Chủ nhật 15/03/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, làm cơ sở cho đề xuất hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

1. Khái quát về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải có nguồn tài chính, tài sản bên cạnh các yếu tố pháp lý, nhân lực… để giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định sự ra đời cũng như phát triển sau này của doanh nghiệp, bởi không có doanh nghiệp nào tồn tại mà không cần đến vốn.

Dưới góc độ ngôn ngữ học, vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất, kinh doanh nói chung, trong hoạt động sinh lợi”[1]. Định nghĩa này cho chúng ta hình dung bước đầu về vốn, tuy chưa rõ ràng nhưng đã nêu được nguồn gốc của vốn là tổng thể những tài sản bỏ ra ban đầu và có chức năng là dùng trong sản xuất, kinh doanh.

Dưới góc độ kinh tế, xuất phát từ vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, “vốn là toàn bộ lượng tiền cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh liên tục của các chủ thể kinh doanh”. Theo đó, vốn phải có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, vốn là toàn bộ số tiền phải đầu tư ứng trước cho kinh doanh. Trong quá trình đầu tư sử dụng, vốn được thu hồi lại để đầu tư tiếp cho các quá trình kinh doanh tiếp theo. Nếu vốn kinh doanh bị giảm sút hoặc bị mất thì quy mô kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng xấu.

Dưới góc độ pháp lý, vốn là “tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được bằng tiền có thể sử dụng trong kinh doanh”[2]. Định nghĩa trên đã chỉ ra vốn được hình thành từ tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được bằng tiền và mục đích để sử dụng trong kinh doanh, là tiền đề trong các hoạt động đầu tư.

Ở nước ta, góp vốn trong thương mại được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Hiểu theo cách thông thường, góp vốn là việc một người hay một số người (tổ chức, cá nhân) theo quy định có quyền sử dụng tài sản đầu tư vào doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Dưới góp độ pháp lý, có thể hiểu, góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn của doanh nghiệp, việc góp vốn này được thực hiện khi thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn vào doanh nghiệp đã thành lập và người góp vốn thực hiện chuyển giao quyền sở hữu tài sản góp vốn của mình cho doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân) để đổi lại những lợi ích nhất định từ doanh nghiệp mà mình góp vốn. Góp vốn vào doanh nghiệp có vai trò quan trọng, nhất là đối với giai đoạn doanh nghiệp mới được hình thành; đối với doanh nghiệp đã hoạt động kinh doanh, góp vốn cũng góp phần quyết định tới sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp.

Với những quan niệm trên, có thể khẳng định, góp vốn chính là việc đưa tài sản đầu tư hoặc đầu tư thêm vào doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được hiểu ở hai khía cạnh:

Thứ nhất, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp không những cho ra đời một doanh nghiệp mới mà còn tạo nên tài sản kinh doanh cho doanh nghiệp.

Bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào muốn được thành lập thì góp vốn là điều kiện, yếu tố quan trọng không thể thiếu. Góp vốn không những quyết định sự ra đời, mà còn thể hiện khả năng gánh chịu nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó, đồng thời để bảo vệ tốt lợi ích của doanh nghiệp cũng như lợi ích của người thứ ba có liên quan với doanh nghiệp. Việc góp vốn bằng tài sản giúp doanh nghiệp tạo nên một khối tài sản riêng tách bạch, củng cố tính chất độc lập về tài sản của mình để thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp vừa là nghĩa vụ nhưng cũng là quyền lợi của chủ sở hữu.

Khi xem góp vốn là nghĩa vụ, thì đây là nghĩa vụ của nhà đầu tư, khi nhà đầu tư cam kết hay thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp là việc nhà đầu tư đã tự ràng buộc mình trở thành con nợ của doanh nghiệp. Khi nhà đầu tư góp tài sản vào doanh nghiệp, tài sản đó thuộc sở hữu của doanh nghiệp - một thực thể pháp lý độc lập. Nếu nhà đầu tư không góp vốn hoặc góp vốn chậm thì doanh nghiệp có quyền đòi và với việc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì tổ chức, cá nhân góp vốn sẽ phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định.

Khi xem góp vốn là quyền lợi, sau khi đã góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ được hưởng những quyền lợi từ hành vi góp vốn. Góp vốn tạo cho chủ sở hữu duy nhất hay cho các thành viên góp vốn được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp tương ứng mà mình đầu tư. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, các quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên còn phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn hay số cổ phần mà mỗi thành viên đó nắm giữ trong doanh nghiệp.

Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho thỏa thuận góp vốn vào doanh nghiệp, giảm thiểu tranh chấp xảy ra, giữa các bên góp vốn thường ký cam kết cụ thể về các nội dung như người góp vốn, tài sản đem góp vốn, số lượng, giá trị từng loại tài sản góp vốn, thời điểm, trình tự, thủ tục góp vốn…

2. Tổng quan pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

2.1. Khái niệm pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi tất yếu khách quan phải có tích lũy vốn để tái sản xuất, mở rộng sản xuất và nhu cầu huy động vốn cho hoạt động kinh doanh đã thúc đẩy các nhà đầu tư tìm đến những hình thức tổ chức kinh doanh - các loại hình doanh nghiệp. Việc góp vốn chính là đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế và mặt khác, nền sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật và công nghệ càng cao, cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh càng lớn, hậu quả dẫn đến có nhiều nhà đầu tư bị phá sản. Do đó, góp vốn vào doanh nghiệp giúp các nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng cách cùng chia sẻ đầu tư với những người khác nhằm bảo đảm an toàn cho đồng vốn của mình. Góp vốn giúp các nhà đầu tư tập trung được tiềm lực vật chất đủ mạnh để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra.

Từ vai trò, vị trí của quan hệ liên kết vốn, góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thương trường đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp.

Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật quy định về hình thức tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, định giá tài sản góp vốn, chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn và các nội dung khác có liên quan đến việc góp vốn vào doanh nghiệp.

2.2. Cấu trúc pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp

Về mặt lý luận, cấu trúc pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật. Hệ thống cấu trúc có 03 thành tố cơ bản ở 03 cấp độ khác nhau là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật.

Cấu trúc pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến việc tổ chức, cá nhân góp vốn khi thành lập hoặc trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ nhất, cấu trúc hình thức: Góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp được điều chỉnh bởi các văn bản sau:

- Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản là căn cứ để xác định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp tại Điều 34 nhưng theo nguyên tắc luật chung và luật chuyên ngành, tài sản góp vốn phải thoả mãn các điều kiện trở thành tài sản được quy định tại luật chung (Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015) thì mới xác định tài sản đó đủ điều kiện góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Như vậy, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp ngoài việc xác định theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, đồng thời phải là tài sản thỏa mãn điều kiện của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Luật Doanh nghiệp năm 2020 là văn bản pháp lý điều chỉnh toàn diện, tổng thể về góp vốn thành lập tất cả bốn loại hình công ty và góp vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân nhưng quy định về góp vốn đầu tư bằng tài sản vào doanh nghiệp tư nhân đơn giản hơn bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020 xác định vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định về việc góp thêm tài sản vào vốn điều lệ của doanh nghiệp đã thành lập là quyền của của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty hợp danh, cổ đông của công ty cổ phần.

- Văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2020, cụ thể: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 51 đăng ký thay đổi vốn điều lệ, phần vốn góp, tỷ lệ phần vốn góp của các loại hình công ty và Điều 55 đăng ký thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân. Thông qua các quy định này, Nhà nước hướng tới việc cho các chủ sở hữu, đồng chủ sở hữu có thể thay đổi loại tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, tỷ lệ phần tài sản góp vốn của các thành viên nếu doanh nghiệp có từ hai chủ sở hữu trở lên khác với tài sản góp vốn trước đó và việc thay đổi này phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được coi là hợp pháp.

- Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành quy định về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp trong những trường hợp doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với ngành nghề phải có vốn pháp định. Có thể hiểu, vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp. Tùy theo ngành, nghề, lĩnh vực mà mức vốn pháp định khi thành lập doanh nghiệp có thể khác nhau. Văn bản pháp luật chuyên ngành quy định mức góp vốn bằng tài sản tối thiểu mà tổ chức, cá nhân phải bảo đảm để thành lập doanh nghiệp trong ngành, nghề kinh doanh đó.

Thứ hai, cấu trúc nội dung: Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp quy định về các vấn đề sau:

- Tài sản góp vốn vào doanh nghiệp: Tài sản theo pháp luật Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cạnh đó, Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định rõ ràng hơn về tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Về phương diện kinh tế, tài sản là một khái niệm “động”, không cố định, luôn thay đổi, có mục đích sử dụng cao và phải đáp ứng được nhu cầu của con người, nhất là nhu cầu sử dụng tài sản đó vào các hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, khi kinh tế phát triển, người ta có khuynh hướng mở rộng khái niệm tài sản mà không cố định trong phạm vi hẹp theo nhóm hay liệt kê các tài sản cụ thể.

Khi bàn về tài sản, thường có nhiều quan điểm khác nhau, bởi ngoài yếu tố kinh tế, pháp lý, còn phụ thuộc vào phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ của mỗi quốc gia trong những giai đoạn phát triển cụ thể. Do vậy, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau, tài sản nói chung và tài sản góp vốn vào doanh nghiệp nói riêng cũng có sự thay đổi.

- Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn: Về cơ bản, doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, bản chất của pháp nhân là có tài sản độc lập với tài sản của chủ sở hữu hay các thành viên đã tạo lập nên pháp nhân đó, còn gọi là nguyên tắc tách bạch tài sản. Hành vi góp vốn chính là hành vi tạo lập nên pháp nhân - doanh nghiệp. Vì vậy, chủ sở hữu, các đồng chủ sở hữu góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân). Việc góp vốn có thể được thực hiện bằng các loại tài sản khác nhau, do đó việc chuyển quyền sở hữu tài sản cũng phải theo các quy chế pháp lý khác nhau tương ứng với từng loại tài sản. Ví dụ: Góp vốn bằng quyền sử dụng đất sẽ có những quy định riêng, khác với góp vốn bằng tiền là đồng Việt Nam hay góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng sẽ có những quy định đặc thù riêng, khác với các loại tài sản khác mang tính hữu hình.

Vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản cho doanh nghiệp để trở thành chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp và được hưởng quyền lợi từ doanh nghiệp sẽ phức tạp và có độ rủi ro cao, bởi doanh nghiệp là một thực thể nhân tạo. Vì vậy, pháp luật phải có những quy định cụ thể, riêng biệt về mặt thủ tục cũng như cách thức chuyển giao quyền sở hữu đối với các loại tài sản theo các quy định pháp luật về sở hữu. Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc về chuyển quyền sở hữu tài sản từ người góp tài sản sang cho doanh nghiệp.

- Định giá tài sản góp vốn: Định giá tài sản góp vốn có ý nghĩa quan trọng bởi mục đích của định giá trước tiên là xác định giá trị vốn góp của các chủ sở hữu, các thành viên, cổ đông vào doanh nghiệp, qua đó bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư, bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa các thành viên hay cổ đông trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc định giá còn nhằm xác định đúng giá trị tài sản của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi cho các đối tác của doanh nghiệp. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới còn quy định, nếu doanh nghiệp có nhiều thành viên, cổ đông trở lên có tài sản góp vốn phải định giá thì thành viên, cổ đông không được tham gia biểu quyết việc định giá, họ chỉ được giải thích về những vấn đề có liên quan đến tài sản định giá. Riêng đối với công ty cổ phần, những người tham gia định giá còn không phải chịu trách nhiệm trước các đối tác của công ty, trừ khi họ có hành vi gian dối hoặc giá trị tài sản định giá có sự sai lệch quá mức.

- Xử lý vi phạm góp vốn: Pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp Việt Nam và các quốc gia trên thế giới cơ bản đều quy định cấu trúc góp vốn vào doanh nghiệp gồm: Tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, tăng, giảm vốn đối với từng loại hình doanh nghiệp nhằm tạo ra hành lang pháp lý để các doanh nghiệp tổ chức, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích cho các nhà đầu tư khi góp vốn thành lập doanh nghiệp.

Tuy nhiên, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp có thể có những vi phạm thuộc các dạng:

+ Vi phạm về thời hạn góp vốn: Quy định thời hạn góp vốn vào doanh nghiệp nhằm hướng đến việc nhà đầu tư góp vốn đúng thời gian được giới hạn theo luật định. Tuy nhiên, trên thực tế, cam kết là lời hứa của nhà đầu tư, việc thực hiện đúng hạn góp vốn hay không thì không phải nhà đầu tư nào cũng thực hiện đúng. Thực hiện đúng có nghĩa là nhà đầu tư cam kết góp vốn nhưng việc góp vốn bằng tài sản đó phải được chuyển giao cho doanh nghiệp trong thời hạn luật định. Ở nước ta, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần góp vốn trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng góp vốn đúng thời hạn trên, đặc biệt là đối với trường hợp góp vốn bằng tài sản khi thành lập doanh nghiệp.

+ Vi phạm tính đầy đủ: Về nguyên tắc, khi góp vốn vào doanh nghiệp, nhà đầu tư cam kết số lượng tài sản góp vào doanh nghiệp và phải thực hiện đúng cam kết đó. Thực tế, có tình trạng khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì cam kết góp vốn quá lớn mà sau lại không có khả năng góp đủ như đã cam kết hoặc có những trường hợp cố tình không góp góp đủ vào doanh nghiệp là tình trạng xảy ra phổ biến ở nhiều doanh nghiệp hiện nay.

+ Vi phạm đối với loại tài sản góp vốn: Góp vốn không chỉ là góp đủ số lượng tài sản mà còn phải góp đúng tài sản cam kết trước đó, mặc dù góp đủ nhưng không đúng tài sản cam kết thì cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ góp vốn.

+ Vi phạm nghĩa vụ thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu: Pháp luật ở các quốc gia quy định tài sản góp vốn vào doanh nghiệp với nhiều loại chứ không chỉ là một loại tài sản duy nhất, ở Việt Nam, tài sản góp vốn vào doanh nghiệp, có loại khi góp vốn không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu mà chỉ cần thực hiện giao nhận và có lập biên bản nhưng bên cạnh đó, có một số loại tài sản theo quy định của pháp luật chủ sở hữu phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền sang doanh nghiệp, điển hình là các tài sản như: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, các loại tài sản liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, tài sản là các phương tiện phải thực hiện thủ tục đăng ký như ô tô, xe máy. Lý do phải thực hiện thủ tục để chuyển giao quyền sở hữu từ nhà đầu tư sang cho doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền với mục đích để doanh nghiệp có tư cách pháp lý hợp pháp trong sở hữu tài sản góp vốn của nhà đầu tư.

Vì vậy, tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn vào doanh nghiệp khi không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn thì theo pháp luật các quốc gia, tùy vào loại hình doanh nghiệp mà thành viên không thực hiện đúng cam kết sẽ được xử lý khác nhau, hoặc là khoản nợ của chủ đầu tư với doanh nghiệp, hoặc chủ đầu tư phải bồi thường thiệt hại, có thể chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Trong trường hợp không góp vốn như cam kết ban đầu, nếu là doanh nghiệp một chủ, đây là điều kiện để xem xét thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, còn đối với doanh nghiệp nhiều chủ thì việc chưa đủ góp vốn sẽ đương nhiên không còn là thành viên, cổ đông doanh nghiệp, điều đó đồng thời thành viên, cổ đông đó mất toàn bộ quyền của mình trong doanh nghiệp nhưng không đồng nghĩa với việc họ cũng không còn nghĩa vụ gì đối với doanh nghiệp.

Tóm lại, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp. Vì khi thành lập, góp vốn là điều kiện để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; khi doanh nghiệp hoạt động, vốn là tài sản duy trì hoạt động của doanh nghiệp đó. Nhìn nhận dưới yếu tố kinh tế và yếu tố pháp lý, góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp là không thể thiếu cho từng doanh nghiệp nói riêng cũng như quá trình hình thành các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung. Do đó, tìm hiểu những vấn đề lý luận và khái quát pháp luật về góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp giúp hiểu đầy đủ, rõ hơn về ý nghĩa, vai trò cũng như những quy định pháp lý của góp vốn bằng tài sản vào doanh nghiệp./.

ThS. Trần Danh Phú

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Từ điển Tiếng Việt (1998), Nxb. Đà Nẵng, tr. 1087.

[2]. Từ điển Luật học (2006), Nxb. Tư pháp & Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 857.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: