu vực trên thế giới, phạm vi BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo pháp luật Việt Nam cũng bao gồm các thiệt hại liên quan đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của NTD. Vậy phạm vi này có bao gồm các thiệt hại xảy ra với chính hàng hóa có khuyết tật đó hay không, vấn đề này chưa được quy định rõ. Ngoài ra, khoản 3 Điều này quy định: “Việc BTTH được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự”. Như vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không quy định trực tiếp những thiệt hại mà NTD có thể yêu cầu chủ thể kinh doanh hàng hóa có khuyết tật phải bồi thường mà viện dẫn đến các quy định của pháp luật dân sự. Qua đó, có thể thấy, Bộ luật Dân sự được coi là đạo luật chung, còn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là luật chuyên ngành điều chỉnh các quan hệ xã hội về BTTH do hàng hóa có khuyết tật gây ra. Theo nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, nếu luật chuyên ngành có quy định thì áp dụng quy định đó, trường hợp luật chuyên ngành không có quy định thì áp dụng các quy định của luật chung. Tuy nhiên, ở đây, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng không xác định cụ thể là viện dẫn đến các quy định của Bộ luật Dân sự mà chỉ quy định chung chung là “theo quy định của pháp luật dân sự”.

Trong phần trách nhiệm dân sự, khi quy định về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, theo Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”. Trong đó, “thiệt hại về vật chất” là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; “thiệt hại về tinh thần” là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của chủ thể. Tuy nhiên, trong phần trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, để xác định thiệt hại, Bộ luật Dân sự lại quy định có bốn loại thiệt hại, đó là: Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và thiệt hại do danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm (từ Điều 589 đến Điều 592). Đối với các trường hợp thiệt hại do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm, ngoài việc bồi thường các thiệt hại tính được bằng tiền (như chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất; chi phí cho việc mai táng; chi phí hợp lý để hạn chế và khắc phục thiệt hại...), người chịu trách nhiệm còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.

Bên cạnh Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Bộ luật Dân sự, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 cũng có quy định về các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng tại Điều 60, bao gồm: Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người; thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại. Theo đó, đối với hàng hóa không bảo đảm chất lượng thì thiệt hại được bồi thường bao gồm cả giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại. Vậy, hàng hóa có khuyết tật có phải là hàng hóa không bảo đảm chất lượng và chịu sự điều chỉnh của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa hay không, vấn đề này chưa được quy định rõ.

Qua các quy định trên, có thể nhận thấy, pháp luật Việt Nam hiện hành về phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra vẫn còn những điểm hạn chế, bất cập:

(i) Các vấn đề về phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra được quy định chồng chéo, không rõ ràng, thậm chí mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa.

(ii) Mối quan hệ giữa các văn bản pháp luật liên quan đến phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra chưa được xác định cụ thể, đặc biệt là vai trò, vị trí của từng văn bản trong điều chỉnh trách nhiệm BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra.

(iii) Khi hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại cho NTD thì áp dụng Bộ luật Dân sự hay Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa để xác định các thiệt hại xảy ra, nếu áp dụng Bộ luật Dân sự thì theo các quy định về thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ hay các quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.

(iv) Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm BTTH trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, vậy thiệt hại xảy ra có bao gồm thiệt hại của chính hàng hóa có khuyết tật không; trường hợp hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại đến danh dự, uy tín, nhân phẩm NTD thì giải quyết như thế nào, có thể áp dụng Bộ luật Dân sự với tư cách là luật chung được hay không.

Trong thời gian tới, để hoàn thiện các quy định pháp luật về phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra, theo tác giả, cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Một là, cần khẩn trương tiến hành rà soát các quy định pháp luật có liên quan đến phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra để hệ thống lại, loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, cụ thể hóa các vấn đề chưa có quy định hoặc chưa được quy định rõ ràng.

Hai là, xác định các văn bản pháp luật cần quy định những nội dung liên quan đến phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra cũng như mức độ thể hiện trong từng văn bản. Trong đó, cần xác định rõ Bộ luật Dân sự là luật chung, còn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là luật chuyên ngành khi điều chỉnh tất cả các vấn đề về trách nhiệm BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra nói chung và phạm vi BTTH do sản phẩm có khuyết tật gây ra nói riêng.

Ba là, cần quy định cụ thể các thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra mà NTD có thể yêu cầu chủ thể kinh doanh phải bồi thường ngay trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong đó xác định rõ các vấn đề: Thiệt hại được bồi thường không bao gồm các thiệt hại xảy ra với chính hàng hóa có khuyết tật; thiệt hại được bồi thường là thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của NTD do hàng hóa có khuyết tật gây ra, các thiệt hại này được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự về BTTH ngoài hợp đồng.

Nguyễn Tiến Hùng

Đại học An ninh nhân dân



[1]. The Product Liability Legal Reform Act of 1996 of United States, xem tại https://www.congress.gov/bill/104th-congress/house-bill/956.

[2]. “Council Directive 85/374/EEC of 25 July 1985 on the approximation of the laws, regulations and administrative provisions of the Member States concerning liability for defective products”, Official Journal of The European Comunities, (No L 210/29), xem tại http://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/TXT/PDF/?uri= CELEX:31985L03 74&from=en.

[3]. Đơn vị tiền tệ châu Âu, từ ngày 01/01/1999 được gọi là EURO.

[4]. Lê Hồng Hạnh (2013), Chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 132-133.

[5]. The Product Liability Act (Act No.85, 1994) of Japan, xem tại http://www.consumer.go.jp/english/pla/.

[6]. The Product Liability Act of Korea (2000, 2013), xem tại http://elaw.klri.re.kr/eng_mobile/ viewer.do?hseq=294 69&type=new&key=.

[7]. The Consumer Act of The Philippines 1992 (Act No.7394), xem tại https://www.wipo.int/edocs/ lexdocs/laws/en/ph/ph060en.pdf.

[8]. Consumer Protection Act 1999 (As at 1 September 2016) of Malaysia, http://www.agc.gov.my/agcportal/ uploads/files/Publications/LOM/EN/Act%20599%20-%2029.08.2016.pdf.

[9]. The Product Liability Act B.E. 2551 (2008) of Thailand, xem tại https://aseanconsumer.org/file/post_image/Product%20Liability%20Act%202008.pdf.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: