Chủ nhật 31/05/2026 04:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Kinh doanh bất động sản là lĩnh vực rất được các chủ đầu tư nước ngoài quan tâm, bởi đây là ngành, nghề có thể mang lại lợi nhuận lớn và với sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần vào sự phát triển chung của thị trường bất động sản Việt Nam. Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành phạm vi kinh doanh bất động sản của chủ thể là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có phần hạn chế hơn các nhà đầu tư trong nước. Thông qua bài viết, tác giả đã phân tích một cách tổng quan pháp luật về các điều kiện để doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.


1. Tổng quan pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

1.1. Phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Phạm vi kinh doanh bất động sản được quy định trong Luật Đất đai và Luật Kinh doanh bất động sản. So với Luật Đất đai năm 2003, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 thì Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đã mở rộng và nới nỏng hơn phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, cụ thể:

Thứ nhất, về phạm vi tiếp cận đất đai từ phía Nhà nước

Luật Đất đai năm 2013 đã mở rộng quyền tiếp cận quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi kinh doanh bất động sản tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất giống như nhà đầu tư trong nước để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán, kết hợp bán và cho thuê (khoản 3 Điều 55 Luật Đất đai năm 2013); được Nhà nước cho thuê đất trả tiền 01 lần cho cả thời gian thuê hoặc thuê đất trả tiền hàng năm (khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013). Quy định này được cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng được quy định tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013 và đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư, kinh doanh trên thị trường bất động sản Việt Nam.

Tuy nhiên, theo quy định từ Điều 174 đến Điều 178 Luật Đất đai năm 2013 về tổ chức trong nước và từ Điều 183 đến Điều 187 Luật Đất đai năm 2013 về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, quyền của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với tổ chức trong nước đối với giao dịch quyền sử dụng đất vừa có sự phức tạp và vừa có sự hạn chế hơn tùy thuộc vào nguồn gốc sử dụng đất. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyền giao dịch quyền sử dụng đất giống như tổ chức trong nước, nếu: (i) Doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam mà bên Việt Nam chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối và doanh nghiệp này sử dụng đất giao có thu tiền sử dụng đất hoặc đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) Doanh nghiệp liên doanh giữa tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với tổ chức kinh tế mà tổ chức kinh tế góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (iii) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế mà trả tiền thuê đất, thuê lại đất một lần cho cả thời gian thuê. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, giao đất có thu tiền sử dụng đất thì các quyền giao dịch quyền sử dụng đất hạn chế hơn tổ chức trong nước, cụ thể là không được thực hiện tặng cho quyền sử dụng đất.

Thứ hai, về phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện các hoạt động sau: (i) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; (ii) Đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước cho thuê để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iii) Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; (iv) Đầu tư xây dựng nhà ở trên đất được Nhà nước giao để bán, cho thuê, cho thuê mua; (v) Đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

Tuy nhiên, xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai cũng như gắn liền với các yếu tố về chủ quyền của đất nước nên Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng giới hạn phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cụ thể: Không được mua nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua; đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước giao; chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền theo quy định của pháp luật về đất đai; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng kỹ thuật đó; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với đất nhận chuyển nhượng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để chuyển nhượng, cho thuê đất đã có hạ tầng kỹ thuật đó.

Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người sử dụng đất và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có cơ hội duy nhất tiếp cận đất đai từ phía Nhà nước. Điều này phần nào đã hạn chế quyền chuyển quyền sử dụng đất trong thị trường thứ cấp, chưa thể hiện sự bình đẳng thực sự giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong kinh doanh bất động sản.

1.2. Điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Bên cạnh các điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật dân sự, theo quy định tại Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản phải đáp ứng các điều kiện như sau:

Một là, phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có ngành, nghề kinh doanh bất động sản với mô hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Đặc biệt, kể từ ngày 01/01/2021, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản tại Việt Nam không cần đáp ứng điều kiện “có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng” như quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.

Năng lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư kinh doanh bất động sản ở Việt Nam sẽ được áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư phải có các điều kiện: Có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư; ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải có năng lực tài chính, phải chứng minh được khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư kinh doanh bất động sản.

Hai là, tổ chức chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật. Với quy định trên có thể hiểu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh bất động sản có quy mô nhỏ không thường xuyên thì không cần phải tiến hành đăng ký ngành, nghề kinh doanh bất động sản trong hoạt động kinh doanh của mình.

1.3. Điều kiện kinh doanh dịch vụ bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản, dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải tuân thủ về chứng chỉ nghề nghiệp trong hoạt động của mình. Các chứng chỉ đó chứng minh tư cách pháp lý của chủ thể kinh doanh và khả năng cung cấp các nghiệp vụ kinh doanh phục vụ khách hàng, cụ thể:

- Trong kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản: Môi giới bất động sản là hoạt động kinh doanh dịch vụ bất động sản của các tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Theo đó, bên môi giới làm trung gian cho các bên trong việc mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản và được hưởng tiền thù lao, hoa hồng theo hợp đồng môi giới. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 62 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, phải thành lập doanh nghiệp và có ít nhất hai người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Nếu thiếu điều kiện trên, doanh nghiệp sẽ không được hoạt động kinh doanh môi giới bất động sản.

- Trong kinh doanh sàn giao dịch bất động sản: Sàn giao dịch bất động sản là “chợ” chuyên biệt, nơi trung gian thực hiện việc đưa hàng hóa bất động sản giao lưu trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, để bảo đảm thực hiện tốt các vai trò của sàn giao dịch bất động sản thì pháp luật kinh doanh bất động sản đặt ra các điều kiện cụ thể đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Qua đó, góp phần xây dựng “chợ” minh bạch về thông tin, chuyên nghiệp về cách thức tổ chức và thực hiện các giao dịch bất động sản. Theo quy định tại Điều 69 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ bất động sản cần đáp ứng các điều kiện sau: (i) Phải thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp và không buộc phải có mức vốn pháp định tối thiểu 20 tỷ đồng khi thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ bất động sản1. (ii) Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản. Pháp luật kinh doanh bất động sản đặt ra điều kiện người quản lý điều hành trong doanh nghiệp phải có người chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản nhằm bảo đảm hoạt động của sàn giao dịch bất động sản vững về chuyên môn, chắc về tính pháp lý và chuyên nghiệp trong kinh doanh dịch vụ bất động sản. (iii) Sàn giao dịch bất động sản phải có quy chế hoạt động, tên, địa chỉ, cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động.

Ngoài ra, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng quy định về việc cần phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động của sàn giao dịch bất động sản, tuy nhiên, đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về điều kiện cứng đối với cơ sở vật chất, kỹ thuật của sàn giao dịch bất động sản.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung về phạm vi kinh doanh bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản, được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất không chỉ đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể kinh doanh bất động sản dưới hình thức nhận chuyển nhượng từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi dự án đầu tư đã được chấp thuận của Nhà nước. Điều này, cũng giúp cho Nhà nước kiểm soát các giao dịch “núp bóng” của nhà đầu tư nước ngoài có nguy cơ xâm phạm đến an ninh, chính trị, chủ quyền đất nước.

Thứ hai, cần có quy định đánh giá chính xác tiềm lực tài chính của những dự án đầu tư, để hạn chế tối đa những nhà đầu tư không có đủ năng lực đầu tư vào dự án kinh doanh bất động sản, bảo đảm đất đai không bị lãng phí, kém hiệu quả do tồn tại “dự án treo”, “dự án ma”.

Thứ ba, để bảo đảm cho sàn giao dịch bất động sản hoạt động có hiệu quả, đặc biệt sàn giao dịch bất động sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì phải có quy định cụ thể về điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phải đáp ứng, cần coi đó là điều kiện tiên quyết để đưa sàn vào hoạt động trên thị trường bất động sản.

ThS. Phùng Thị Phương Thảo & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: