Thứ năm 15/01/2026 06:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong kinh doanh xe ô tô và xe ô tô chở tiền - Bất cập và hạn chế

Tình trạng đáng báo động và cần xử lý thật mạnh tay đối với các trường hợp khai báo gian dối của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu xe nhằm mục đích lách thuế và tuồn ra thị trường gây thất thu cho Nhà nước

Thời gian qua, trên phạm vi cả nước có tình trạng nhiều doanh nghiệp nhập khẩu xe vừa chở hàng, vừa chở người rồi khai báo thành các xe chở chứng từ có giá để lách thuế, tuồn ra thị trường sử dụng như một xe chở người gây thất thu thuế cho Nhà nước[1], gây bất công cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong nước về các dòng xe này, làm tăng giá hàng sản xuất trong nước, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và Chính phủ về hỗ trợ sản xuất trong nước. Để xảy ra tình trạng trên, có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính và chủ yếu vẫn là những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) về xe ô tô nói chung và xe ô tô chở tiền nói riêng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập về pháp luật thuế TTĐB trong kinh doanh xe ô tô và xe ô tô chở tiền.

1. Đối với xe ô tô nói chung

Hiện nay, pháp luật thuế TTĐB với tiêu chuẩn phương tiện giao thông đường bộ (ô tô) chưa có sự thống nhất: Theo pháp luật thuế TTĐB, đối tượng chịu thuế là “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng”, trong khi Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7271:2003 về phương tiện giao thông đường bộ - ô tô phần lớn theo mục đích sử dụng (TCVN 7271:2003) không có khái niệm, không có phân loại “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng”. Bên cạnh đó, 02 đặc điểm nhận diện của “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng” quy định tại pháp luật thuế TTĐB không chỉ được mô tả tại 01 kiểu ô tô, mà còn được mô tả ở nhiều kiểu loại ô tô khác như: Ô tô Pick up cabin kép chở người và Van chở người (STT 3.1.1); ô tô tải thông dụng (STT 3.2.1); ô tô Pick up chở hàng cabin kép (STT 3.2.8); ô tô tải Van (ô tô tải thùng kín có khoang chở hàng liền khối với khoang người ngồi - STT 3.2.9) và xe chở hàng loại khác (STT 3.2.11 ứng với xe chở tiền) của TCVN 7271:2003.

Các loại ô tô này theo TCVN 7271:2003 có mục đích sử dụng chính hoàn toàn khác nhau, xe chở người là chính (STT 3.1: Ô tô chở người) và xe chở hàng là chính (STT 3.2: Ô tô tải), nhưng theo mô tả của pháp luật thuế TTĐB, chúng đều có chung các đặc tính (có 02 hàng ghế, có vách ngăn và đặc biệt, xe nào cũng đồng thời chở cả người và cả hàng chỉ khác tỷ lệ tải hàng/tải người khác nhau, tải người tính bằng số chỗ nhân với 65 kg, tải hàng do nhà sản xuất thiết kế quy định). Vì vậy, muốn phân loại theo mục đích vừa chở người, vừa chở hàng (một loại ô tô nằm giữa ô tô chở người 3.1 và ô tô chở hàng 3.2) thì bắt buộc phải dựa vào tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng và những khái niệm hiện có trong TCVN 7271:2003 để phân biệt. Ví dụ, có thể định nghĩa trong các quy định của thuế như sau: “Ô tô vừa chở người, vừa chở hàng là loại ô tô chở người hoặc ô tô tải có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng, có tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng nằm trong giới hạn từ 1,25 -1,8 theo tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định”. Nếu các văn bản quy phạm pháp luật về thuế có quy định rõ ràng như ví dụ trên thì các khái niệm trong các quy định của ngành, nghề khác vẫn giữ nguyên và giải quyết được vấn đề mâu thuẫn, dễ gây nhầm lẫn như phân tích ở trên.

Ngoài ra, quy định khấu trừ, hoàn trả thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng sinh học đang giải quyết cho một mặt hàng riêng lẻ mà không phản ánh hết các trường hợp khác có cùng bản chất như xăng sinh học, trong đó liên quan đến xe ô tô chung, các trường hợp doanh nghiệp sử dụng nguyên vật liệu đầu vào chịu thuế suất thuế TTĐB ở mức cao để sản xuất ra sản phẩm chịu thuế TTĐB ở mức thuế suất thấp hơn. Ví dụ như, các xe ô tô cứu thương được hoán cải, sản xuất từ xe 9 - 16 chỗ ngồi; xe ô tô chở tiền được hoán cải, sản xuất từ xe ô tô chở người dưới 9 chỗ ngồi... Thực tế, trên thế giới, không có hãng xe nào xây dựng dây chuyền chuyên sản xuất về xe chở tiền, xe cứu thương… mà chủ yếu hoán cải trên nền xe cơ sở là các xe chở người.

2. Đối với dòng xe ô tô chở tiền

2.1. Những nội dung cơ bản về xe ô tô chở tiền

Theo TCVN 7271:2003, ô tô chở tiền thuộc danh mục 3.2.11: Ô tô chở hàng khác (ô tô có kết cấu và trang bị chủ yếu dùng để chở hàng). Sở dĩ, có sự phân loại này là bởi vì ban đầu xe chở tiền chủ yếu được sản xuất trên khung xe cơ sở là xe tải thông dụng. Đối tượng sử dụng chính là Ngân hàng nhà nước Việt Nam, có nhu cầu chuyên chở số lượng tiền mặt lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, theo nhu cầu thị trường, sau này xe chở tiền được sản xuất từ 03 loại xe cơ sở khác nhau như mô tả dưới đây:

- Xe ô tô chở tiền hay xe ô tô thiết kế chở tiền là loại xe ô tô được lắp đặt thêm két sắt và một số thiết bị báo động, báo cháy theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các loại xe cơ sở để sản xuất xe chở tiền ở Việt Nam hiện nay gồm 03 loại: (i) Xe ô tô tải; (ii) Xe ô tô Pick up chở hàng và Van chở hàng (xe vừa chở người vừa chở hàng hay gọi là xe bán tải); (iii) Xe ô tô con loại dưới 09 chỗ (xe con).

- Xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô tải và xe bán tải chở được nhiều hàng hóa hơn (tải trọng và khoang chở hàng lớn) có giá thành rẻ hơn nên mục đích sử dụng chính là chở tiền, chứng từ, tài sản có giá trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Xe này có tải trọng lớn (trên 600 kg) và chở tiền (coi như một loại hàng) là chính.

- Xe chở tiền sản xuất từ xe con dưới 09 chỗ (thường là loại SUV 07 chỗ) bằng cách tháo 02 hàng ghế cuối kết hợp cốp sau xe tạo khoang chở hàng, làm thêm vách ngăn giữa khoang lái và khoang chở hàng, đặt thêm két tiền kích thước nhỏ vào khoang chở hàng. Xe này có tải trọng rất thấp (dưới 300kg) và chở người là chính.

- Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con chiếm số lượng lớn và được sử dụng chính trong hệ thống ngân hàng thương mại, xe chở tiền trên nền xe tải và xe bán tải chiếm số lượng nhỏ hơn được Ngân hàng nhà nước sử dụng là chính.

2.2. Về việc phân loại xe chở tiền

Đối chiếu tiêu chuẩn và quy định của pháp luật thì:

Thứ nhất, xe chở tiền không phải là ô tô chuyên dụng vì nó không được xếp loại vào mục 3 của TCVN 7271:2003 và không phù hợp định nghĩa xe chuyên dùng tại Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Cho đến nay, Bộ Tài chính chưa có bất cứ hướng dẫn nào xếp xe chở tiền là xe chuyên dụng không phải chịu thuế TTĐB mà chỉ có Công văn số 65/BTC-CST ngày 03/01/2013 của Bộ Tài chính về chính sách thuế đối với xe thiết kế chở tiền nhập khẩu (Công văn số 65/BTC-CST) hướng dẫn xe chở tiền vẫn thuộc loại chịu thuế TTĐB, nên nó không phải là loại hàng hóa không chịu thuế theo quy định của khoản 4 Điều 3 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022 (Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt). Vì theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (Nghị định số 108/2015/NĐ-CP): “Đối với xe ô tô quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt là các loại xe theo thiết kế của nhà sản xuất được sử dụng làm xe cứu thương, xe chở phạm nhân, xe tang lễ; xe thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông và các loại xe chuyên dụng, xe không đăng ký lưu hành, không tham gia giao thông do Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan quy định cụ thể”.

Thứ hai, đối với xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô tải, xe ô tô Pick up và ô tô Van, thì các cơ quan tài chính và kỹ thuật đều thống nhất phân loại là xe chở hàng hoặc vừa chở người và chở hàng từ trước đến nay mà không có sự thay đổi.

Thứ ba, riêng đối với xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô con thì có sự thay đổi về việc phân loại (tương đối rõ ở quy định về kỹ thuật), cụ thể như sau:

- Trước thời điểm ngày 08/11/2010, khi chưa sửa đổi TCVN 7271:2003 thì xe con chở tiền được phân loại là xe Van chở hàng hoặc xe chở hàng loại khác (nó có hình dạng, cấu tạo của van chở hàng khi đó không xét yêu cầu về tải trọng và diện tích khoang chở hàng).

- Từ sau thời điểm ngày 08/11/2010, sau khi có Quyết định số 2431/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố sửa đổi Tiêu chuẩn quốc gia thì xe con chở tiền được hiểu như sau:

+ Theo quy định về kỹ thuật, thì từ ngày 08/11/2010 cho đến nay, xe con chở tiền không đạt các tiêu chí về tải trọng nên nó phải quay về phân loại là xe chở người.

+ Theo quy định về thuế, thì trước ngày 01/01/2016 (là ngày Nghị định số 108/2015/NĐ-CP có hiệu lực) không dẫn chiếu đến quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ về tải trọng và diện tích khoang chở hàng của xe con chở tiền thì theo hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST xe con chở tiền là xe vừa chở người, vừa chở hàng.

+ Sau ngày 01/01/2016, tất cả cách phân loại xe (kể cả theo cách hiểu để tính thuế) được dẫn chiếu về quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành thì xe con chở tiền không đạt tiêu chuẩn tải trọng, có kết cấu trang bị chở người là chính sẽ là loại xe con chở người dưới 09 chỗ.

+ Việc nhận định xe chở tiền sản xuất trên nền xe con là xe chở người còn được các cơ quan khác xác định như sau: Cơ quan đăng kiểm khi cấp chứng nhận kiểm định, không quy định niên hạn sử dụng đối với các xe này (xe tải, xe Pick up, xe Van chở hàng có niên hạn sử dụng). Cơ quan công an khi cấp biển kiểm soát cho xe con chở tiền cũng là xe chở người (biển số xe tải và bán tải sau mã số định danh tỉnh bắt đầu bằng các chữ cái C và D, xe con chở tiền không mang biển C và D).

2.3. Thực tế việc kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế trước bạ với các loại xe chở tiền nhập khẩu hiện nay

- Trước thời điểm có hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST, việc kê khai và nộp thuế TTĐB đối với xe chở tiền (chủ yếu là loại sản xuất từ xe con) không thống nhất, cơ bản là các nhà nhập khẩu kê khai và nộp thuế ở mức 0%.

- Sau thời điểm ngày 03/01/2013, khi có hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST, việc kê khai nộp thuế đối với các loại xe chở tiền sản xuất trên nền xe con và xe bán tải (Pick up và Van) là 15% (áp dụng cho xe vừa chở người vừa chở hàng có mức thuế suất quy định tại Biểu thuế TTĐB - Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt), xe chở tiền sản xuất trên nền xe tải là 0%.

- Khi kê khai lệ phí trước bạ đối với xe ô tô chở tiền, thực tế cho thấy, có địa phương tính là xe chở người, có địa phương tính là xe tải và có địa phương tính là xe bán tải. Tức là, cơ quan thuế địa phương cũng lúng túng khi xác định xe ô tô chở tiền thuộc loại xe nào.

2.4. Bất hợp lý của thực tế kê khai và nộp thuế hiện nay

Thứ nhất, kể từ ngày 01/01/2016 - ngày Nghị định số 108/2015/NĐ-CP có hiệu lực, thì các xe vừa chở người, vừa chở hàng muốn được hưởng mức thuế xuất dòng 4d, 4g phải thỏa mãn tiêu chuẩn quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, cụ thể là TCVN 7271:2003 được sửa bởi Quyết định số 2431/QĐ-BKHCN ngày 8/11/2010 của Bộ Khoa học và công nghệ về việc công bố sửa đổi Tiêu chuẩn quốc gia. Do đó, kể từ ngày 01/01/2016, việc kê khai và nộp thuế là:

(i) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe bán tải (Pick up, Van) thỏa mãn quy định này nên sẽ được kê khai và nộp thuế với mức thuế suất quy định tại điểm 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

(ii) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con không thỏa mãn quy định (tải trọng và diện tích khoang chở hàng nhỏ hơn tiêu chuẩn) sẽ không được kê khai và nộp thuế với mức thuế suất quy định tại điểm 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt mà phải quay về nộp thuế theo thuế suất tại điểm 4a Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Thứ hai, việc đánh đồng 02 loại xe trên vào một loại vừa chở người, vừa chở hàng để nộp thuế ở mức thuế suất điểm 4d Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng như sau:

(i) Làm giảm hiệu lực pháp lý, tính nhất quán, công bằng của các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng một loại hàng hóa xe chở tiền sản xuất trên nền xe con, có đơn vị nhập khẩu tự đối chiếu tính năng của hàng hóa với TCVN 7271:2003, phân loại đúng và tuân thủ pháp luật khi khai báo thuế thì áp dụng thuế suất điểm 4a Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, có những đơn vị hiểu sai hoặc cố tình không đối chiếu, cố tình khai báo thuế ở mức thuế suất thấp là điểm 4d Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, thậm chí là kê khai dạng xe tải chở hàng loại khác để trốn hoàn toàn thuế TTĐB đã dẫn đến việc áp dụng, tuân thủ luật pháp không nhất quán, tùy tiện làm giảm hiệu lực, hiệu quả pháp luật, gây mất công bằng giữa các doanh nghiệp nhập khẩu, tạo kẽ hở cho các hành vi trốn thuế.

(ii) Với việc nộp thuế xe chở tiền sản xuất trên nền xe con và xe bán tải (Pick up và Van) như nhau, dẫn đến người sản xuất và người tiêu dùng ưu tiên sử dụng xe con (hàng xa xỉ, có nhiều chức năng để chở người) để sản xuất xe chở tiền thay vì dùng xe bán tải (thiết thực và phù hợp chức năng chở hàng). Hơn nữa, vì phải nộp thuế TTĐB thấp nên giá thành xe con chở tiền thấp hơn xe con thông thường, trong khi xe chở tiền loại này có mẫu mã, tiện nghi không khác gì xe con chở người nên người sử dụng lạm dụng xe chở tiền vào các mục đích không phải là chở tiền (hàng) mà chở người là chính, đây cũng là một hình thức lãng phí nguồn lực xã hội. Khi áp dụng đúng thuế TTĐB xe chở tiền sản xuất trên nền xe con thì giá loại xe này tăng cao, người sản xuất và người sử dụng sẽ quay về sử dụng xe chở tiền sản xuất trên nền xe bán tải, khi đó xe chở tiền mới được sử dụng đúng thực chất công năng và không lãng phí nguồn lực xã hội. Mặc dù, xe chở tiền là để phục vụ sản xuất ô tô con và xăng cũng dùng để phục vụ sản xuất nhưng vẫn phải đánh thuế TTĐB để mọi thành phần kinh tế, mọi đơn vị sản xuất, kinh doanh (không chỉ hướng đến một đối tượng duy nhất là cá nhân tiêu dùng) phải tiết chế việc sử dụng các mặt hàng này khi không thực sự cần thiết và ưu tiên sử dụng các mặt hàng khác có cùng công năng nhưng không chịu thuế hoặc ở mức thuế suất thấp hơn.

(iii) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con có số lượng tiêu thụ hàng năm tương đối lớn (khoảng 1.000 xe/năm). Trước đây, đối tượng sử dụng chủ yếu là hệ thống ngân hàng do Nhà nước là chủ sở hữu, thuế TTĐB với xe chở tiền không có ý nghĩa nhiều trong việc thu ngân sách. Nhưng hiện nay, đối tượng sử dụng phần lớn là ngân hàng cổ phần thương mại, tổ chức tín dụng thuộc đủ mọi thành phần kinh tế, các đối tượng này là những đơn vị kinh doanh có lãi, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thuế và đóng góp cho xã hội. Chênh lệch giữa hai dòng thuế suất là khá lớn (30 - 45%), nếu kê khai và nộp đúng sẽ giúp hệ thống ngân hàng đóng góp thêm nguồn lực cho xã hội, giúp Nhà nước thu đúng, thu đủ ngân sách và sử dụng ngân sách để hỗ trợ những thành phần yếu thế hơn trong xã hội, đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh tăng cao, nguồn thu ngân sách giảm, quá nhiều ngành nghề khác cần hỗ trợ. Nếu kê khai, nộp thuế sai, Nhà nước bị thất thu thuế, thậm chí nguồn tiền này chảy vào túi các nhà nhập khẩu hoặc các nhà sản xuất nước ngoài không giúp gì cho phát triển kinh tế đất nước.

(iv) Nếu việc kê khai, nộp thuế không đúng tồn tại như một tiền lệ xấu sẽ tạo kẽ hở để các đơn vị nhập khẩu đặt hàng sản xuất các loại xe vừa chở hàng, vừa chở người khác có kết cấu tương tự (có 05 chỗ ngồi, có vách ngăn khoang chở người và chở hàng nhưng không đạt chuẩn do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định, cụ thể là, diện tích và tải trọng rất nhỏ, chỉ để làm hình thức) rồi khai báo thành các xe chở chứng từ có giá (chứng chỉ góp vốn, giấy tờ nhà đất..), chở vàng, bạc, kim cương, chở thư tín, chở điện thoại di động đắt tiền… để lách thuế, tuồn ra thị trường đủ mọi thành phần kinh tế sử dụng như một xe chở người. Theo lẽ công bằng, ngân hàng là một ngành nghề kinh doanh như các ngành nghề kinh doanh khác nhưng họ cũng có nhu cầu chuyển chở các hàng hóa, chứng từ có giá trị cao, ngân hàng có quyền có xe ô tô chở hàng loại khác (ô tô chở tiền) thì các ngành nghề khác cũng có quyền có xe chở hàng loại khác theo đặc thù hàng hóa của họ (vàng bạc, đá quý, ấn chỉ in sẵn, thư tín, điện thoại di động) và chịu mức thuế TTĐB như xe chở tiền. Khi đó, Nhà nước có nguy cơ bị thất thu thuế và việc điều tiết sử dụng hàng hóa đắt tiền, xa xỉ, không cần thiết sẽ không có hiệu quả trên diện rộng.

(v) Gây bất công giữa đơn vị sản xuất hàng hóa trong nước với đơn vị kinh doanh hàng nhập khẩu, trợ giá cho hàng nhập khẩu và làm tăng giá hàng sản xuất trong nước, đi ngược với chủ trương hỗ trợ sản xuất trong nước của Chính phủ. Xe chở tiền sản xuất trong nước sử dụng xe thương mại (nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước) là nguyên liệu đầu vào là xe ô tô con để sản xuất xe chở tiền, mà xe ô tô con đã nộp thuế TTĐB ở mức cao (50 - 60%). Hiện nay, chưa có cơ chế hoàn thuế TTĐB nên phải tính vào giá thành sản xuất, kết quả là xe trong nước có giá sản xuất cao hơn nhập khẩu vì phải chịu thuế cao hơn. Trong khi xe nhập khẩu chỉ kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với xe vừa chở người vừa chở hàng ở mức thấp (15% - 25%). Vì vậy, cho đến nay, xe con chở tiền chỉ có xe nhập khẩu là chính, xe chở tiền sản xuất trong nước đã có nhưng chủ yếu sản xuất trên nền xe tải và bán tải (Pick up và Van). Lợi dụng kẽ hở pháp luật này, các nhà sản xuất mở xưởng đóng xe chở tiền trên nền xe con ở nước ngoài rồi nhập khẩu về Việt Nam, vừa mang công ăn việc làm, lợi nhuận ra nước ngoài vừa không đáp ứng được nhu cầu kịp thời, nhỏ lẻ của người sử dụng (vì hàng nhập khẩu phải đặt hàng với số lượng đủ lớn và thời gian tối thiểu 06 tháng). Trên thực tế, không có xe chở tiền nhập khẩu đóng trên nền xe tải và bán tải (Pick up và Van) mà chỉ có xe chở tiền nhập khẩu đóng trên xe con, điều này càng chứng tỏ sự không rõ ràng của chính sách thuế đã bị lợi dụng, doanh nghiệp trong nước đủ sức sản xuất xe chở tiền nhưng buộc phải làm những phân khúc rẻ tiền, nhường phân khúc đắt tiền, số lượng lớn cho hàng ngoại nhập.

3. Đề xuất giải pháp khắc phục

Để luật pháp được áp dụng nhất quán cho cùng một đối tượng và trên mọi lĩnh vực (kỹ thuật, tài chính), giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước hiểu đúng và áp dụng đúng pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng quy định pháp luật không rõ, dẫn đến tình trạng thất thu ngân sách nhà nước, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hàng nhập khẩu mà “bóp nghẹt” hàng sản xuất trong nước, nhất là trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế xã hội hiện nay, tác giả có một số kiến nghị và đề xuất như sau:

Một là, Bộ Khoa học và Công nghệ cần có văn bản hướng dẫn phân loại cụ thể các xe chở tiền hoặc chở các mặt hàng chuyên dụng khác (vàng bạc, thư tín…) được sản xuất, hoán cải trên nền 03 loại xe: (i) Xe con chở người (3.1.1 TCVN 7271:2003); (ii) Xe Pick up và Van chở hàng (3.2.7, 3.2.8 và 3.2.9 TCVN 7271:2003); (iii) Xe tải thông dụng (3.2.1 TCVN7271:2003) tương ứng là 03 loại xe: Van chở người (3.1.1 TCVN); xe Pick up và Van chở hàng (3.2.7, 3.2.8 và 3.2.9 TCVN 7271:2003); xe chở hàng khác (3.2.11 TCVN7271:2003).

Hai là, Bộ Tài chính cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về xe vừa chở người vừa chở hàng quy định trong Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt là “loại ô tô chở người hoặc ô tô tải có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng, có tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng nằm trong giới hạn từ 1,25 - 1,8 theo tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định”. Có văn bản hướng dẫn việc khấu trừ, hoàn thuế TTĐB đối với các loại hàng hóa mà có hàng hóa đầu vào chịu thuế suất TTĐB cao hơn thuế xuất đầu ra, tương tự như cơ chế khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng hiện nay.

Ba là, Tổng cục Hải quan hướng dẫn các đơn vị nhập khẩu nghiêm túc tự đối chiếu đặc tính kỹ thuật của xe nhập khẩu với Tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành để xác định loại xe của mình có đủ điều kiện được nộp thuế theo quy định mục 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt hay không? Đối với những loại xe khai báo và nộp thuế theo mục 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt cần tăng cường hậu kiểm, tập trung kiểm tra tải trọng và diện tích khoang chở hàng có đạt tiêu chuẩn không? Xử lý nghiêm minh và công khai những đối tượng gian lận cố tình nhập về các loại xe vừa chở người, vừa chở hàng trá hình (chở người là chính, chở hàng chỉ là hình thức) nộp thuế ở mức thấp nhưng tiêu thụ, sử dụng là xe con chở người để nộp thuế suất thấp gây thất thu ngân sách và cạnh tranh không lành mạnh, “chặn đường” sản xuất trong nước.

TS. Trần Minh Sơn
Trưởng Văn phòng Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành, Ban Quản lý Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025, Bộ Tư pháp
Nguyễn Thanh Hải
Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp



[1]. https://vneconomy.vn/bien-xe-sang-thanh-xe-cho-tien-de-tron-thue.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: