Thứ bảy 10/10/2026 06:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Kinh doanh bất động sản là lĩnh vực rất được các chủ đầu tư nước ngoài quan tâm, bởi đây là ngành, nghề có thể mang lại lợi nhuận lớn và với sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần vào sự phát triển chung của thị trường bất động sản Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành phạm vi kinh doanh bất động sản của chủ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phần hạn chế hơn các nhà đầu tư trong nước. Thông qua bài viết, tác giả đã phân tích một cách tổng quan pháp luật về các điều kiện để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.


1. Tổng quan pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.1. Phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Phạm vi kinh doanh bất động sản được quy định trong Luật Đất đai và Luật Kinh doanh bất động sản. So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 thì Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã mở rộng và nới nỏng hơn phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, về phạm vi tiếp cận đất đai từ phía Nhà nước

Luật Đất đai năm 2013 đã mở rộng quyền tiếp cận quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi kinh doanh bất động sản tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất giống như nhà đầu tư trong nước để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán, kết hợp bán và cho thuê (khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013); được Nhà nước cho thuê đất trả tiền 01 lần cho cả thời gian thuê hoặc thuê đất trả tiền hàng năm (khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013). Quy định này được cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng được quy định tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013 và đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư, kinh doanh trên thị trường bất động sản Việt Nam.

Tuy nhiên, theo quy định từ Điều 174 đến Điều 178 Luật Đất đai năm 2013 về tổ chức trong nước và từ Điều 183 đến Điều 187 Luật Đất đai năm 2013 về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, quyền của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với tổ chức trong nước đối với giao dịch quyền sử dụng đất vừa có sự phức tạp và vừa có sự hạn chế hơn tùy thuộc vào nguồn gốc sử dụng đất. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền giao dịch quyền sử dụng đất giống như tổ chức trong nước, nếu: (i) Doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam mà bên Việt Nam chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối và doanh nghiệp này sử dụng đất giao có thu tiền sử dụng đất hoặc đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) Doanh nghiệp liên doanh giữa tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với tổ chức kinh tế mà tổ chức kinh tế góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (iii) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế mà trả tiền thuê đất, thuê lại đất một lần cho cả thời gian thuê. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, giao đất có thu tiền sử dụng đất thì các quyền giao dịch quyền sử dụng đất hạn chế hơn tổ chức trong nước, cụ thể là không được thực hiện tặng cho quyền sử dụng đất.

Thứ hai, về phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện các hoạt động sau: (i) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; (ii) Đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước cho thuê để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iii) Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iv) Đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước giao để bán, cho thuê, cho thuê mua; (v) Đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

Tuy nhiên, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai cũng như gắn liền với các yếu tố về chủ quyền của đất nước nên Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng giới hạn phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể: Không được mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước giao; chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền theo quy định của pháp luật về đất đai; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng kỹ thuật đó; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất nhận chuyển nhượng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để chuyển nhượng, cho thuê đất đã có hạ tầng kỹ thuật đó.

Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người sử dụng đất và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có cơ hội duy nhất tiếp cận đất đai từ phía Nhà nước. Điều này phần nào đã hạn chế quyền chuyển quyền sử dụng đất trong thị trường thứ cấp, chưa thể hiện sự bình đẳng thực sự giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong kinh doanh bất động sản.

1.2. Điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Bên cạnh các điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật dân sự, theo quy định tại Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản phải đáp ứng các điều kiện như sau:

Một là, phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có ngành, nghề kinh doanh bất động sản với mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Đặc biệt, kể từ ngày 01/01/2021, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản tại Việt Nam không cần đáp ứng điều kiện “có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng” như quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

Năng lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư kinh doanh bất động sản ở Việt Nam sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện: Có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải có năng lực tài chính, phải chứng minh được khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư kinh doanh bất động sản.

Hai là, tổ chức chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật. Với quy định trên có thể hiểu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản có quy mô nhỏ không thường xuyên thì không cần phải tiến hành đăng ký ngành, nghề kinh doanh bất động sản trong hoạt động kinh doanh của mình.

1.3. Điều kiện kinh doanh dịch vụ bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải tuân thủ về chứng chỉ nghề nghiệp trong hoạt động của mình. Các chứng chỉ đó chứng minh tư cách pháp lý của chủ thể kinh doanh và khả năng cung cấp các nghiệp vụ kinh doanh phục vụ khách hàng, cụ thể:

- Trong kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản: Môi giới bất động sản là hoạt động kinh doanh dịch vụ bất động sản của các tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Theo đó, bên môi giới làm trung gian cho các bên trong việc mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản và được hưởng tiền thù lao, hoa hồng theo hợp đồng môi giới. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, phải thành lập doanh nghiệp và có ít nhất hai người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Nếu thiếu điều kiện trên, doanh nghiệp sẽ không được hoạt động kinh doanh môi giới bất động sản.

- Trong kinh doanh sàn giao dịch bất động sản: Sàn giao dịch bất động sản là “chợ” chuyên biệt, nơi trung gian thực hiện việc đưa hàng hóa bất động sản giao lưu trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, để bảo đảm thực hiện tốt các vai trò của sàn giao dịch bất động sản thì pháp luật kinh doanh bất động sản đặt ra các điều kiện cụ thể đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Qua đó, góp phần xây dựng “chợ” minh bạch về thông tin, chuyên nghiệp về cách thức tổ chức và thực hiện các giao dịch bất động sản. Theo quy định tại Điều 69 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ bất động sản cần đáp ứng các điều kiện sau: (i) Phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và không buộc phải có mức vốn pháp định tối thiểu 20 tỷ đồng khi thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bất động sản1. (ii) Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Pháp luật kinh doanh bất động sản đặt ra điều kiện người quản lý điều hành trong doanh nghiệp phải có người chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản nhằm bảo đảm hoạt động của sàn giao dịch bất động sản vững về chuyên môn, chắc về tính pháp lý và chuyên nghiệp trong kinh doanh dịch vụ bất động sản. (iii) Sàn giao dịch bất động sản phải có quy chế hoạt động, tên, địa chỉ, cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động.

Ngoài ra, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng quy định về việc cần phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động của sàn giao dịch bất động sản, tuy nhiên, đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về điều kiện cứng đối với cơ sở vật chất, kỹ thuật của sàn giao dịch bất động sản.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung về phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản, được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất không chỉ đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể kinh doanh bất động sản dưới hình thức nhận chuyển nhượng từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi dự án đầu tư đã được chấp thuận của Nhà nước. Điều này, cũng giúp cho Nhà nước kiểm soát các giao dịch “núp bóng” của nhà đầu tư nước ngoài có nguy cơ xâm phạm đến an ninh, chính trị, chủ quyền đất nước.

Thứ hai, cần có quy định đánh giá chính xác tiềm lực tài chính của những dự án đầu tư, để hạn chế tối đa những nhà đầu tư không có đủ năng lực đầu tư vào dự án kinh doanh bất động sản, bảo đảm đất đai không bị lãng phí, kém hiệu quả do tồn tại “dự án treo”, “dự án ma”.

Thứ ba, để bảo đảm cho sàn giao dịch bất động sản hoạt động có hiệu quả, đặc biệt sàn giao dịch bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì phải có quy định cụ thể về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phải đáp ứng, cần coi đó là điều kiện tiên quyết để đưa sàn vào hoạt động trên thị trường bất động sản.

ThS. Phùng Thị Phương Thảo & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: