Thứ sáu 23/01/2026 12:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm của Hoa Kỳ và một số gợi mở cho Việt Nam

Pháp luật về chế độ công vụ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Trong phạm vi và nội dung của bài viết tác giả đã giới thiệu về nền móng hình thành pháp luật của Hoa Kỳ, về chế độ công vụ theo vị trí việc và những nội dung cơ bản của pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm của Hoa Kỳ.

Đây là một trong những kinh nghiệm lập pháp để Việt Nam tham khảo, vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm (VTVL) là hệ thống các quy định pháp luật cần phải tuân theo trong việc điều chỉnh các quan hệ về công vụ theo VTVL, bao gồm: Thiết lập các chức vụ công chức; việc tuyển dụng công chức theo VTVL, sử dụng công chức theo VTVL, quản lý công chức theo VTVL; khen thưởng, kỷ luật công chức theo VTVL; quyền lợi và nghĩa vụ của công chức và các vấn đề khác trong chính sách đối với đội ngũ công chức nhà nước của các chủ thể được Nhà nước trao quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm phục vụ lợi ích nhân dân.

Pháp luật về chế độ công vụ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL ở Hoa Kỳ có nền móng từ Luật Chế độ công chức năm 1883, Luật Nghỉ hưu công chức năm 1920, Luật Phân loại chức vị năm 1923 và 1948; Luật Xét công trạng năm 1950... Đến năm 1978, Luật Cải cách chế độ công chức đã ra đời thay thế cho Luật Chế độ công chức năm 1883, Luật về lương đối với công chức liên bang năm 1993. Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy để quản lý về các vấn đề tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng tiến công chức... Nội dung của pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL bao gồm các quy định về tổ chức, tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức, điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ về quyền và nghĩa vụ của công chức, địa vị pháp lý của người công chức, chế độ đãi ngộ, những bảo đảm về chức vụ, khen thưởng, kỷ luật công chức theo VTVL...

Một là, tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm

Tuyển dụng là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức. Khi tuyển dụng được công chức phù hợp, đáp ứng được yêu cầu VTVL sẽ làm cho chất lượng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước. Tuyển người phù hợp ngay ở khâu đầu tiên sẽ giúp hạn chế phải giải quyết các vấn đề liên quan đến các chu trình của chế độ công vụ như hiện tượng bỏ việc, không có động cơ làm việc. Chính vì vậy, pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL cần phải điều chỉnh đối với việc tuyển dụng công chức từ quy định về căn cứ, nguyên tắc, hình thức, điều kiện, thủ tục tuyển dụng công chức nhằm đảm bảo tuyển được công chức vừa có tài và có đức đáp ứng yêu cầu của VTVL.

Các điều kiện tuyển dụng công chức theo VTVL của Hoa Kỳ như độ tuổi, sức khỏe, trình độ đào tạo, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, kinh nghiệm công tác… được quy định theo pháp luật. Các yêu cầu khác như đơn dự tuyển, bản khai lý lịch công tác là yêu cầu cầu bắt buộc đối với công chức. Cơ quan quản lý nhân sự liên bang thực hiện thẩm quyền tuyển dụng công chức theo VTVL. Về phương thức, việc tuyển dụng công chức phải qua thi tuyển (chú trọng phỏng vấn trực tiếp và kiểm tra thao tác thực tế) và xét tuyển, đồng thời, việc tuyển dụng phải tuân thủ theo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

- Khách quan: Các cơ quan, đơn vị tổ chức thi tuyển phải căn cứ vào yêu cầu khách quan để lựa chọn thí sinh trúng tuyển;

- Công khai: Các nội dung cần công khai trong quá trình tuyển dụng công chức như: Tiêu chuẩn dự tuyển, số lượng VTVL cần tuyển, kết quả thi tuyển, các chế độ ưu tiên...; việc tuyển chọn phải được thực hiện dựa trên năng lực và kết quả thực tế, các tiêu chí để chọn và các kỹ thuật chọn người phải đáng tin cậy, đảm bảo tìm được người phù hợp với vị trí cần tuyển;

- Bảo đảm tính cạnh tranh: Đảm bảo tinh thần cạnh tranh trong các khâu của thi tuyển và có các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo cho cạnh tranh thực hiện có hiệu quả như phải xây dựng được tiêu chuẩn thi tuyển rõ ràng, phải thông báo công khai, tổ chức thi chặt chẽ, khách quan…;

- Áp dụng chế độ thực tài trong tuyển dụng công chức theo VTVL;

- Nguyên tắc mở trong thi tuyển công chức tức là bất cứ ai đáp ứng nhu cầu VTVL đều được tham gia ứng tuyển công chức. Trong quá trình tuyển dụng công chức không có hạn chế nào đối với các thí sinh trừ khi họ không đáp ứng yêu cầu VTVL.

Về quy trình tuyển dụng công chức, bao gồm chiêu sinh, thi, tuyển dụng, thực tập, cụ thể: Việc chiêu sinh trong quá trình tuyển dụng công chức ở Hoa Kỳ được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các VTVL, điều kiện, thời gian, địa điểm. Bất kỳ ai đáp ứng nhu cầu VTVL trong nền công vụ của Hoa Kỳ đều có thể tham gia ứng tuyển vào các vị trí còn trống. Nội dung thi tuyển nhấn mạnh đến các môn kiến thức chuyên ngành và năng lực thực thi công vụ chứ không yêu cầu tất cả các vấn đề chung. Hình thức thi là thi viết, thi vấn đáp, thi thao tác thực tế... Những người đủ tư cách được đưa vào bảng thành tích để tuyển dụng được xếp từ cao xuống thấp. Cơ quan quản lý nhân sự đưa 7 nhân viên có thành tích cao nhất cho cơ quan tuyển dụng công chức. Cơ quan tuyển dụng sẽ tiến hành điều tra và nói chuyện với những người đủ tư cách thi và lựa chọn một trong số 7 người đó. Sau khi công chức được lựa chọn phải trải qua một thời gian thử việc để kiểm tra trình độ và năng lực của công chức.

Công chức được tuyển dụng theo VTVL được chia làm ba loại: (i) Công chức hợp đồng (thời hạn hợp đồng của công chức hợp đồng thường không quá một năm, sau đó có thể ký tiếp hợp đồng, nhưng không được hưởng trợ cấp và lương hưu); (ii) Công chức có điều kiện (trong thời gian làm việc 3 năm, công chức có điều kiện được chuyển thành công chức chính thức chuyên nghiệp); (iii) Công chức chuyên nghiệp.

Hai là, quản lý, đào tạo và đánh giá công chức theo vị trí việc làm

Quản lý công chức theo VTVL là việc thu hút, duy trì và phát triển được nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng, phẩm chất đáp ứng được các nhu cầu của cơ quan hành chính nhà nước về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy pháp luật về công chức của Hoa Kỳ quy định về nguyên tắc quản lý, nội dung và thẩm quyền quản lý công chức theo VTVL.

Đào tạo, bồi dưỡng công chức theo VTVL cần được pháp luật quy định cụ thể về nội dung, hình thức, chế độ, thời gian, phương pháp nhằm xây dựng phát triển đội ngũ công chức chuyên nghiệp, mẫn cán với công việc. Các loại hình đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm: Các cơ quan thực hiện đào tạo, đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, bồi dưỡng tại chức. Cơ quan thực hiện đào tạo công chức đó là Học viện công chức hành chính liên bang.

Việc đánh giá công chức theo VTVL dựa vào thành tích và kết quả công tác của công chức theo chính VTVL. Thời điểm đánh giá công chức được đánh giá theo năm và kết hợp với đánh giá đột xuất trong trường hợp công chức được đề bạt lên vị trí cao hơn. Phương pháp đánh giá bằng cách cho điểm vào phiếu đánh giá, người quản lý trực tiếp công chức theo VTVL đánh giá. Mức độ đánh giá là: Tốt, khá, kém. Mức độ tốt tức là công chức vượt tiêu chuẩn quy định và đây là căn cứ để công chức được tăng bậc lương. Mức độ khá tức là công chức đạt tiêu chuẩn quy định. Mức độ kém tức là công chức không đạt tiêu chuẩn quy định, đây là căn cứ để xét giảm bậc lương, hạ bậc, miễn chức đối với công chức. Thêm vào đó, công chức ở Hoa Kỳ mỗi ngày còn phải viết báo cáo về các công việc đã làm hay còn gọi là nhật ký công việc với những nội dung cụ thể và số lượng công việc, kết quả công việc đã làm trong một ngày. Đó là căn cứ quan trọng để đánh giá công chức theo VTVL.

Ba là, việc đề bạt công chức và tiền lương theo vị trí việc làm

Căn cứ để đề bạt công chức theo VTVL có liên quan trực tiếp đến thành tích công việc, dựa vào kết quả đánh giá công chức theo VTVL. Việc đề bạt công chức có đề bạt trong nội bộ ngành và đề bạt bên ngoài (tức là cho phép người ngoài tham gia thi, ai giỏi nhất sẽ được thăng chức).

Về tiền lương, công chức được trả lương theo VTVL. Nguyên tắc trả tiền lương là cấp lương đồng đều, cấp lương định kỳ, tăng lương theo trượt giá, công khai. Lương được trả theo các bậc khác nhau theo quy định pháp luật. Ngoài lương còn có tiền làm thêm giờ, tiền làm ca đêm, tiền trả cho ngày nghỉ, tiền trả theo khu vực, tiền thưởng...

Đánh giá chung: Pháp luật của Hoa Kỳ quy định tương đối đầy đủ, thống nhất về chế độ công vụ theo VTVL. Đây cũng là một kinh nghiệm quý báu để Việt Nam vận dụng trong quá trình xây dựng chế độ công vụ theo VTVL ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, thể hiện ở mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, quan tâm kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ về tuyển dụng công chức, áp dụng chủ yếu là hình thức thi tuyển mang tính chất khách quan, công bằng, không thực hiện thi tất cả các môn chung mang tính dàn trải, mà tập trung vào các môn chuyên ngành, đặc biệt chú trọng đến trình độ chuyên môn của công chức, áp dụng phương pháp phỏng vấn và kiểm tra thao tác thực tế để kiểm tra năng lực thực thi công vụ của các ứng viên.

Thứ hai, việc đánh giá, đề bạt công chức được áp dụng theo VTVL và kết quả công việc. Tiền lương của công chức Mỹ được trả theo VTVL, có chính sách tăng lương đối với những người được đánh giá là hoàn thành công việc.

Chế độ công vụ theo VTVL là chế độ công vụ còn mới đối với nước ta, vì vậy, những gợi mở của pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL của Hoa Kỳ sẽ là những kinh nghiệm quý để chúng ta tham khảo trong quá trình xây dựng nền hành chính hiện đại phù hợp với pháp luật công vụ của các nước phát triển trên thế giới.

Trần Thị Hải Yến

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: