Thứ năm 27/08/2026 04:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, làm cơ sở cho đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Khái quát về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải có nguồn tài chính, tài sản bên cạnh các yếu tố pháp lý, nhân lực… để giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định sự ra đời cũng như phát triển sau này của doanh nghiệp, bởi không có doanh nghiệp nào tồn tại mà không cần đến vốn.

Dưới góc độ ngôn ngữ học, vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh nói chung, trong hoạt động sinh lợi”[1]. Định nghĩa này cho chúng ta hình dung bước đầu về vốn, tuy chưa rõ ràng nhưng đã nêu được nguồn gốc của vốn là tổng thể những tài sản bỏ ra ban đầu và có chức năng là dùng trong sản xuất, kinh doanh.

Dưới góc độ kinh tế, xuất phát từ vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, “vốn là toàn bộ lượng tiền cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh liên tục của các chủ thể kinh doanh”. Theo đó, vốn phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, vốn là toàn bộ số tiền phải đầu tư ứng trước cho kinh doanh. Trong quá trình đầu tư sử dụng, vốn được thu hồi lại để đầu tư tiếp cho các quá trình kinh doanh tiếp theo. Nếu vốn kinh doanh bị giảm sút hoặc bị mất thì quy mô kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng xấu.

Dưới góc độ pháp lý, vốn là “tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được bằng tiền có thể sử dụng trong kinh doanh”[2]. Định nghĩa trên đã chỉ ra vốn được hình thành từ tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được bằng tiền và mục đích để sử dụng trong kinh doanh, là tiền đề trong các hoạt động đầu tư.

Ở nước ta, góp vốn trong thương mại được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Hiểu theo cách thông thường, góp vốn là việc một người hay một số người (tổ chức, cá nhân) theo quy định có quyền sử dụng tài sản đầu tư vào doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Dưới góp độ pháp lý, có thể hiểu, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn của doanh nghiệp, việc góp vốn này được thực hiện khi thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn vào doanh nghiệp đã thành lập và người góp vốn thực hiện chuyển giao quyền sở hữu tài sản góp vốn của mình cho doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) để đổi lại những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp mà mình góp vốn. Góp vốn vào doanh nghiệp có vai trò quan trọng, nhất là đối với giai đoạn doanh nghiệp mới được hình thành; đối với doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh, góp vốn cũng góp phần quyết định tới sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp.

Với những quan niệm trên, có thể khẳng định, góp vốn chính là việc đưa tài sản đầu tư hoặc đầu tư thêm vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được hiểu ở hai khía cạnh:

Thứ nhất, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp không những cho ra đời một doanh nghiệp mới mà còn tạo nên tài sản kinh doanh cho doanh nghiệp.

Bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào muốn được thành lập thì góp vốn là điều kiện, yếu tố quan trọng không thể thiếu. Góp vốn không những quyết định sự ra đời, mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó, đồng thời để bảo vệ tốt lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của người thứ ba có liên quan với doanh nghiệp. Việc góp vốn bằng tài sản giúp doanh nghiệp tạo nên một khối tài sản riêng tách bạch, củng cố tính chất độc lập về tài sản của mình để thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp vừa là nghĩa vụ nhưng cũng là quyền lợi của chủ sở hữu.

Khi xem góp vốn là nghĩa vụ, thì đây là nghĩa vụ của nhà đầu tư, khi nhà đầu tư cam kết hay thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp là việc nhà đầu tư đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của doanh nghiệp. Khi nhà đầu tư góp tài sản vào doanh nghiệp, tài sản đó thuộc sở hữu của doanh nghiệp - một thực thể pháp lý độc lập. Nếu nhà đầu tư không góp vốn hoặc góp vốn chậm thì doanh nghiệp có quyền đòi và với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì tổ chức, cá nhân góp vốn sẽ phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định.

Khi xem góp vốn là quyền lợi, sau khi đã góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ được hưởng những quyền lợi từ hành vi góp vốn. Góp vốn tạo cho chủ sở hữu duy nhất hay cho các thành viên góp vốn được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp tương ứng mà mình đầu tư. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn hay số cổ phần mà mỗi thành viên đó nắm giữ trong doanh nghiệp.

Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thỏa thuận góp vốn vào doanh nghiệp, giảm thiểu tranh chấp xảy ra, giữa các bên góp vốn thường ký cam kết cụ thể về các nội dung như người góp vốn, tài sản đem góp vốn, số lượng, giá trị từng loại tài sản góp vốn, thời điểm, trình tự, thủ tục góp vốn…

2. Tổng quan pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

2.1. Khái niệm pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi tất yếu khách quan phải có tích lũy vốn để tái sản xuất, mở rộng sản xuất và nhu cầu huy động vốn cho hoạt động kinh doanh đã thúc đẩy các nhà đầu tư tìm đến những hình thức tổ chức kinh doanh - các loại hình doanh nghiệp. Việc góp vốn chính là đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế và mặt khác, nền sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật và công nghệ càng cao, cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh càng lớn, hậu quả dẫn đến có nhiều nhà đầu tư bị phá sản. Do đó, góp vốn vào doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng cách cùng chia sẻ đầu tư với những người khác nhằm bảo đảm an toàn cho đồng vốn của mình. Góp vốn giúp các nhà đầu tư tập trung được tiềm lực vật chất đủ mạnh để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Từ vai trò, vị trí của quan hệ liên kết vốn, góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thương trường đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp.

Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hình thức tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, định giá tài sản góp vốn, chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn và các nội dung khác có liên quan đến việc góp vốn vào doanh nghiệp.

2.2. Cấu trúc pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Về mặt lý luận, cấu trúc pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật. Hệ thống cấu trúc có 03 thành tố cơ bản ở 03 cấp độ khác nhau là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật.

Cấu trúc pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến việc tổ chức, cá nhân góp vốn khi thành lập hoặc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ nhất, cấu trúc hình thức: Góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được điều chỉnh bởi các văn bản sau:

- Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản là căn cứ để xác định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp tại Điều 34 nhưng theo nguyên tắc luật chung và luật chuyên ngành, tài sản góp vốn phải thoả mãn các điều kiện trở thành tài sản được quy định tại luật chung (Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015) thì mới xác định tài sản đó đủ điều kiện góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Như vậy, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp ngoài việc xác định theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, đồng thời phải là tài sản thỏa mãn điều kiện của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Luật Doanh nghiệp năm 2020 là văn bản pháp lý điều chỉnh toàn diện, tổng thể về góp vốn thành lập tất cả bốn loại hình công ty và góp vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân nhưng quy định về góp vốn đầu tư bằng tài sản vào doanh nghiệp tư nhân đơn giản hơn bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020 xác định vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định về việc góp thêm tài sản vào vốn điều lệ của doanh nghiệp đã thành lập là quyền của của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty hợp danh, cổ đông của công ty cổ phần.

- Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 51 đăng ký thay đổi vốn điều lệ, phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp của các loại hình công ty và Điều 55 đăng ký thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân. Thông qua các quy định này, Nhà nước hướng tới việc cho các chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu có thể thay đổi loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, tỷ lệ phần tài sản góp vốn của các thành viên nếu doanh nghiệp có từ hai chủ sở hữu trở lên khác với tài sản góp vốn trước đó và việc thay đổi này phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được coi là hợp pháp.

- Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành quy định về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp trong những trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với ngành nghề phải có vốn pháp định. Có thể hiểu, vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp. Tùy theo ngành, nghề, lĩnh vực mà mức vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp có thể khác nhau. Văn bản pháp luật chuyên ngành quy định mức góp vốn bằng tài sản tối thiểu mà tổ chức, cá nhân phải bảo đảm để thành lập doanh nghiệp trong ngành, nghề kinh doanh đó.

Thứ hai, cấu trúc nội dung: Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp quy định về các vấn đề sau:

- Tài sản góp vốn vào doanh nghiệp: Tài sản theo pháp luật Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cạnh đó, Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ ràng hơn về tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Về phương diện kinh tế, tài sản là một khái niệm “động”, không cố định, luôn thay đổi, có mục đích sử dụng cao và phải đáp ứng được nhu cầu của con người, nhất là nhu cầu sử dụng tài sản đó vào các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, khi kinh tế phát triển, người ta có khuynh hướng mở rộng khái niệm tài sản mà không cố định trong phạm vi hẹp theo nhóm hay liệt kê các tài sản cụ thể.

Khi bàn về tài sản, thường có nhiều quan điểm khác nhau, bởi ngoài yếu tố kinh tế, pháp lý, còn phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ của mỗi quốc gia trong những giai đoạn phát triển cụ thể. Do vậy, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau, tài sản nói chung và tài sản góp vốn vào doanh nghiệp nói riêng cũng có sự thay đổi.

- Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn: Về cơ bản, doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, bản chất của pháp nhân là có tài sản độc lập với tài sản của chủ sở hữu hay các thành viên đã tạo lập nên pháp nhân đó, còn gọi là nguyên tắc tách bạch tài sản. Hành vi góp vốn chính là hành vi tạo lập nên pháp nhân - doanh nghiệp. Vì vậy, chủ sở hữu, các đồng chủ sở hữu góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân). Việc góp vốn có thể được thực hiện bằng các loại tài sản khác nhau, do đó việc chuyển quyền sở hữu tài sản cũng phải theo các quy chế pháp lý khác nhau tương ứng với từng loại tài sản. Ví dụ: Góp vốn bằng quyền sử dụng đất sẽ có những quy định riêng, khác với góp vốn bằng tiền là đồng Việt Nam hay góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ có những quy định đặc thù riêng, khác với các loại tài sản khác mang tính hữu hình.

Vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản cho doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp và được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp sẽ phức tạp và có độ rủi ro cao, bởi doanh nghiệp là một thực thể nhân tạo. Vì vậy, pháp luật phải có những quy định cụ thể, riêng biệt về mặt thủ tục cũng như cách thức chuyển giao quyền sở hữu đối với các loại tài sản theo các quy định pháp luật về sở hữu. Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc về chuyển quyền sở hữu tài sản từ người góp tài sản sang cho doanh nghiệp.

- Định giá tài sản góp vốn: Định giá tài sản góp vốn có ý nghĩa quan trọng bởi mục đích của định giá trước tiên là xác định giá trị vốn góp của các chủ sở hữu, các thành viên, cổ đông vào doanh nghiệp, qua đó bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các thành viên hay cổ đông trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc định giá còn nhằm xác định đúng giá trị tài sản của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho các đối tác của doanh nghiệp. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới còn quy định, nếu doanh nghiệp có nhiều thành viên, cổ đông trở lên có tài sản góp vốn phải định giá thì thành viên, cổ đông không được tham gia biểu quyết việc định giá, họ chỉ được giải thích về những vấn đề có liên quan đến tài sản định giá. Riêng đối với công ty cổ phần, những người tham gia định giá còn không phải chịu trách nhiệm trước các đối tác của công ty, trừ khi họ có hành vi gian dối hoặc giá trị tài sản định giá có sự sai lệch quá mức.

- Xử lý vi phạm góp vốn: Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp Việt Nam và các quốc gia trên thế giới cơ bản đều quy định cấu trúc góp vốn vào doanh nghiệp gồm: Tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, tăng, giảm vốn đối với từng loại hình doanh nghiệp nhằm tạo ra hành lang pháp lý để các doanh nghiệp tổ chức, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích cho các nhà đầu tư khi góp vốn thành lập doanh nghiệp.

Tuy nhiên, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp có thể có những vi phạm thuộc các dạng:

+ Vi phạm về thời hạn góp vốn: Quy định thời hạn góp vốn vào doanh nghiệp nhằm hướng đến việc nhà đầu tư góp vốn đúng thời gian được giới hạn theo luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, cam kết là lời hứa của nhà đầu tư, việc thực hiện đúng hạn góp vốn hay không thì không phải nhà đầu tư nào cũng thực hiện đúng. Thực hiện đúng có nghĩa là nhà đầu tư cam kết góp vốn nhưng việc góp vốn bằng tài sản đó phải được chuyển giao cho doanh nghiệp trong thời hạn luật định. Ở nước ta, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần góp vốn trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng góp vốn đúng thời hạn trên, đặc biệt là đối với trường hợp góp vốn bằng tài sản khi thành lập doanh nghiệp.

+ Vi phạm tính đầy đủ: Về nguyên tắc, khi góp vốn vào doanh nghiệp, nhà đầu tư cam kết số lượng tài sản góp vào doanh nghiệp và phải thực hiện đúng cam kết đó. Thực tế, có tình trạng khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì cam kết góp vốn quá lớn mà sau lại không có khả năng góp đủ như đã cam kết hoặc có những trường hợp cố tình không góp góp đủ vào doanh nghiệp là tình trạng xảy ra phổ biến ở nhiều doanh nghiệp hiện nay.

+ Vi phạm đối với loại tài sản góp vốn: Góp vốn không chỉ là góp đủ số lượng tài sản mà còn phải góp đúng tài sản cam kết trước đó, mặc dù góp đủ nhưng không đúng tài sản cam kết thì cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ góp vốn.

+ Vi phạm nghĩa vụ thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu: Pháp luật ở các quốc gia quy định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp với nhiều loại chứ không chỉ là một loại tài sản duy nhất, ở Việt Nam, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, có loại khi góp vốn không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu mà chỉ cần thực hiện giao nhận và có lập biên bản nhưng bên cạnh đó, có một số loại tài sản theo quy định của pháp luật chủ sở hữu phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền sang doanh nghiệp, điển hình là các tài sản như: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, các loại tài sản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, tài sản là các phương tiện phải thực hiện thủ tục đăng ký như ô tô, xe máy. Lý do phải thực hiện thủ tục để chuyển giao quyền sở hữu từ nhà đầu tư sang cho doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền với mục đích để doanh nghiệp có tư cách pháp lý hợp pháp trong sở hữu tài sản góp vốn của nhà đầu tư.

Vì vậy, tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn vào doanh nghiệp khi không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn thì theo pháp luật các quốc gia, tùy vào loại hình doanh nghiệp mà thành viên không thực hiện đúng cam kết sẽ được xử lý khác nhau, hoặc là khoản nợ của chủ đầu tư với doanh nghiệp, hoặc chủ đầu tư phải bồi thường thiệt hại, có thể chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Trong trường hợp không góp vốn như cam kết ban đầu, nếu là doanh nghiệp một chủ, đây là điều kiện để xem xét thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, còn đối với doanh nghiệp nhiều chủ thì việc chưa đủ góp vốn sẽ đương nhiên không còn là thành viên, cổ đông doanh nghiệp, điều đó đồng thời thành viên, cổ đông đó mất toàn bộ quyền của mình trong doanh nghiệp nhưng không đồng nghĩa với việc họ cũng không còn nghĩa vụ gì đối với doanh nghiệp.

Tóm lại, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Vì khi thành lập, góp vốn là điều kiện để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; khi doanh nghiệp hoạt động, vốn là tài sản duy trì hoạt động của doanh nghiệp đó. Nhìn nhận dưới yếu tố kinh tế và yếu tố pháp lý, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp là không thể thiếu cho từng doanh nghiệp nói riêng cũng như quá trình hình thành các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung. Do đó, tìm hiểu những vấn đề lý luận và khái quát pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp giúp hiểu đầy đủ, rõ hơn về ý nghĩa, vai trò cũng như những quy định pháp lý của góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp./.

ThS. Trần Danh Phú

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Từ điển Tiếng Việt (1998), Nxb. Đà Nẵng, tr. 1087.

[2]. Từ điển Luật học (2006), Nxb. Tư pháp & Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 857.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: