Thứ sáu 16/01/2026 10:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

Hà Nội có nhiều đặc thù khác so với những tỉnh, thành trong cả nước. Với tính chất của một đô thị đặc biệt, bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai được áp dụng chung với các tỉnh, thành khác thì chính sách pháp luật đất đai của Hà Nội còn chịu sự chi phối của Luật Thủ đô năm 2012. Luật Thủ đô năm 2012 có tác động tới việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (THĐ) trên địa bàn Thành phố với một số nội dung chủ yếu về: Quy hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô; quản lý không gian kiến trúc, cảnh quan và xây dựng Thủ đô… đặc biệt là về quản lý đất đai.

1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội

Theo đó, các vấn đề liên quan đến quản lý, khai thác đất, trong đó có việc bồi thường khi Nhà nước THĐ phải bảo đảm “sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và pháp luật về đất đai” (khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2012); đồng thời, đối với việc thực thi pháp luật, cơ quan chính quyền phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người có đất bị thu hồi trên cơ sở các quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Hội đồng nhân dân Thành phố là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc ban hành các biện pháp bảo đảm việc thực hiện THĐ, giải phóng mặt bằng kịp thời, đúng tiến độ đối với các dự án đầu tư quan trọng trên địa bàn Thủ đô (khoản 2 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2012). Vì mang những đặc điểm của một đô thị loại I và có những vị trí, vai trò đặc biệt trong định hướng phát triển kinh tế đất nước, việc THĐ để thực hiện các dự án cần được áp dụng song song nhiều quy phạm pháp luật, nhằm bảo đảm theo đúng quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô. Việc kết hợp các quy định của pháp luật đất đai hiện hành và những quy định trong Luật Thủ đô năm 2012 trong việc bồi thường khi Nhà nước THĐ không chỉ bảo đảm lợi ích phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô qua đó nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân, mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ cũng như các doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, khi thực thi pháp luật về bồi thường, các cơ quan có thẩm quyền luôn chú ý điều chỉnh theo hướng bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước - người bị THĐ - nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc kết hợp giữa các quy định để vận dụng linh hoạt việc bồi thường khi Nhà nước THĐ trong thực tế là điều không dễ dàng. Đối với các dự án lớn, cần vạch ra kế hoạch cụ thể và lộ trình thực hiện, nhằm bảo đảm tối đa việc đáp ứng những yêu cầu về quy hoạch, kế hoạch dự án, đồng thời cũng cần quan tâm, chú ý giải quyết hợp lý, hài hòa với người bị THĐ. Đây là một việc làm không đơn giản, nhất là đối với địa phương “đất chật người đông” như Hà Nội. Việc thực hiện các chính sách này tốn không ít thời gian và ngân sách.

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ trên địa bàn Thành phố còn gặp một số khó khăn như: Việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất chưa được quan tâm thực hiện; việc giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, sai mục đích được giao, được thuê còn nhiều đã gây khó khăn cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhiều dự án còn bị kéo dài, không được giải quyết dứt điểm; vướng mắc trong vấn đề giá đất để tính bồi thường; bên cạnh đó, chính sách quản lý đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng có nhiều thay đổi, thiếu đồng bộ, không ổn định cũng đã góp phần gây nên tình trạng khiếu nại căng thẳng của người bị THĐ.

Để hoàn thành tốt chỉ tiêu, Ủy ban nhân dân Thành phố đã yêu cầu đẩy nhanh công tác THĐ, giải phóng mặt bằng các dự án, công trình trọng điểm của Thành phố. Trong đó, tập trung triển khai có hiệu quả và dứt điểm việc giao đất dịch vụ cho người dân sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% đất nông nghiệp được giao theo nghị định của Chính phủ; rà soát chuẩn bị đầy đủ quỹ tái định cư với phương châm đa dạng hóa loại hình, đa dạng hóa các chủ đầu tư. Tiếp tục tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh một số nội dung trong cơ chế chính sách như: Xác định giá đất, tái định cư, THĐ, quy trình giải phóng mặt bằng, cưỡng chế THĐ theo hướng tối đa hóa bồi thường, hỗ trợ cho người bị THĐ nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

2. Những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội

Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ trong những năm qua vẫn gặp không ít khó khăn, phức tạp; việc khiếu kiện liên quan đến giá đất được xác định bồi thường từ phía người dân đang có xu hướng gia tăng. Theo đánh giá của Thanh tra Thành phố, hằng năm có hơn 70% vụ tranh chấp khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực đất đai, trong đó có nguyên nhân do việc bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi chưa thỏa đáng.

Tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật cho thấy nổi cộm lên một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện bồi thường về đất, phát sinh các vấn đề phức tạp, hay xảy ra tranh chấp, khiếu nại là đối với các trường hợp không có các loại giấy tờ hợp pháp theo quy định. Căn cứ để xem xét bồi thường, hỗ trợ trong các trường hợp này là thời điểm sử dụng đất và sự xác định đất đã được sử dụng ổn định, không có tranh chấp của Ủy ban nhân dân cấp xã. Bên cạnh những điều kiện được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP[1] thì đối tượng bị THĐ trên địa bàn Hà Nội còn phải chấp hành theo quy định tại Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND[2].

Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 01/7/2004 đến thời điểm có quyết định THĐ, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 và các nghị định hướng dẫn thi hành, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ sau ngày 15/10/1993 đến thời điểm có quyết định THĐ mà không có các giấy tờ quy định thì không được tính bồi thường, chỉ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể (Điều 7 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP[3]); liên quan đến vấn đề này, khoản 8 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP[4] quy định, các chủ sử dụng đất sau thời điểm ngày 15/10/1993 chỉ cần có thêm điều kiện: “Tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ công trình, được các cấp có thẩm quyền phê quyệt đã công bố công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp” thì cũng được coi là có đủ điều kiện để được bồi thường về đất; tiếp nối những quy định của pháp luật trước đó, Luật Đất đai năm 2013 đã khái quát thành “có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn kiền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp”.

Trên địa bàn Thành phố, các trường hợp sử dụng đất sau thời điểm ngày 15/10/1993 rất nhiều, nhưng khi Nhà nước THĐ và tiến hành tổ chức thực hiện bồi thường thì việc xác định người sử dụng đất “đủ điều kiện được cấp” các loại giấy tờ về đất lại là một việc không dễ dàng. Theo quy định của pháp luật đất đai, việc xác định thời điểm sử dụng đất và vi phạm quy hoạch sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và để xác định người sử dụng đất sử dụng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn lại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định các căn cứ cho việc thực hiện. Thực tế cho thấy, vào thời điểm sau ngày 15/10/1993 đến trước khi có Luật Đất đai năm 2003, công tác lập quy hoạch để quản lý đất đai chưa thực sự được quan tâm, vì vậy, ở nhiều nơi, người dân không biết đã có quy hoạch hay chưa? Và nếu như đã có quy hoạch thì đã được công bố chưa? Ở vào thời điểm này có rất nhiều trường hợp không thể xác định được người sử dụng đất có vi phạm quy hoạch hay không bởi chưa có văn bản nào quy định về hình thức “công bố quy hoạch” để làm căn cứ xác định tính chất phù hợp pháp luật của người sử dụng đất.

Qua việc phân tích các nội dung về điều kiện để được bồi thường về đất có thể thấy, Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định khác có liên quan đã có quy định theo hướng quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bồi thường tương đối chồng chéo, đồng thời cũng chưa có lộ trình để áp dụng một cách thống nhất, gây khó khăn cho việc thực hiện; đặc biệt là đối với các dự án lớn, kéo dài qua nhiều giai đoạn nếu không tìm được sự thống nhất, đồng bộ và cân bằng về chính sách áp dụng đối với người bị THĐ, bao gồm những người phải di chuyển trước và sau, điều này sẽ gây ra sự mâu thuẫn, hiểu sai trong nội bộ những người bị THĐ vì mục đích chung. Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành đã được hơn 10 năm và Luật Đất đai năm 2013 mới có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2013, nhưng một số quy định, hướng dẫn về quy hoạch, công bố quy hoạch, cắm mốc… vẫn chưa được ban hành và chưa có những văn bản hướng dẫn cụ thể để có thể áp dụng một cách đồng bộ, thống nhất nhằm hạn chế những hiểu lầm, hiểu sai về những quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ.

Thứ hai, về giá đất để tính bồi thường

Thực tế hiện nay cho thấy, giá đất bồi thường thấp hơn so với “giá thị trường” dẫn đến sự không thỏa mãn trong dân, ảnh hưởng đến cuộc sống của những người bị THĐ, mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị THĐ và nhà đầu tư xảy ra những mâu thuẫn, là nguyên nhân chính dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài.

Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyên tắc, phương pháp định giá đất để xây dựng bảng giá đất nông nghiệp còn nhiều điểm chưa phù hợp. Thực tế cho thấy, mức giá đất nông nghiệp tại khu vực có điều chỉnh quy hoạch hoặc có kế hoạch xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng, tuy quy hoạch, kế hoạch chưa thực hiện, nhưng trên thực tế, giá đất nông nghiệp đã ăn theo và cao hơn nhiều so với lúc chưa có quy hoạch, kế hoạch được duyệt. Chính điều này đã gây nên những “thắc mắc” của nhân dân, dẫn tới việc khó áp dụng theo giá đất thị trường ở vào thời điểm trước khi có kế hoạch, quy hoạch, ảnh hưởng tới tiến độ và hiệu quả khi THĐ.

Thứ ba, việc chênh lệch giá đất trước và sau khi thu hồi

Hiện nay, một tình trạng dễ thấy trong thực tế khi Nhà nước tiến hành THĐ, giải phóng mặt bằng là sự chênh lệch giá đất mặt đường trước và sau khi thu hồi. Đối với các hộ bị mất đất, mất nhà mặt đường do dự án mở rộng đô thị, đường sá thiệt thòi hơn gấp nhiều lần so với các hộ mặc nhiên được hưởng lợi từ việc giải phóng mặt bằng mà ra mặt đường. Chính vì vậy dẫn đến tình trạng người có đất bị thu hồi không muốn di rời khỏi nơi ở, nơi kinh doanh buôn bán của mình mà đến nơi khác chưa thể thuận tiện bằng; trong khi những người dân nhà trong ngõ thì mặc nhiên được trở thành nhà “mặt phố”. Điều này đã gây mâu thuẫn rất lớn từ phía những người dân. Cách làm cũ đã tạo môi trường thuận lợi cho hành vi tiêu cực như “mua đất đón đầu” để hưởng đền bù hoặc chiếm vị trí mặt đường sau khi xây dựng công trình. Do đó, việc vận động thu hồi mặt bằng gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ tư, vấn đề liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức bồi thường chưa tuân thủ đúng pháp luật, tồn tại nhiều sai phạm. Trong quá trình lập quy hoạch đô thị lẫn quy hoạch sử dụng đất chỉ đứng từ một phía của cơ quan có thẩm quyền mà không công bố, lấy ý kiến của nhân dân. Điều này dẫn tới việc người dân không hiểu, không được phổ biến và đóng góp quan điểm vào việc xây dựng những dự án trên - những dự án ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Phương án quy hoạch như thế nào, việc bồi thường giải phóng mặt bằng bao nhiêu... chính quyền không công khai, chưa rõ ràng, khiến cho người dân khó có thể theo dõi. Nếu được biết đến các quy hoạch, kế hoạch này, người dân sẽ có thể so sánh để biết phương án nào là tốt cho cả dự án lẫn người dân hơn.

Nhiều dự án đã được quy hoạch nhưng đất đai còn trong giai đoạn “để không”, không được thực hiện trong thực tiễn vì thiếu tiền để bồi thường; hàng nghìn hecta đất của nhiều dự án bị sử dụng sai mục đích hoặc ở trong tình trạng “đắp chiếu nằm chờ” sự thỏa hiệp trong chính sách bồi thường giữa chủ đầu tư và người dân. Bên cạnh đó, những khó khăn trong việc cấp các loại giấy tờ hợp pháp về đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng quyền sở hữu đất… cũng là những khó khăn trong việc xác định các vấn đề liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước tiến hành THĐ.

Ngoài ra, việc tổ chức thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ còn nhiều yếu kém, khiếm khuyết; trình độ năng lực, quản lý của một số lãnh đạo địa phương cũng như trung ương còn nhiều hạn chế; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng chưa được tiến hành thường xuyên và hiệu quả còn thấp, chưa được nhiều người dân nắm bắt và hiểu về các quy định của pháp luật; việc thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước THĐ ở một số nơi, một số dự án chưa bảo đảm được sự công khai, minh bạch và dân chủ.

3. Giải pháp hoàn thiện các quy định thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Một là, quan tâm, chú trọng việc xây dựng chính sách pháp luật

Chính sách, pháp luật có thực sự đi vào cuộc sống hay không thì bản thân nó phải đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn đời sống. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng, yếu tố tiên quyết hàng đầu là cần phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về nội dung các quy định, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau từ một quy định. Các quy định của pháp luật cần được trình bày cụ thể, rõ ràng nhằm hạn chế tình trạng nhiều văn bản cấp dưới ban hành phát sinh những điểm không tương đồng về nội dung với văn bản của cấp trên.

Hai là, cải cách các vấn đề liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất của người sử dụng đất, khi đó, quyền lợi của họ đối với đất đai cũng là rõ ràng và minh bạch nhất. Chính vì vậy, cần chú ý đẩy nhanh tiến độ lập hồ sơ, đánh số, cấp giấy chứng nhận đối với toàn bộ quỹ đất hiện có, nhằm tạo thuận lợi trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, cũng như minh bạch quyền lợi kinh tế của người đang sử dụng đất và dễ dàng hơn trong việc xác định hậu quả nếu có các tranh chấp, khiếu kiện xảy ra.

Ba là, hoàn chỉnh và thực hiện có hiệu quả công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được hiệu quả và mang tính sát thực cao, cần quan tâm một số điểm sau:

- Xác định mục đích quy hoạch sử dụng đất để phục vụ cho dự án liên quan đến lĩnh vực gì? Qua đó, xác định được mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch xây dựng đô thị, hay quy hoạch các công trình phục vụ công cộng (trường, trạm…) hoặc các dự án liên quan đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho các cơ quan nhà nước.

- Phương án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần có tầm nhìn dài hạn, chắc chắn về nhu cầu sử dụng đất; cần có tầm nhìn bao quát, liên hệ với các địa phương xung quanh, với vùng miền và trên cả nước.

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền sau khi được lập cần được công bố công khai để mọi người dân được biết, bảo đảm tính công bằng, khách quan, minh bạch. Cần tiến hành thường xuyên và nghiêm túc công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương, nhất là cấp cơ sở, hạn hế tối đa tình trạng tư lợi cá nhân để đất đai được sử dụng có hiệu quả.

Bốn là, xây dựng khung giá đất cho phù hợp với thực tế, sát giá thị trường

Vấn đề đặt ra cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cần nghiên cứu và sửa đổi lại cho phù hợp với thực tế một số vấn đề sau:

- Về cơ chế linh hoạt trong xác định giá đất: Cần sửa đổi pháp luật đất đai theo hướng tách giá tính thuế và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thành hai giá riêng biệt. Theo đó, giá đất Nhà nước quy định chỉ áp dụng làm căn cứ tính các loại thuế, thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất. Còn khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất mới, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì áp dụng theo giá thị trường, trên cơ sở đấu giá quyền sử dụng đất hoặc tính tương đương.

Bổ sung, hoàn thiện quy định về cơ chế xây dựng giá đất theo hướng ngày càng phù hợp với giá thị trường; chuyển giao chức năng xác định giá đất từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sang cho các tổ chức tư vấn, định giá đất chuyên nghiệp thực hiện. Nhà nước chỉ giữ vai trò là người quản lý công tác định giá đất.

Tiếp tục hoàn thiện khung giá đất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc định giá đất. Mức giá khi Nhà nước thu hồi và bồi thường về đất cho người sử dụng khi bị thu hồi, nhất là loại đất tốt khi bị thu hồi để xây dựng các cơ sở kinh doanh.

Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động định giá đất. Cần bổ sung các quy định liên quan đến nguyên tắc hoạt động dịch vụ định giá đất, giá trị pháp ý của chứng thư định giá, phương thức quản lý hoạt động định giá đất.

Năm là, tạo cơ chế công bằng giữa những người có đất phải di chuyển và những người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất

Với nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng như con người, Hà Nội có thể tham khảo những phương pháp của thành phố Đà Nẵng. Kinh nghiệm của Đà Nẵng là đề ra chủ trương chính sách đúng và tổ chức điều hành thực hiện tốt chủ trương chính sách đó. Phần lớn các chính sách này, nhất là chính sách về quy hoạch, chỉnh trang đô thị, giải phóng mặt bằng, THĐ để xây dựng kết cấu hạ tầng đã chú trọng việc huy động sức dân, cả cộng đồng và hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách đã ban hành. Đà Nẵng cụ thể hóa các chính sách giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư… phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, công tác công bố quy hoạch, tuyên truyền, công khai thông tin về dự án là giải pháp quan trọng trước và trong khi tiến hành dự án. Khi người dân “được biết” về quy hoạch, về chính sách, về lợi ích do dự án mang lại sẽ có ý thức tự giác chấp hành chủ trương đền bù, giải tỏa. Việc tổ chức tiếp dân, lắng nghe dân trình bày kiến nghị, nguyện vọng là nhiệm vụ thường xuyên của hội đồng giải phóng mặt bằng cùng các cơ quan chuyên trách về đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng và của chính quyền các cấp đối với dự án. Qua đó, giải đáp kiến nghị, vướng mắc trong thực hiện dự án. Cách làm này tạo ấn tượng tốt, mang lại sự đồng thuận cao trong nhân dân để thực hiện tốt chủ trương của chính quyền.

Bên cạnh đó, thực hiện quy chế dân chủ gắn với cải cách hành chính, xây dựng và thực hiện quy ước. Trong đó, thực hiện tốt công tác đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch và thuận tiện cho tổ chức, công dân; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết công việc và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Với một thành phố đang có rất nhiều dự án cần đất để đầu tư xây dựng như Hà Nội, thiết nghĩ cần có những chính sách bồi thường có lợi nhất cho người dân trên cơ sở công bằng, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, công khai trao đổi với nhân dân, không thực hiện áp đặt các cơ chế bồi thường, tạo niềm tin trong nhân dân để công tác bồi thường đạt hiệu quả cao trong thực tế, giải phóng mặt bằng được thực hiện nhanh chóng, tránh vướng mắc, khiếu kiện kéo dài, gây ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư của Nhà nước.

Sáu là, quy định ưu tiên cho việc tạo cơ sở kinh tế mới, tạo việc làm cho hộ gia đình, cá nhân bị mất đất sản xuất

Các cấp chính quyền cần quan tâm đến các hoạt động hỗ trợ người bị THĐ nhằm giúp người dân sớm bắt kịp với cuộc sống mới. Có thể kể đến một số biện pháp đã được áp dụng tại nhiều địa phương (Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đồng Nai...) và mang lại những kết quả khả quan như: Trong thời gian chuyển đổi tái định cư, người dân được chính quyền hỗ trợ nhà ở tạm, thuê nhà chờ khu tái định cư hoàn thành, tạo việc làm, ổn định đời sống, sinh hoạt...

Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm quy định của Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg[5].

Bùi Quang Hậu

Bộ Tài nguyên và Môi trường


[1] Ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước THĐ.

[2] ngày 20/6/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các quy định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội.

[3] ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

[4] Ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước THĐ.

[5] Ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị THĐ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: