Thứ tư 04/03/2026 10:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt trong kinh doanh xe ô tô và xe ô tô chở tiền - Bất cập và hạn chế

Tình trạng đáng báo động và cần xử lý thật mạnh tay đối với các trường hợp khai báo gian dối của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu xe nhằm mục đích lách thuế và tuồn ra thị trường gây thất thu cho Nhà nước

Thời gian qua, trên phạm vi cả nước có tình trạng nhiều doanh nghiệp nhập khẩu xe vừa chở hàng, vừa chở người rồi khai báo thành các xe chở chứng từ có giá để lách thuế, tuồn ra thị trường sử dụng như một xe chở người gây thất thu thuế cho Nhà nước[1], gây bất công cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong nước về các dòng xe này, làm tăng giá hàng sản xuất trong nước, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và Chính phủ về hỗ trợ sản xuất trong nước. Để xảy ra tình trạng trên, có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính và chủ yếu vẫn là những vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) về xe ô tô nói chung và xe ô tô chở tiền nói riêng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên một số vướng mắc, bất cập về pháp luật thuế TTĐB trong kinh doanh xe ô tô và xe ô tô chở tiền.

1. Đối với xe ô tô nói chung

Hiện nay, pháp luật thuế TTĐB với tiêu chuẩn phương tiện giao thông đường bộ (ô tô) chưa có sự thống nhất: Theo pháp luật thuế TTĐB, đối tượng chịu thuế là “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng”, trong khi Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7271:2003 về phương tiện giao thông đường bộ - ô tô phần lớn theo mục đích sử dụng (TCVN 7271:2003) không có khái niệm, không có phân loại “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng”. Bên cạnh đó, 02 đặc điểm nhận diện của “xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng” quy định tại pháp luật thuế TTĐB không chỉ được mô tả tại 01 kiểu ô tô, mà còn được mô tả ở nhiều kiểu loại ô tô khác như: Ô tô Pick up cabin kép chở người và Van chở người (STT 3.1.1); ô tô tải thông dụng (STT 3.2.1); ô tô Pick up chở hàng cabin kép (STT 3.2.8); ô tô tải Van (ô tô tải thùng kín có khoang chở hàng liền khối với khoang người ngồi - STT 3.2.9) và xe chở hàng loại khác (STT 3.2.11 ứng với xe chở tiền) của TCVN 7271:2003.

Các loại ô tô này theo TCVN 7271:2003 có mục đích sử dụng chính hoàn toàn khác nhau, xe chở người là chính (STT 3.1: Ô tô chở người) và xe chở hàng là chính (STT 3.2: Ô tô tải), nhưng theo mô tả của pháp luật thuế TTĐB, chúng đều có chung các đặc tính (có 02 hàng ghế, có vách ngăn và đặc biệt, xe nào cũng đồng thời chở cả người và cả hàng chỉ khác tỷ lệ tải hàng/tải người khác nhau, tải người tính bằng số chỗ nhân với 65 kg, tải hàng do nhà sản xuất thiết kế quy định). Vì vậy, muốn phân loại theo mục đích vừa chở người, vừa chở hàng (một loại ô tô nằm giữa ô tô chở người 3.1 và ô tô chở hàng 3.2) thì bắt buộc phải dựa vào tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng và những khái niệm hiện có trong TCVN 7271:2003 để phân biệt. Ví dụ, có thể định nghĩa trong các quy định của thuế như sau: “Ô tô vừa chở người, vừa chở hàng là loại ô tô chở người hoặc ô tô tải có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng, có tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng nằm trong giới hạn từ 1,25 -1,8 theo tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định”. Nếu các văn bản quy phạm pháp luật về thuế có quy định rõ ràng như ví dụ trên thì các khái niệm trong các quy định của ngành, nghề khác vẫn giữ nguyên và giải quyết được vấn đề mâu thuẫn, dễ gây nhầm lẫn như phân tích ở trên.

Ngoài ra, quy định khấu trừ, hoàn trả thuế TTĐB đối với mặt hàng xăng sinh học đang giải quyết cho một mặt hàng riêng lẻ mà không phản ánh hết các trường hợp khác có cùng bản chất như xăng sinh học, trong đó liên quan đến xe ô tô chung, các trường hợp doanh nghiệp sử dụng nguyên vật liệu đầu vào chịu thuế suất thuế TTĐB ở mức cao để sản xuất ra sản phẩm chịu thuế TTĐB ở mức thuế suất thấp hơn. Ví dụ như, các xe ô tô cứu thương được hoán cải, sản xuất từ xe 9 - 16 chỗ ngồi; xe ô tô chở tiền được hoán cải, sản xuất từ xe ô tô chở người dưới 9 chỗ ngồi... Thực tế, trên thế giới, không có hãng xe nào xây dựng dây chuyền chuyên sản xuất về xe chở tiền, xe cứu thương… mà chủ yếu hoán cải trên nền xe cơ sở là các xe chở người.

2. Đối với dòng xe ô tô chở tiền

2.1. Những nội dung cơ bản về xe ô tô chở tiền

Theo TCVN 7271:2003, ô tô chở tiền thuộc danh mục 3.2.11: Ô tô chở hàng khác (ô tô có kết cấu và trang bị chủ yếu dùng để chở hàng). Sở dĩ, có sự phân loại này là bởi vì ban đầu xe chở tiền chủ yếu được sản xuất trên khung xe cơ sở là xe tải thông dụng. Đối tượng sử dụng chính là Ngân hàng nhà nước Việt Nam, có nhu cầu chuyên chở số lượng tiền mặt lớn. Tuy nhiên, trên thực tế, theo nhu cầu thị trường, sau này xe chở tiền được sản xuất từ 03 loại xe cơ sở khác nhau như mô tả dưới đây:

- Xe ô tô chở tiền hay xe ô tô thiết kế chở tiền là loại xe ô tô được lắp đặt thêm két sắt và một số thiết bị báo động, báo cháy theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các loại xe cơ sở để sản xuất xe chở tiền ở Việt Nam hiện nay gồm 03 loại: (i) Xe ô tô tải; (ii) Xe ô tô Pick up chở hàng và Van chở hàng (xe vừa chở người vừa chở hàng hay gọi là xe bán tải); (iii) Xe ô tô con loại dưới 09 chỗ (xe con).

- Xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô tải và xe bán tải chở được nhiều hàng hóa hơn (tải trọng và khoang chở hàng lớn) có giá thành rẻ hơn nên mục đích sử dụng chính là chở tiền, chứng từ, tài sản có giá trong hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Xe này có tải trọng lớn (trên 600 kg) và chở tiền (coi như một loại hàng) là chính.

- Xe chở tiền sản xuất từ xe con dưới 09 chỗ (thường là loại SUV 07 chỗ) bằng cách tháo 02 hàng ghế cuối kết hợp cốp sau xe tạo khoang chở hàng, làm thêm vách ngăn giữa khoang lái và khoang chở hàng, đặt thêm két tiền kích thước nhỏ vào khoang chở hàng. Xe này có tải trọng rất thấp (dưới 300kg) và chở người là chính.

- Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con chiếm số lượng lớn và được sử dụng chính trong hệ thống ngân hàng thương mại, xe chở tiền trên nền xe tải và xe bán tải chiếm số lượng nhỏ hơn được Ngân hàng nhà nước sử dụng là chính.

2.2. Về việc phân loại xe chở tiền

Đối chiếu tiêu chuẩn và quy định của pháp luật thì:

Thứ nhất, xe chở tiền không phải là ô tô chuyên dụng vì nó không được xếp loại vào mục 3 của TCVN 7271:2003 và không phù hợp định nghĩa xe chuyên dùng tại Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Cho đến nay, Bộ Tài chính chưa có bất cứ hướng dẫn nào xếp xe chở tiền là xe chuyên dụng không phải chịu thuế TTĐB mà chỉ có Công văn số 65/BTC-CST ngày 03/01/2013 của Bộ Tài chính về chính sách thuế đối với xe thiết kế chở tiền nhập khẩu (Công văn số 65/BTC-CST) hướng dẫn xe chở tiền vẫn thuộc loại chịu thuế TTĐB, nên nó không phải là loại hàng hóa không chịu thuế theo quy định của khoản 4 Điều 3 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022 (Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt). Vì theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 108/2015/NĐ-CP ngày 28/10/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (Nghị định số 108/2015/NĐ-CP): “Đối với xe ô tô quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt là các loại xe theo thiết kế của nhà sản xuất được sử dụng làm xe cứu thương, xe chở phạm nhân, xe tang lễ; xe thiết kế vừa có chỗ ngồi, vừa có chỗ đứng chở được từ 24 người trở lên; xe ô tô chạy trong khu vui chơi, giải trí, thể thao không đăng ký lưu hành và không tham gia giao thông và các loại xe chuyên dụng, xe không đăng ký lưu hành, không tham gia giao thông do Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan quy định cụ thể”.

Thứ hai, đối với xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô tải, xe ô tô Pick up và ô tô Van, thì các cơ quan tài chính và kỹ thuật đều thống nhất phân loại là xe chở hàng hoặc vừa chở người và chở hàng từ trước đến nay mà không có sự thay đổi.

Thứ ba, riêng đối với xe chở tiền sản xuất từ xe ô tô con thì có sự thay đổi về việc phân loại (tương đối rõ ở quy định về kỹ thuật), cụ thể như sau:

- Trước thời điểm ngày 08/11/2010, khi chưa sửa đổi TCVN 7271:2003 thì xe con chở tiền được phân loại là xe Van chở hàng hoặc xe chở hàng loại khác (nó có hình dạng, cấu tạo của van chở hàng khi đó không xét yêu cầu về tải trọng và diện tích khoang chở hàng).

- Từ sau thời điểm ngày 08/11/2010, sau khi có Quyết định số 2431/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc công bố sửa đổi Tiêu chuẩn quốc gia thì xe con chở tiền được hiểu như sau:

+ Theo quy định về kỹ thuật, thì từ ngày 08/11/2010 cho đến nay, xe con chở tiền không đạt các tiêu chí về tải trọng nên nó phải quay về phân loại là xe chở người.

+ Theo quy định về thuế, thì trước ngày 01/01/2016 (là ngày Nghị định số 108/2015/NĐ-CP có hiệu lực) không dẫn chiếu đến quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ về tải trọng và diện tích khoang chở hàng của xe con chở tiền thì theo hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST xe con chở tiền là xe vừa chở người, vừa chở hàng.

+ Sau ngày 01/01/2016, tất cả cách phân loại xe (kể cả theo cách hiểu để tính thuế) được dẫn chiếu về quy định của Tiêu chuẩn Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành thì xe con chở tiền không đạt tiêu chuẩn tải trọng, có kết cấu trang bị chở người là chính sẽ là loại xe con chở người dưới 09 chỗ.

+ Việc nhận định xe chở tiền sản xuất trên nền xe con là xe chở người còn được các cơ quan khác xác định như sau: Cơ quan đăng kiểm khi cấp chứng nhận kiểm định, không quy định niên hạn sử dụng đối với các xe này (xe tải, xe Pick up, xe Van chở hàng có niên hạn sử dụng). Cơ quan công an khi cấp biển kiểm soát cho xe con chở tiền cũng là xe chở người (biển số xe tải và bán tải sau mã số định danh tỉnh bắt đầu bằng các chữ cái C và D, xe con chở tiền không mang biển C và D).

2.3. Thực tế việc kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế trước bạ với các loại xe chở tiền nhập khẩu hiện nay

- Trước thời điểm có hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST, việc kê khai và nộp thuế TTĐB đối với xe chở tiền (chủ yếu là loại sản xuất từ xe con) không thống nhất, cơ bản là các nhà nhập khẩu kê khai và nộp thuế ở mức 0%.

- Sau thời điểm ngày 03/01/2013, khi có hướng dẫn của Công văn số 65/BTC-CST, việc kê khai nộp thuế đối với các loại xe chở tiền sản xuất trên nền xe con và xe bán tải (Pick up và Van) là 15% (áp dụng cho xe vừa chở người vừa chở hàng có mức thuế suất quy định tại Biểu thuế TTĐB - Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt), xe chở tiền sản xuất trên nền xe tải là 0%.

- Khi kê khai lệ phí trước bạ đối với xe ô tô chở tiền, thực tế cho thấy, có địa phương tính là xe chở người, có địa phương tính là xe tải và có địa phương tính là xe bán tải. Tức là, cơ quan thuế địa phương cũng lúng túng khi xác định xe ô tô chở tiền thuộc loại xe nào.

2.4. Bất hợp lý của thực tế kê khai và nộp thuế hiện nay

Thứ nhất, kể từ ngày 01/01/2016 - ngày Nghị định số 108/2015/NĐ-CP có hiệu lực, thì các xe vừa chở người, vừa chở hàng muốn được hưởng mức thuế xuất dòng 4d, 4g phải thỏa mãn tiêu chuẩn quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ, cụ thể là TCVN 7271:2003 được sửa bởi Quyết định số 2431/QĐ-BKHCN ngày 8/11/2010 của Bộ Khoa học và công nghệ về việc công bố sửa đổi Tiêu chuẩn quốc gia. Do đó, kể từ ngày 01/01/2016, việc kê khai và nộp thuế là:

(i) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe bán tải (Pick up, Van) thỏa mãn quy định này nên sẽ được kê khai và nộp thuế với mức thuế suất quy định tại điểm 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

(ii) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con không thỏa mãn quy định (tải trọng và diện tích khoang chở hàng nhỏ hơn tiêu chuẩn) sẽ không được kê khai và nộp thuế với mức thuế suất quy định tại điểm 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt mà phải quay về nộp thuế theo thuế suất tại điểm 4a Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Thứ hai, việc đánh đồng 02 loại xe trên vào một loại vừa chở người, vừa chở hàng để nộp thuế ở mức thuế suất điểm 4d Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ gây ra những hệ lụy nghiêm trọng như sau:

(i) Làm giảm hiệu lực pháp lý, tính nhất quán, công bằng của các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng một loại hàng hóa xe chở tiền sản xuất trên nền xe con, có đơn vị nhập khẩu tự đối chiếu tính năng của hàng hóa với TCVN 7271:2003, phân loại đúng và tuân thủ pháp luật khi khai báo thuế thì áp dụng thuế suất điểm 4a Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, có những đơn vị hiểu sai hoặc cố tình không đối chiếu, cố tình khai báo thuế ở mức thuế suất thấp là điểm 4d Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, thậm chí là kê khai dạng xe tải chở hàng loại khác để trốn hoàn toàn thuế TTĐB đã dẫn đến việc áp dụng, tuân thủ luật pháp không nhất quán, tùy tiện làm giảm hiệu lực, hiệu quả pháp luật, gây mất công bằng giữa các doanh nghiệp nhập khẩu, tạo kẽ hở cho các hành vi trốn thuế.

(ii) Với việc nộp thuế xe chở tiền sản xuất trên nền xe con và xe bán tải (Pick up và Van) như nhau, dẫn đến người sản xuất và người tiêu dùng ưu tiên sử dụng xe con (hàng xa xỉ, có nhiều chức năng để chở người) để sản xuất xe chở tiền thay vì dùng xe bán tải (thiết thực và phù hợp chức năng chở hàng). Hơn nữa, vì phải nộp thuế TTĐB thấp nên giá thành xe con chở tiền thấp hơn xe con thông thường, trong khi xe chở tiền loại này có mẫu mã, tiện nghi không khác gì xe con chở người nên người sử dụng lạm dụng xe chở tiền vào các mục đích không phải là chở tiền (hàng) mà chở người là chính, đây cũng là một hình thức lãng phí nguồn lực xã hội. Khi áp dụng đúng thuế TTĐB xe chở tiền sản xuất trên nền xe con thì giá loại xe này tăng cao, người sản xuất và người sử dụng sẽ quay về sử dụng xe chở tiền sản xuất trên nền xe bán tải, khi đó xe chở tiền mới được sử dụng đúng thực chất công năng và không lãng phí nguồn lực xã hội. Mặc dù, xe chở tiền là để phục vụ sản xuất ô tô con và xăng cũng dùng để phục vụ sản xuất nhưng vẫn phải đánh thuế TTĐB để mọi thành phần kinh tế, mọi đơn vị sản xuất, kinh doanh (không chỉ hướng đến một đối tượng duy nhất là cá nhân tiêu dùng) phải tiết chế việc sử dụng các mặt hàng này khi không thực sự cần thiết và ưu tiên sử dụng các mặt hàng khác có cùng công năng nhưng không chịu thuế hoặc ở mức thuế suất thấp hơn.

(iii) Xe chở tiền sản xuất trên nền xe con có số lượng tiêu thụ hàng năm tương đối lớn (khoảng 1.000 xe/năm). Trước đây, đối tượng sử dụng chủ yếu là hệ thống ngân hàng do Nhà nước là chủ sở hữu, thuế TTĐB với xe chở tiền không có ý nghĩa nhiều trong việc thu ngân sách. Nhưng hiện nay, đối tượng sử dụng phần lớn là ngân hàng cổ phần thương mại, tổ chức tín dụng thuộc đủ mọi thành phần kinh tế, các đối tượng này là những đơn vị kinh doanh có lãi, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thuế và đóng góp cho xã hội. Chênh lệch giữa hai dòng thuế suất là khá lớn (30 - 45%), nếu kê khai và nộp đúng sẽ giúp hệ thống ngân hàng đóng góp thêm nguồn lực cho xã hội, giúp Nhà nước thu đúng, thu đủ ngân sách và sử dụng ngân sách để hỗ trợ những thành phần yếu thế hơn trong xã hội, đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh tăng cao, nguồn thu ngân sách giảm, quá nhiều ngành nghề khác cần hỗ trợ. Nếu kê khai, nộp thuế sai, Nhà nước bị thất thu thuế, thậm chí nguồn tiền này chảy vào túi các nhà nhập khẩu hoặc các nhà sản xuất nước ngoài không giúp gì cho phát triển kinh tế đất nước.

(iv) Nếu việc kê khai, nộp thuế không đúng tồn tại như một tiền lệ xấu sẽ tạo kẽ hở để các đơn vị nhập khẩu đặt hàng sản xuất các loại xe vừa chở hàng, vừa chở người khác có kết cấu tương tự (có 05 chỗ ngồi, có vách ngăn khoang chở người và chở hàng nhưng không đạt chuẩn do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định, cụ thể là, diện tích và tải trọng rất nhỏ, chỉ để làm hình thức) rồi khai báo thành các xe chở chứng từ có giá (chứng chỉ góp vốn, giấy tờ nhà đất..), chở vàng, bạc, kim cương, chở thư tín, chở điện thoại di động đắt tiền… để lách thuế, tuồn ra thị trường đủ mọi thành phần kinh tế sử dụng như một xe chở người. Theo lẽ công bằng, ngân hàng là một ngành nghề kinh doanh như các ngành nghề kinh doanh khác nhưng họ cũng có nhu cầu chuyển chở các hàng hóa, chứng từ có giá trị cao, ngân hàng có quyền có xe ô tô chở hàng loại khác (ô tô chở tiền) thì các ngành nghề khác cũng có quyền có xe chở hàng loại khác theo đặc thù hàng hóa của họ (vàng bạc, đá quý, ấn chỉ in sẵn, thư tín, điện thoại di động) và chịu mức thuế TTĐB như xe chở tiền. Khi đó, Nhà nước có nguy cơ bị thất thu thuế và việc điều tiết sử dụng hàng hóa đắt tiền, xa xỉ, không cần thiết sẽ không có hiệu quả trên diện rộng.

(v) Gây bất công giữa đơn vị sản xuất hàng hóa trong nước với đơn vị kinh doanh hàng nhập khẩu, trợ giá cho hàng nhập khẩu và làm tăng giá hàng sản xuất trong nước, đi ngược với chủ trương hỗ trợ sản xuất trong nước của Chính phủ. Xe chở tiền sản xuất trong nước sử dụng xe thương mại (nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước) là nguyên liệu đầu vào là xe ô tô con để sản xuất xe chở tiền, mà xe ô tô con đã nộp thuế TTĐB ở mức cao (50 - 60%). Hiện nay, chưa có cơ chế hoàn thuế TTĐB nên phải tính vào giá thành sản xuất, kết quả là xe trong nước có giá sản xuất cao hơn nhập khẩu vì phải chịu thuế cao hơn. Trong khi xe nhập khẩu chỉ kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với xe vừa chở người vừa chở hàng ở mức thấp (15% - 25%). Vì vậy, cho đến nay, xe con chở tiền chỉ có xe nhập khẩu là chính, xe chở tiền sản xuất trong nước đã có nhưng chủ yếu sản xuất trên nền xe tải và bán tải (Pick up và Van). Lợi dụng kẽ hở pháp luật này, các nhà sản xuất mở xưởng đóng xe chở tiền trên nền xe con ở nước ngoài rồi nhập khẩu về Việt Nam, vừa mang công ăn việc làm, lợi nhuận ra nước ngoài vừa không đáp ứng được nhu cầu kịp thời, nhỏ lẻ của người sử dụng (vì hàng nhập khẩu phải đặt hàng với số lượng đủ lớn và thời gian tối thiểu 06 tháng). Trên thực tế, không có xe chở tiền nhập khẩu đóng trên nền xe tải và bán tải (Pick up và Van) mà chỉ có xe chở tiền nhập khẩu đóng trên xe con, điều này càng chứng tỏ sự không rõ ràng của chính sách thuế đã bị lợi dụng, doanh nghiệp trong nước đủ sức sản xuất xe chở tiền nhưng buộc phải làm những phân khúc rẻ tiền, nhường phân khúc đắt tiền, số lượng lớn cho hàng ngoại nhập.

3. Đề xuất giải pháp khắc phục

Để luật pháp được áp dụng nhất quán cho cùng một đối tượng và trên mọi lĩnh vực (kỹ thuật, tài chính), giúp các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước hiểu đúng và áp dụng đúng pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng quy định pháp luật không rõ, dẫn đến tình trạng thất thu ngân sách nhà nước, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hàng nhập khẩu mà “bóp nghẹt” hàng sản xuất trong nước, nhất là trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế xã hội hiện nay, tác giả có một số kiến nghị và đề xuất như sau:

Một là, Bộ Khoa học và Công nghệ cần có văn bản hướng dẫn phân loại cụ thể các xe chở tiền hoặc chở các mặt hàng chuyên dụng khác (vàng bạc, thư tín…) được sản xuất, hoán cải trên nền 03 loại xe: (i) Xe con chở người (3.1.1 TCVN 7271:2003); (ii) Xe Pick up và Van chở hàng (3.2.7, 3.2.8 và 3.2.9 TCVN 7271:2003); (iii) Xe tải thông dụng (3.2.1 TCVN7271:2003) tương ứng là 03 loại xe: Van chở người (3.1.1 TCVN); xe Pick up và Van chở hàng (3.2.7, 3.2.8 và 3.2.9 TCVN 7271:2003); xe chở hàng khác (3.2.11 TCVN7271:2003).

Hai là, Bộ Tài chính cần có văn bản hướng dẫn cụ thể về xe vừa chở người vừa chở hàng quy định trong Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt là “loại ô tô chở người hoặc ô tô tải có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng, có tỷ lệ tải trọng người/tải trọng hàng nằm trong giới hạn từ 1,25 - 1,8 theo tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ quy định”. Có văn bản hướng dẫn việc khấu trừ, hoàn thuế TTĐB đối với các loại hàng hóa mà có hàng hóa đầu vào chịu thuế suất TTĐB cao hơn thuế xuất đầu ra, tương tự như cơ chế khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng hiện nay.

Ba là, Tổng cục Hải quan hướng dẫn các đơn vị nhập khẩu nghiêm túc tự đối chiếu đặc tính kỹ thuật của xe nhập khẩu với Tiêu chuẩn quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành để xác định loại xe của mình có đủ điều kiện được nộp thuế theo quy định mục 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt hay không? Đối với những loại xe khai báo và nộp thuế theo mục 4d, 4g Điều 7 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt cần tăng cường hậu kiểm, tập trung kiểm tra tải trọng và diện tích khoang chở hàng có đạt tiêu chuẩn không? Xử lý nghiêm minh và công khai những đối tượng gian lận cố tình nhập về các loại xe vừa chở người, vừa chở hàng trá hình (chở người là chính, chở hàng chỉ là hình thức) nộp thuế ở mức thấp nhưng tiêu thụ, sử dụng là xe con chở người để nộp thuế suất thấp gây thất thu ngân sách và cạnh tranh không lành mạnh, “chặn đường” sản xuất trong nước.

TS. Trần Minh Sơn
Trưởng Văn phòng Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành, Ban Quản lý Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021 - 2025, Bộ Tư pháp
Nguyễn Thanh Hải
Cục Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp



[1]. https://vneconomy.vn/bien-xe-sang-thanh-xe-cho-tien-de-tron-thue.htm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: