Thứ sáu 13/03/2026 07:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội

Hà Nội có nhiều đặc thù khác so với những tỉnh, thành trong cả nước. Với tính chất của một đô thị đặc biệt, bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật về đất đai được áp dụng chung với các tỉnh, thành khác thì chính sách pháp luật đất đai của Hà Nội còn chịu sự chi phối của Luật Thủ đô năm 2012. Luật Thủ đô năm 2012 có tác động tới việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (THĐ) trên địa bàn Thành phố với một số nội dung chủ yếu về: Quy hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô; quản lý không gian kiến trúc, cảnh quan và xây dựng Thủ đô… đặc biệt là về quản lý đất đai.

1. Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội

Theo đó, các vấn đề liên quan đến quản lý, khai thác đất, trong đó có việc bồi thường khi Nhà nước THĐ phải bảo đảm “sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp với quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và pháp luật về đất đai” (khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2012); đồng thời, đối với việc thực thi pháp luật, cơ quan chính quyền phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người có đất bị thu hồi trên cơ sở các quy định của pháp luật và yêu cầu thực tế. Hội đồng nhân dân Thành phố là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc ban hành các biện pháp bảo đảm việc thực hiện THĐ, giải phóng mặt bằng kịp thời, đúng tiến độ đối với các dự án đầu tư quan trọng trên địa bàn Thủ đô (khoản 2 Điều 15 Luật Thủ đô năm 2012). Vì mang những đặc điểm của một đô thị loại I và có những vị trí, vai trò đặc biệt trong định hướng phát triển kinh tế đất nước, việc THĐ để thực hiện các dự án cần được áp dụng song song nhiều quy phạm pháp luật, nhằm bảo đảm theo đúng quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô. Việc kết hợp các quy định của pháp luật đất đai hiện hành và những quy định trong Luật Thủ đô năm 2012 trong việc bồi thường khi Nhà nước THĐ không chỉ bảo đảm lợi ích phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô qua đó nâng cao mức sống và phúc lợi cho người dân, mà còn bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ cũng như các doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề này, khi thực thi pháp luật về bồi thường, các cơ quan có thẩm quyền luôn chú ý điều chỉnh theo hướng bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước - người bị THĐ - nhà đầu tư. Tuy nhiên, việc kết hợp giữa các quy định để vận dụng linh hoạt việc bồi thường khi Nhà nước THĐ trong thực tế là điều không dễ dàng. Đối với các dự án lớn, cần vạch ra kế hoạch cụ thể và lộ trình thực hiện, nhằm bảo đảm tối đa việc đáp ứng những yêu cầu về quy hoạch, kế hoạch dự án, đồng thời cũng cần quan tâm, chú ý giải quyết hợp lý, hài hòa với người bị THĐ. Đây là một việc làm không đơn giản, nhất là đối với địa phương “đất chật người đông” như Hà Nội. Việc thực hiện các chính sách này tốn không ít thời gian và ngân sách.

Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ trên địa bàn Thành phố còn gặp một số khó khăn như: Việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất chưa được quan tâm thực hiện; việc giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, sai mục đích được giao, được thuê còn nhiều đã gây khó khăn cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhiều dự án còn bị kéo dài, không được giải quyết dứt điểm; vướng mắc trong vấn đề giá đất để tính bồi thường; bên cạnh đó, chính sách quản lý đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng có nhiều thay đổi, thiếu đồng bộ, không ổn định cũng đã góp phần gây nên tình trạng khiếu nại căng thẳng của người bị THĐ.

Để hoàn thành tốt chỉ tiêu, Ủy ban nhân dân Thành phố đã yêu cầu đẩy nhanh công tác THĐ, giải phóng mặt bằng các dự án, công trình trọng điểm của Thành phố. Trong đó, tập trung triển khai có hiệu quả và dứt điểm việc giao đất dịch vụ cho người dân sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% đất nông nghiệp được giao theo nghị định của Chính phủ; rà soát chuẩn bị đầy đủ quỹ tái định cư với phương châm đa dạng hóa loại hình, đa dạng hóa các chủ đầu tư. Tiếp tục tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh một số nội dung trong cơ chế chính sách như: Xác định giá đất, tái định cư, THĐ, quy trình giải phóng mặt bằng, cưỡng chế THĐ theo hướng tối đa hóa bồi thường, hỗ trợ cho người bị THĐ nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

2. Những tồn tại, vướng mắc trong việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội

Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ trong những năm qua vẫn gặp không ít khó khăn, phức tạp; việc khiếu kiện liên quan đến giá đất được xác định bồi thường từ phía người dân đang có xu hướng gia tăng. Theo đánh giá của Thanh tra Thành phố, hằng năm có hơn 70% vụ tranh chấp khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực đất đai, trong đó có nguyên nhân do việc bồi thường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi chưa thỏa đáng.

Tìm hiểu thực tế áp dụng pháp luật cho thấy nổi cộm lên một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện bồi thường về đất, phát sinh các vấn đề phức tạp, hay xảy ra tranh chấp, khiếu nại là đối với các trường hợp không có các loại giấy tờ hợp pháp theo quy định. Căn cứ để xem xét bồi thường, hỗ trợ trong các trường hợp này là thời điểm sử dụng đất và sự xác định đất đã được sử dụng ổn định, không có tranh chấp của Ủy ban nhân dân cấp xã. Bên cạnh những điều kiện được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP[1] thì đối tượng bị THĐ trên địa bàn Hà Nội còn phải chấp hành theo quy định tại Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND[2].

Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 01/7/2004 đến thời điểm có quyết định THĐ, mà tại thời điểm sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 và các nghị định hướng dẫn thi hành, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ sau ngày 15/10/1993 đến thời điểm có quyết định THĐ mà không có các giấy tờ quy định thì không được tính bồi thường, chỉ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định hỗ trợ đối với từng trường hợp cụ thể (Điều 7 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP[3]); liên quan đến vấn đề này, khoản 8 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP[4] quy định, các chủ sử dụng đất sau thời điểm ngày 15/10/1993 chỉ cần có thêm điều kiện: “Tại thời điểm sử dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ công trình, được các cấp có thẩm quyền phê quyệt đã công bố công khai, cắm mốc; không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận đất đó không có tranh chấp” thì cũng được coi là có đủ điều kiện để được bồi thường về đất; tiếp nối những quy định của pháp luật trước đó, Luật Đất đai năm 2013 đã khái quát thành “có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn kiền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp”.

Trên địa bàn Thành phố, các trường hợp sử dụng đất sau thời điểm ngày 15/10/1993 rất nhiều, nhưng khi Nhà nước THĐ và tiến hành tổ chức thực hiện bồi thường thì việc xác định người sử dụng đất “đủ điều kiện được cấp” các loại giấy tờ về đất lại là một việc không dễ dàng. Theo quy định của pháp luật đất đai, việc xác định thời điểm sử dụng đất và vi phạm quy hoạch sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và để xác định người sử dụng đất sử dụng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn lại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định các căn cứ cho việc thực hiện. Thực tế cho thấy, vào thời điểm sau ngày 15/10/1993 đến trước khi có Luật Đất đai năm 2003, công tác lập quy hoạch để quản lý đất đai chưa thực sự được quan tâm, vì vậy, ở nhiều nơi, người dân không biết đã có quy hoạch hay chưa? Và nếu như đã có quy hoạch thì đã được công bố chưa? Ở vào thời điểm này có rất nhiều trường hợp không thể xác định được người sử dụng đất có vi phạm quy hoạch hay không bởi chưa có văn bản nào quy định về hình thức “công bố quy hoạch” để làm căn cứ xác định tính chất phù hợp pháp luật của người sử dụng đất.

Qua việc phân tích các nội dung về điều kiện để được bồi thường về đất có thể thấy, Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định khác có liên quan đã có quy định theo hướng quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, việc thay đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bồi thường tương đối chồng chéo, đồng thời cũng chưa có lộ trình để áp dụng một cách thống nhất, gây khó khăn cho việc thực hiện; đặc biệt là đối với các dự án lớn, kéo dài qua nhiều giai đoạn nếu không tìm được sự thống nhất, đồng bộ và cân bằng về chính sách áp dụng đối với người bị THĐ, bao gồm những người phải di chuyển trước và sau, điều này sẽ gây ra sự mâu thuẫn, hiểu sai trong nội bộ những người bị THĐ vì mục đích chung. Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành đã được hơn 10 năm và Luật Đất đai năm 2013 mới có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2013, nhưng một số quy định, hướng dẫn về quy hoạch, công bố quy hoạch, cắm mốc… vẫn chưa được ban hành và chưa có những văn bản hướng dẫn cụ thể để có thể áp dụng một cách đồng bộ, thống nhất nhằm hạn chế những hiểu lầm, hiểu sai về những quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ.

Thứ hai, về giá đất để tính bồi thường

Thực tế hiện nay cho thấy, giá đất bồi thường thấp hơn so với “giá thị trường” dẫn đến sự không thỏa mãn trong dân, ảnh hưởng đến cuộc sống của những người bị THĐ, mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, người bị THĐ và nhà đầu tư xảy ra những mâu thuẫn, là nguyên nhân chính dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện đất đai kéo dài.

Bên cạnh đó, việc áp dụng nguyên tắc, phương pháp định giá đất để xây dựng bảng giá đất nông nghiệp còn nhiều điểm chưa phù hợp. Thực tế cho thấy, mức giá đất nông nghiệp tại khu vực có điều chỉnh quy hoạch hoặc có kế hoạch xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng, tuy quy hoạch, kế hoạch chưa thực hiện, nhưng trên thực tế, giá đất nông nghiệp đã ăn theo và cao hơn nhiều so với lúc chưa có quy hoạch, kế hoạch được duyệt. Chính điều này đã gây nên những “thắc mắc” của nhân dân, dẫn tới việc khó áp dụng theo giá đất thị trường ở vào thời điểm trước khi có kế hoạch, quy hoạch, ảnh hưởng tới tiến độ và hiệu quả khi THĐ.

Thứ ba, việc chênh lệch giá đất trước và sau khi thu hồi

Hiện nay, một tình trạng dễ thấy trong thực tế khi Nhà nước tiến hành THĐ, giải phóng mặt bằng là sự chênh lệch giá đất mặt đường trước và sau khi thu hồi. Đối với các hộ bị mất đất, mất nhà mặt đường do dự án mở rộng đô thị, đường sá thiệt thòi hơn gấp nhiều lần so với các hộ mặc nhiên được hưởng lợi từ việc giải phóng mặt bằng mà ra mặt đường. Chính vì vậy dẫn đến tình trạng người có đất bị thu hồi không muốn di rời khỏi nơi ở, nơi kinh doanh buôn bán của mình mà đến nơi khác chưa thể thuận tiện bằng; trong khi những người dân nhà trong ngõ thì mặc nhiên được trở thành nhà “mặt phố”. Điều này đã gây mâu thuẫn rất lớn từ phía những người dân. Cách làm cũ đã tạo môi trường thuận lợi cho hành vi tiêu cực như “mua đất đón đầu” để hưởng đền bù hoặc chiếm vị trí mặt đường sau khi xây dựng công trình. Do đó, việc vận động thu hồi mặt bằng gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ tư, vấn đề liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức bồi thường chưa tuân thủ đúng pháp luật, tồn tại nhiều sai phạm. Trong quá trình lập quy hoạch đô thị lẫn quy hoạch sử dụng đất chỉ đứng từ một phía của cơ quan có thẩm quyền mà không công bố, lấy ý kiến của nhân dân. Điều này dẫn tới việc người dân không hiểu, không được phổ biến và đóng góp quan điểm vào việc xây dựng những dự án trên - những dự án ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Phương án quy hoạch như thế nào, việc bồi thường giải phóng mặt bằng bao nhiêu... chính quyền không công khai, chưa rõ ràng, khiến cho người dân khó có thể theo dõi. Nếu được biết đến các quy hoạch, kế hoạch này, người dân sẽ có thể so sánh để biết phương án nào là tốt cho cả dự án lẫn người dân hơn.

Nhiều dự án đã được quy hoạch nhưng đất đai còn trong giai đoạn “để không”, không được thực hiện trong thực tiễn vì thiếu tiền để bồi thường; hàng nghìn hecta đất của nhiều dự án bị sử dụng sai mục đích hoặc ở trong tình trạng “đắp chiếu nằm chờ” sự thỏa hiệp trong chính sách bồi thường giữa chủ đầu tư và người dân. Bên cạnh đó, những khó khăn trong việc cấp các loại giấy tờ hợp pháp về đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng quyền sở hữu đất… cũng là những khó khăn trong việc xác định các vấn đề liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước tiến hành THĐ.

Ngoài ra, việc tổ chức thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ còn nhiều yếu kém, khiếm khuyết; trình độ năng lực, quản lý của một số lãnh đạo địa phương cũng như trung ương còn nhiều hạn chế; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai nói chung và bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng chưa được tiến hành thường xuyên và hiệu quả còn thấp, chưa được nhiều người dân nắm bắt và hiểu về các quy định của pháp luật; việc thực hiện các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước THĐ ở một số nơi, một số dự án chưa bảo đảm được sự công khai, minh bạch và dân chủ.

3. Giải pháp hoàn thiện các quy định thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Một là, quan tâm, chú trọng việc xây dựng chính sách pháp luật

Chính sách, pháp luật có thực sự đi vào cuộc sống hay không thì bản thân nó phải đáp ứng được các yêu cầu thực tiễn đời sống. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nói riêng, yếu tố tiên quyết hàng đầu là cần phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ về nội dung các quy định, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau từ một quy định. Các quy định của pháp luật cần được trình bày cụ thể, rõ ràng nhằm hạn chế tình trạng nhiều văn bản cấp dưới ban hành phát sinh những điểm không tương đồng về nội dung với văn bản của cấp trên.

Hai là, cải cách các vấn đề liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ có giá trị pháp lý cao nhất của người sử dụng đất, khi đó, quyền lợi của họ đối với đất đai cũng là rõ ràng và minh bạch nhất. Chính vì vậy, cần chú ý đẩy nhanh tiến độ lập hồ sơ, đánh số, cấp giấy chứng nhận đối với toàn bộ quỹ đất hiện có, nhằm tạo thuận lợi trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, cũng như minh bạch quyền lợi kinh tế của người đang sử dụng đất và dễ dàng hơn trong việc xác định hậu quả nếu có các tranh chấp, khiếu kiện xảy ra.

Ba là, hoàn chỉnh và thực hiện có hiệu quả công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Để công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được hiệu quả và mang tính sát thực cao, cần quan tâm một số điểm sau:

- Xác định mục đích quy hoạch sử dụng đất để phục vụ cho dự án liên quan đến lĩnh vực gì? Qua đó, xác định được mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch xây dựng đô thị, hay quy hoạch các công trình phục vụ công cộng (trường, trạm…) hoặc các dự án liên quan đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho các cơ quan nhà nước.

- Phương án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần có tầm nhìn dài hạn, chắc chắn về nhu cầu sử dụng đất; cần có tầm nhìn bao quát, liên hệ với các địa phương xung quanh, với vùng miền và trên cả nước.

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các cấp chính quyền sau khi được lập cần được công bố công khai để mọi người dân được biết, bảo đảm tính công bằng, khách quan, minh bạch. Cần tiến hành thường xuyên và nghiêm túc công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương, nhất là cấp cơ sở, hạn hế tối đa tình trạng tư lợi cá nhân để đất đai được sử dụng có hiệu quả.

Bốn là, xây dựng khung giá đất cho phù hợp với thực tế, sát giá thị trường

Vấn đề đặt ra cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là cần nghiên cứu và sửa đổi lại cho phù hợp với thực tế một số vấn đề sau:

- Về cơ chế linh hoạt trong xác định giá đất: Cần sửa đổi pháp luật đất đai theo hướng tách giá tính thuế và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thành hai giá riêng biệt. Theo đó, giá đất Nhà nước quy định chỉ áp dụng làm căn cứ tính các loại thuế, thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất và tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất. Còn khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất mới, bồi thường, giải phóng mặt bằng thì áp dụng theo giá thị trường, trên cơ sở đấu giá quyền sử dụng đất hoặc tính tương đương.

Bổ sung, hoàn thiện quy định về cơ chế xây dựng giá đất theo hướng ngày càng phù hợp với giá thị trường; chuyển giao chức năng xác định giá đất từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sang cho các tổ chức tư vấn, định giá đất chuyên nghiệp thực hiện. Nhà nước chỉ giữ vai trò là người quản lý công tác định giá đất.

Tiếp tục hoàn thiện khung giá đất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc định giá đất. Mức giá khi Nhà nước thu hồi và bồi thường về đất cho người sử dụng khi bị thu hồi, nhất là loại đất tốt khi bị thu hồi để xây dựng các cơ sở kinh doanh.

Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động định giá đất. Cần bổ sung các quy định liên quan đến nguyên tắc hoạt động dịch vụ định giá đất, giá trị pháp ý của chứng thư định giá, phương thức quản lý hoạt động định giá đất.

Năm là, tạo cơ chế công bằng giữa những người có đất phải di chuyển và những người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất

Với nhiều nét tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng như con người, Hà Nội có thể tham khảo những phương pháp của thành phố Đà Nẵng. Kinh nghiệm của Đà Nẵng là đề ra chủ trương chính sách đúng và tổ chức điều hành thực hiện tốt chủ trương chính sách đó. Phần lớn các chính sách này, nhất là chính sách về quy hoạch, chỉnh trang đô thị, giải phóng mặt bằng, THĐ để xây dựng kết cấu hạ tầng đã chú trọng việc huy động sức dân, cả cộng đồng và hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách đã ban hành. Đà Nẵng cụ thể hóa các chính sách giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cư… phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, công tác công bố quy hoạch, tuyên truyền, công khai thông tin về dự án là giải pháp quan trọng trước và trong khi tiến hành dự án. Khi người dân “được biết” về quy hoạch, về chính sách, về lợi ích do dự án mang lại sẽ có ý thức tự giác chấp hành chủ trương đền bù, giải tỏa. Việc tổ chức tiếp dân, lắng nghe dân trình bày kiến nghị, nguyện vọng là nhiệm vụ thường xuyên của hội đồng giải phóng mặt bằng cùng các cơ quan chuyên trách về đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng và của chính quyền các cấp đối với dự án. Qua đó, giải đáp kiến nghị, vướng mắc trong thực hiện dự án. Cách làm này tạo ấn tượng tốt, mang lại sự đồng thuận cao trong nhân dân để thực hiện tốt chủ trương của chính quyền.

Bên cạnh đó, thực hiện quy chế dân chủ gắn với cải cách hành chính, xây dựng và thực hiện quy ước. Trong đó, thực hiện tốt công tác đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch và thuận tiện cho tổ chức, công dân; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết công việc và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Với một thành phố đang có rất nhiều dự án cần đất để đầu tư xây dựng như Hà Nội, thiết nghĩ cần có những chính sách bồi thường có lợi nhất cho người dân trên cơ sở công bằng, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, công khai trao đổi với nhân dân, không thực hiện áp đặt các cơ chế bồi thường, tạo niềm tin trong nhân dân để công tác bồi thường đạt hiệu quả cao trong thực tế, giải phóng mặt bằng được thực hiện nhanh chóng, tránh vướng mắc, khiếu kiện kéo dài, gây ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư của Nhà nước.

Sáu là, quy định ưu tiên cho việc tạo cơ sở kinh tế mới, tạo việc làm cho hộ gia đình, cá nhân bị mất đất sản xuất

Các cấp chính quyền cần quan tâm đến các hoạt động hỗ trợ người bị THĐ nhằm giúp người dân sớm bắt kịp với cuộc sống mới. Có thể kể đến một số biện pháp đã được áp dụng tại nhiều địa phương (Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đồng Nai...) và mang lại những kết quả khả quan như: Trong thời gian chuyển đổi tái định cư, người dân được chính quyền hỗ trợ nhà ở tạm, thuê nhà chờ khu tái định cư hoàn thành, tạo việc làm, ổn định đời sống, sinh hoạt...

Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm quy định của Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg[5].

Bùi Quang Hậu

Bộ Tài nguyên và Môi trường


[1] Ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước THĐ.

[2] ngày 20/6/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các quy định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước THĐ trên địa bàn thành phố Hà Nội.

[3] ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

[4] Ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước THĐ.

[5] Ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động bị THĐ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: