Thứ ba 10/03/2026 21:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết đề cập tới các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại, phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: The article deals with provisions relating to consumer interest protection in promotion activities, analyzes, assesses the real situation and from this, puts forward solutions to contribute to law completion in this area.

1. Các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại

Người tiêu dùng (NTD) là đối tượng trực tiếp của hoạt động khuyến mại nói riêng cũng như các hoạt động thương mại nói chung trong nền kinh tế thị trường. Do vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại là rất cần thiết, trên thực tế, vấn đề này đã được quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật Thương mại năm 2005, Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành các văn bản luật này.

Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh các hoạt động thương mại, bao gồm hoạt động khuyến mại. Tuy nhiên, hoạt động khuyến mại ở đây được điều chỉnh chủ yếu về các điều kiện để một sản phẩm khuyến mại được coi là hợp pháp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, hình thức pháp lý về thỏa thuận giữa các bên mà không có quy định riêng nào cho vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại. Vấn đề này xuất phát từ đặc điểm phân ngành của pháp luật Việt Nam, các nhà làm luật chỉ xác định hoạt động khuyến mại phải tuân theo nguyên tắc chung của các hoạt động thương mại được ghi nhận tại Điều 14 Luật Thương mại năm 2005, đó là nguyên tắc “bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD”. Các nội dung cụ thể như quyền và nghĩa vụ của NTD, trách nhiệm của các chủ thể khuyến mại đối với NTD, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của NTD… được quy định tập trung tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác.

Về nguyên tắc “bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD”, Điều 14 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho NTD về hàng hóa và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó; thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh”. Như vậy, với tư cách là một hoạt động thương mại, khuyến mại cũng phải chịu sự điều chỉnh của quy định này. Điều đó có nghĩa là, các thương nhân khi tiến hành hoạt động khuyến mại luôn phải coi việc bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD là trách nhiệm của mình, đây là yếu tố mang tính đạo đức kinh doanh bắt buộc của các chủ thể thương mại. Nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của các chủ thể kinh doanh và lợi ích của NTD, bên cạnh việc xây dựng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động thương mại, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định các hành vi khuyến mại bị cấm. Có thể thấy, việc quy định các hành vi khuyến mại bị cấm hướng đến bảo vệ lợi ích của các thương nhân, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh cũng bao hàm cả mục đích bảo vệ quyền lợi NTD. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt, các thương nhân phải dùng mọi cách thức, mọi thủ đoạn để giành thị phần của nhau. Sự cạnh tranh này suy cho cùng đều nhằm vào hành động mua sắm, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của NTD. Vì vậy, dù ở góc độ nào, NTD chắc chắn là đối tượng chịu ảnh hưởng của các biện pháp cạnh tranh. Việc nghiêm cấm các hành vi khuyến mại trên có ý nghĩa bảo đảm quyền lợi của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh, qua đó, quyền lợi chính đáng của NTD cũng được bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ quy định như trong Luật Thương mại năm 2005 là chưa đủ để bảo vệ quyền lợi NTD trong lĩnh vực khuyến mại. NTD chỉ thực sự được bảo vệ khi pháp luật quy định rõ họ có những quyền gì, cơ chế thực hiện quyền của NTD ra sao, trách nhiệm của các thương nhân khi quyền lợi của NTD bị xâm phạm như thế nào… Những vấn đề này được ghi nhận trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Cạnh tranh năm 2004 và những văn bản pháp luật khác có liên quan.

Bên cạnh những quy định chung, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng chứa đựng những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại. Điều 10 Luật này đã quy định những hành vi bị cấm đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng. Luật cũng quy định trách nhiệm “bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp” của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD (Điều 13). Trong lĩnh vực khuyến mại, NTD có quyền được cung cấp thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Để chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, NTD có quyền “yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật” (khoản 6, 7 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010). Pháp luật còn cho phép NTD được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, NTD có thể trực tiếp hoặc thông qua tổ chức xã hội để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi bị xâm phạm.

Điều 39 Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng xác định khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đây là hành vi cạnh tranh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc của NTD (khoản 4 Điều 3). Điều 46 của Luật Cạnh tranh năm 2004 cũng quy định về các hành vi bị coi là khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, quy định này về cơ bản tương tự quy định về các hành vi khuyến mại bị cấm trong Luật Thương mại năm 2005. Trong pháp luật cạnh tranh, NTD có quyền trực tiếp hoặc thông qua hiệp hội của mình để khởi kiện theo thủ tục tố tụng cạnh tranh khi quyền lợi của họ bị các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh xâm hại, NTD có thể được miễn giảm nghĩa vụ nộp phí xử lý vụ việc cạnh tranh (khoản 12 Điều 56).

Để cụ thể hóa việc bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại (Nghị định số 37/2006/NĐ-CP). Theo đó, khuyến mại phải tuân theo các quy định pháp luật về nguyên tắc thực hiện khuyến mại; hạn mức tối đa giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại; các hình thức khuyến mại; trình tự, thủ tục đăng ký thực hiện khuyến mại. Đồng thời, quy định rõ các trường hợp bị đình chỉ thực hiện chương trình khuyến mại (Mục 1, 2 và 3 Chương II).

2. Nhận xét về thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại ở Việt Nam

Nhìn chung, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại đã được các nhà làm luật nội luật hóa vào các quy phạm pháp luật. Trong đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD và pháp luật khuyến mại khẳng định trách nhiệm của thương nhân tôn trọng quyền và lợi ích của NTD trong hoạt động cạnh tranh và xúc tiến thương mại nói chung; quy định trách nhiệm bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại nói riêng. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thương mại trong việc bảo vệ quyền lợi NTD khá đồng bộ và phù hợp với các yêu cầu trong “Bản hướng dẫn bảo vệ NTD” của Liên Hợp Quốc.

Sự tồn tại của các quy định này có tác dụng phối hợp điều chỉnh hoạt động khuyến mại, qua đó, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của NTD. Các quy định trên bước đầu thể hiện tính toàn diện của pháp luật điều chỉnh hoạt động xúc tiến thương mại. Tuy nhiên, pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, các quy định pháp luật về trách nhiệm của thương nhân trong hoạt động khuyến mại chưa thật sự đầy đủ để bảo đảm lợi ích của khách hàng. Trong thực tế, khách hàng phải chịu thiệt thòi do những gian lận trong khuyến mại của thương nhân, do các sai sót kỹ thuật trong in ấn, tem phiếu vật phẩm có chứa đựng thông tin về lợi ích vật chất mà khách hàng được hưởng trong đợt khuyến mại. Ví dụ: Một khách hàng của Công ty sữa A đã mua sản phẩm sữa B trong đợt khuyến mại từ ngày 01/5/2005 đến ngày 01/9/2005 với một thẻ cào có thông tin trúng thưởng bốn mươi triệu đồng (sau khi cào phần nhũ bạc). Khi liên hệ với Công ty nhận thưởng, khách hàng nhận được trả lời “phiếu cào đó không hợp lệ”. Sau khi sự việc xảy ra, Công ty X (đơn vị thực hiện toàn bộ thẻ cào của đợt khuyến mại theo hợp đồng đã ký với Công ty sữa A) đã thừa nhận lỗi sai sót kỹ thuật. Lợi ích mà khách hàng nhận được trong trường hợp này chỉ là lời xin lỗi của Công ty sữa A, bởi vì không tìm thấy quy định cụ thể trong pháp luật hiện hành làm cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của NTD trong trường hợp này.

Thứ hai, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nói chung, về bảo vệ quyền lợi NTD trong hoạt động khuyến mại nói riêng, được quy định trong khá nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các văn bản pháp luật này vẫn còn quy định một cách khá chung chung, rườm rà và khó tiếp cận về các quyền của NTD cũng như trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động khuyến mại. Khi mua sắm một hàng hóa hoặc sử dụng một dịch vụ cụ thể, NTD thường không hiểu hết mình có những quyền và trách nhiệm gì khi tham gia giao dịch này. Vấn đề trách nhiệm của thương nhân với NTD chưa quy định cụ thể mà chỉ được xác định ở nguyên tắc chung; chưa quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của thương nhân, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận được các khiếu nại của NTD. Pháp luật hiện hành quy định về các chế tài xử lý vi phạm chưa chặt chẽ, dẫn đến khả năng đảm bảo thi hành các quy định về bảo vệ quyền lợi NTD là rất thấp. Pháp luật Việt Nam chưa cho phép các cơ quan bảo vệ NTD áp dụng các chế tài thể hiện tính đặc thù, phù hợp để phòng ngừa, răn đe như công bố công khai về hành vi vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng; buộc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh… Thêm vào đó, mức xử phạt còn chưa tương xứng với lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được.

Về trình tự, thủ tục thực hiện khuyến mại, Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP đã có những quy định hợp lý. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 16 và khoản 3 Điều 17 của Nghị định này thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi nhận hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại phải xem xét, xác nhận bằng văn bản về việc đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại, trường hợp không xác nhận phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tuy nhiên, Luật lại không quy định các điều kiện để thương nhân có được sự xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trong trường hợp bị từ chối xác nhận thì luật cũng không có quy định những quyền của thương nhân trong trường hợp này. Quy định như trên đã biến thủ tục “đăng ký” thành thủ tục “xin phép”. Như vậy, sẽ hạn chế quyền tự do hoạt động khuyến mại của thương nhân, qua đó, gián tiếp ảnh hưởng tới lợi ích của NTD[1].

Thứ ba, để đảm bảo tính trung thực của thương nhân về giải thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi, pháp luật quy định “thương nhân có nghĩa vụ thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và cam kết với khách hàng” là chưa đủ. Trên thực tế, khó có thể kiểm soát tính trung thực của thương nhân khi thực hiện khuyến mại, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và quyền lợi khách hàng được đảm bảo[2], việc vi phạm nghĩa vụ thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo là khả năng đã xảy ra.

Thứ tư, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định chỉ có những chương trình khuyến mại mang tính may rủi thì đơn vị thực hiện khuyến mại phải đăng ký với cơ quan quản lý, còn các chương trình khuyến mại khác, đơn vị chỉ phải gửi thông báo tới cơ quan quản lý. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng tất cả các chương trình khuyến mại. Nhiều chương trình khuyến mại không nắm rõ vì thời gian khuyến mại ngắn, đơn vị khuyến mại nhỏ lẻ, hình thức khuyến mại ít. Khi cơ quan chức năng biết được thì chương trình khuyến mại đó đã kết thúc.

3. Các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động khuyến mại

3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Cần nghiên cứu để áp dụng cơ chế khởi kiện tập thể đối với các hành vi khuyến mại xâm hại quyền lợi NTD ở quy mô lớn, địa bàn rộng để NTD có điều kiện tập hợp các nguồn lực cần thiết theo đuổi vụ kiện. Bổ sung quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện, quy trình, cách thức tiến hành việc khởi kiện một cách cụ thể, chi tiết để tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật cho NTD. Đồng thời, để hỗ trợ cho việc khởi kiện tập thể, Nhà nước có thể nghiên cứu việc xây dựng quỹ khởi kiện tập thể, trong đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ một phần khi xây dựng quỹ, biến nó trở thành công cụ tài chính hữu ích để hỗ trợ cho việc khởi kiện tập thể nhằm đảm bảo quyền lợi NTD.

- Bổ sung các quy định pháp luật cụ thể về việc phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương. Cần tăng cường hiệu lực cho quyết định giải quyết vụ việc của Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương bằng việc sử dụng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trong trường hợp quyết định không được thi hành. Pháp luật nên có quy định cho phép Cục Quản lý cạnh tranh có quyền xử lý vi phạm, có quyền yêu cầu Bộ Công thương ra quyết định cấm khuyến mại, lưu thông sản phẩm hàng hóa có mặt trên thị trường Việt Nam mà bị phát hiện có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của NTD.

3.2. Có giải pháp “tiền kiểm” để bảo đảm tính trung thực về giải thưởng trong các chương trình khuyến mại, bổ sung quy định trách nhiệm cá nhân của thương nhân và người được giao tổ chức chương trình khuyến mại

Pháp luật hiện hành quy định việc bốc thăm, trao giải thưởng được thực hiện với sự có mặt của đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những quy định này nếu được thực hiện tốt cũng chỉ có tác dụng đảm bảo tính khách quan khi chọn người trúng thưởng. Đối với việc kiểm soát cơ cấu, số lượng giải thưởng mà thương nhân đã đăng ký và công bố, pháp luật và cơ quan thực thi pháp luật đều khó mà kiểm soát được tính trung thực. Do vậy, cần có giải pháp “tiền kiểm” tức là có cơ chế kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực thương mại (Sở Công thương, cơ quan chuyên ngành của Bộ Công thương) từ khâu in ấn giải thưởng gắn vào sản phẩm đến khâu đưa đủ vào dây chuyền sản xuất. Có như vậy, mới tránh được việc thương nhân gian lận khi thực hiện khuyến mại. Bên cạnh đó, ngoài việc quy định các nghĩa vụ của thương nhân, pháp luật cần bổ sung quy định buộc thương nhân hoặc người đại diện hợp pháp của thương nhân, người được giao trách nhiệm tổ chức chương trình khuyến mại phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự về những hành vi gian lận, lừa dối khách hàng trong chương trình khuyến mại. Mặc dù chưa phải là giải pháp triệt để nhưng khi cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với những gian lận về giải thưởng khuyến mại, nguyên tắc trung thực trong hoạt động khuyến mại sẽ được bảo đảm thực hiện tốt hơn.

3.3. Nâng cao trách nhiệm xã hội của thương nhân

Văn hoá kinh doanh đang dần trở thành một yêu cầu và đòi hỏi tất yếu trong điều kiện kinh tế thị trường văn minh, hiện đại. Thương nhân kinh doanh có văn hóa là kinh doanh có mục đích và phương pháp để cùng đạt tới giá trị chân, thiện, mỹ trong kinh doanh[3]. Đạo đức để trung thực với NTD và văn hóa để ứng xử thỏa đáng đối với “thượng đế”. Xin lỗi cũng là văn hóa kinh doanh dù rằng không bù đắp lại được những thiệt hại cho NTD, nhưng chắc hẳn sẽ làm “thượng đế” vừa lòng hơn[4]. Vì vậy, trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh và khốc liệt, hơn lúc nào hết, thương nhân phải thể hiện được văn hóa kinh doanh và đạo đức nghề nghiệp, có như vậy mới giữ được uy tín lâu dài trong lòng dân chúng.

3.4. Xây dựng cơ chế tự vệ cho người tiêu dùng

- Pháp luật không thể coi NTD như một đối tượng được bảo vệ một cách thụ động mà cần kích thích và trao đổi cho từng cá thể NTD khả năng tự bảo vệ một cách hiệu quả. Để khẳng định được vị thế và sức mạnh của tập thể NTD trước giới thương nhân, đồng thời cũng là trách nhiệm bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của mình, cần tăng cường tuyên truyền và cung cấp thông tin cho NTD; nâng cao nhận thức của NTD trong việc hiểu và thực hiện các quyền của NTD, hãy là những “NTD thông thái”.

- Hoạt động tuyên truyền cần đa dạng và thực hiện đan xen với các hoạt động khác nhằm tăng cường hiệu quả của việc cung cấp thông tin. Hiện tại, Cục Quản lý cạnh tranh đã vận hành chính thức Hệ thống tiếp nhận phản ánh của NTD qua điện thoại (Call Center - 18006838), đồng thời, đưa Trang thông tin điện tử về bảo vệ quyền lợi NTD (bvntd.vca.gov.vn) đi vào hoạt động. Đây là những hoạt động hết sức cần thiết không chỉ giúp NTD, cộng đồng doanh nghiệp tìm hiểu các quy định của pháp luật, phản ánh các thắc mắc mà còn là một kênh thông tin quan trọng phục vụ hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cũng như các tổ chức tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD.

ThS. Hoàng Thị Kim Cương

Trường Trung cấp Luật Đồng Hới

Tài liệu tham khảo

[1]. Xem: http://www.dankinhte.vn/bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-thong-qua-cac-quy-dinh-ve-khuyen-mai-va-quang-cao-thuong-mai-duoi-goc-do-luat-thuong-mai/.

[2]. Xem: TS. Nguyễn Thị Dung, Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, 2007, tr. 115.

[3]. Hoàn chỉnh thể chế xây dựng văn hóa doanh nhân, đăng tải trên trang web của Trung tâm Văn hóa doanh nhân, ngày 20/12/2006.

[4]. Xem: Sữa tươi và văn hóa kinh doanh của Minh Quang trên trang web của VnExpress ngày 25/10/2006.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: