Thứ bảy 24/10/2026 09:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm của Hoa Kỳ và một số gợi mở cho Việt Nam

Pháp luật về chế độ công vụ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Trong phạm vi và nội dung của bài viết tác giả đã giới thiệu về nền móng hình thành pháp luật của Hoa Kỳ, về chế độ công vụ theo vị trí việc và những nội dung cơ bản của pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm của Hoa Kỳ.

Đây là một trong những kinh nghiệm lập pháp để Việt Nam tham khảo, vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm phù hợp với sự phát triển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Pháp luật về chế độ công vụ theo vị trí việc làm (VTVL) là hệ thống các quy định pháp luật cần phải tuân theo trong việc điều chỉnh các quan hệ về công vụ theo VTVL, bao gồm: Thiết lập các chức vụ công chức; việc tuyển dụng công chức theo VTVL, sử dụng công chức theo VTVL, quản lý công chức theo VTVL; khen thưởng, kỷ luật công chức theo VTVL; quyền lợi và nghĩa vụ của công chức và các vấn đề khác trong chính sách đối với đội ngũ công chức nhà nước của các chủ thể được Nhà nước trao quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm phục vụ lợi ích nhân dân.

Pháp luật về chế độ công vụ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL ở Hoa Kỳ có nền móng từ Luật Chế độ công chức năm 1883, Luật Nghỉ hưu công chức năm 1920, Luật Phân loại chức vị năm 1923 và 1948; Luật Xét công trạng năm 1950... Đến năm 1978, Luật Cải cách chế độ công chức đã ra đời thay thế cho Luật Chế độ công chức năm 1883, Luật về lương đối với công chức liên bang năm 1993. Bên cạnh đó, Chính phủ ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy để quản lý về các vấn đề tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng tiến công chức... Nội dung của pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL bao gồm các quy định về tổ chức, tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức, điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ về quyền và nghĩa vụ của công chức, địa vị pháp lý của người công chức, chế độ đãi ngộ, những bảo đảm về chức vụ, khen thưởng, kỷ luật công chức theo VTVL...

Một là, tuyển dụng công chức theo vị trí việc làm

Tuyển dụng là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức. Khi tuyển dụng được công chức phù hợp, đáp ứng được yêu cầu VTVL sẽ làm cho chất lượng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước tốt hơn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước. Tuyển người phù hợp ngay ở khâu đầu tiên sẽ giúp hạn chế phải giải quyết các vấn đề liên quan đến các chu trình của chế độ công vụ như hiện tượng bỏ việc, không có động cơ làm việc. Chính vì vậy, pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL cần phải điều chỉnh đối với việc tuyển dụng công chức từ quy định về căn cứ, nguyên tắc, hình thức, điều kiện, thủ tục tuyển dụng công chức nhằm đảm bảo tuyển được công chức vừa có tài và có đức đáp ứng yêu cầu của VTVL.

Các điều kiện tuyển dụng công chức theo VTVL của Hoa Kỳ như độ tuổi, sức khỏe, trình độ đào tạo, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, kinh nghiệm công tác… được quy định theo pháp luật. Các yêu cầu khác như đơn dự tuyển, bản khai lý lịch công tác là yêu cầu cầu bắt buộc đối với công chức. Cơ quan quản lý nhân sự liên bang thực hiện thẩm quyền tuyển dụng công chức theo VTVL. Về phương thức, việc tuyển dụng công chức phải qua thi tuyển (chú trọng phỏng vấn trực tiếp và kiểm tra thao tác thực tế) và xét tuyển, đồng thời, việc tuyển dụng phải tuân thủ theo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

- Khách quan: Các cơ quan, đơn vị tổ chức thi tuyển phải căn cứ vào yêu cầu khách quan để lựa chọn thí sinh trúng tuyển;

- Công khai: Các nội dung cần công khai trong quá trình tuyển dụng công chức như: Tiêu chuẩn dự tuyển, số lượng VTVL cần tuyển, kết quả thi tuyển, các chế độ ưu tiên...; việc tuyển chọn phải được thực hiện dựa trên năng lực và kết quả thực tế, các tiêu chí để chọn và các kỹ thuật chọn người phải đáng tin cậy, đảm bảo tìm được người phù hợp với vị trí cần tuyển;

- Bảo đảm tính cạnh tranh: Đảm bảo tinh thần cạnh tranh trong các khâu của thi tuyển và có các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo cho cạnh tranh thực hiện có hiệu quả như phải xây dựng được tiêu chuẩn thi tuyển rõ ràng, phải thông báo công khai, tổ chức thi chặt chẽ, khách quan…;

- Áp dụng chế độ thực tài trong tuyển dụng công chức theo VTVL;

- Nguyên tắc mở trong thi tuyển công chức tức là bất cứ ai đáp ứng nhu cầu VTVL đều được tham gia ứng tuyển công chức. Trong quá trình tuyển dụng công chức không có hạn chế nào đối với các thí sinh trừ khi họ không đáp ứng yêu cầu VTVL.

Về quy trình tuyển dụng công chức, bao gồm chiêu sinh, thi, tuyển dụng, thực tập, cụ thể: Việc chiêu sinh trong quá trình tuyển dụng công chức ở Hoa Kỳ được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về các VTVL, điều kiện, thời gian, địa điểm. Bất kỳ ai đáp ứng nhu cầu VTVL trong nền công vụ của Hoa Kỳ đều có thể tham gia ứng tuyển vào các vị trí còn trống. Nội dung thi tuyển nhấn mạnh đến các môn kiến thức chuyên ngành và năng lực thực thi công vụ chứ không yêu cầu tất cả các vấn đề chung. Hình thức thi là thi viết, thi vấn đáp, thi thao tác thực tế... Những người đủ tư cách được đưa vào bảng thành tích để tuyển dụng được xếp từ cao xuống thấp. Cơ quan quản lý nhân sự đưa 7 nhân viên có thành tích cao nhất cho cơ quan tuyển dụng công chức. Cơ quan tuyển dụng sẽ tiến hành điều tra và nói chuyện với những người đủ tư cách thi và lựa chọn một trong số 7 người đó. Sau khi công chức được lựa chọn phải trải qua một thời gian thử việc để kiểm tra trình độ và năng lực của công chức.

Công chức được tuyển dụng theo VTVL được chia làm ba loại: (i) Công chức hợp đồng (thời hạn hợp đồng của công chức hợp đồng thường không quá một năm, sau đó có thể ký tiếp hợp đồng, nhưng không được hưởng trợ cấp và lương hưu); (ii) Công chức có điều kiện (trong thời gian làm việc 3 năm, công chức có điều kiện được chuyển thành công chức chính thức chuyên nghiệp); (iii) Công chức chuyên nghiệp.

Hai là, quản lý, đào tạo và đánh giá công chức theo vị trí việc làm

Quản lý công chức theo VTVL là việc thu hút, duy trì và phát triển được nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng, phẩm chất đáp ứng được các nhu cầu của cơ quan hành chính nhà nước về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy pháp luật về công chức của Hoa Kỳ quy định về nguyên tắc quản lý, nội dung và thẩm quyền quản lý công chức theo VTVL.

Đào tạo, bồi dưỡng công chức theo VTVL cần được pháp luật quy định cụ thể về nội dung, hình thức, chế độ, thời gian, phương pháp nhằm xây dựng phát triển đội ngũ công chức chuyên nghiệp, mẫn cán với công việc. Các loại hình đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm: Các cơ quan thực hiện đào tạo, đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, bồi dưỡng tại chức. Cơ quan thực hiện đào tạo công chức đó là Học viện công chức hành chính liên bang.

Việc đánh giá công chức theo VTVL dựa vào thành tích và kết quả công tác của công chức theo chính VTVL. Thời điểm đánh giá công chức được đánh giá theo năm và kết hợp với đánh giá đột xuất trong trường hợp công chức được đề bạt lên vị trí cao hơn. Phương pháp đánh giá bằng cách cho điểm vào phiếu đánh giá, người quản lý trực tiếp công chức theo VTVL đánh giá. Mức độ đánh giá là: Tốt, khá, kém. Mức độ tốt tức là công chức vượt tiêu chuẩn quy định và đây là căn cứ để công chức được tăng bậc lương. Mức độ khá tức là công chức đạt tiêu chuẩn quy định. Mức độ kém tức là công chức không đạt tiêu chuẩn quy định, đây là căn cứ để xét giảm bậc lương, hạ bậc, miễn chức đối với công chức. Thêm vào đó, công chức ở Hoa Kỳ mỗi ngày còn phải viết báo cáo về các công việc đã làm hay còn gọi là nhật ký công việc với những nội dung cụ thể và số lượng công việc, kết quả công việc đã làm trong một ngày. Đó là căn cứ quan trọng để đánh giá công chức theo VTVL.

Ba là, việc đề bạt công chức và tiền lương theo vị trí việc làm

Căn cứ để đề bạt công chức theo VTVL có liên quan trực tiếp đến thành tích công việc, dựa vào kết quả đánh giá công chức theo VTVL. Việc đề bạt công chức có đề bạt trong nội bộ ngành và đề bạt bên ngoài (tức là cho phép người ngoài tham gia thi, ai giỏi nhất sẽ được thăng chức).

Về tiền lương, công chức được trả lương theo VTVL. Nguyên tắc trả tiền lương là cấp lương đồng đều, cấp lương định kỳ, tăng lương theo trượt giá, công khai. Lương được trả theo các bậc khác nhau theo quy định pháp luật. Ngoài lương còn có tiền làm thêm giờ, tiền làm ca đêm, tiền trả cho ngày nghỉ, tiền trả theo khu vực, tiền thưởng...

Đánh giá chung: Pháp luật của Hoa Kỳ quy định tương đối đầy đủ, thống nhất về chế độ công vụ theo VTVL. Đây cũng là một kinh nghiệm quý báu để Việt Nam vận dụng trong quá trình xây dựng chế độ công vụ theo VTVL ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới, thể hiện ở mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, quan tâm kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ về tuyển dụng công chức, áp dụng chủ yếu là hình thức thi tuyển mang tính chất khách quan, công bằng, không thực hiện thi tất cả các môn chung mang tính dàn trải, mà tập trung vào các môn chuyên ngành, đặc biệt chú trọng đến trình độ chuyên môn của công chức, áp dụng phương pháp phỏng vấn và kiểm tra thao tác thực tế để kiểm tra năng lực thực thi công vụ của các ứng viên.

Thứ hai, việc đánh giá, đề bạt công chức được áp dụng theo VTVL và kết quả công việc. Tiền lương của công chức Mỹ được trả theo VTVL, có chính sách tăng lương đối với những người được đánh giá là hoàn thành công việc.

Chế độ công vụ theo VTVL là chế độ công vụ còn mới đối với nước ta, vì vậy, những gợi mở của pháp luật về chế độ công vụ theo VTVL của Hoa Kỳ sẽ là những kinh nghiệm quý để chúng ta tham khảo trong quá trình xây dựng nền hành chính hiện đại phù hợp với pháp luật công vụ của các nước phát triển trên thế giới.

Trần Thị Hải Yến

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: