Thứ năm 30/04/2026 03:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam

Quan hệ giữa các chủ thể trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề phải dựa trên những tiêu chí, căn cứ nhất định, đó là các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam. Kiểm soát ô nhiễm là một trong những nội dung quan trọng nhằm cải thiện môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại các khu vực làng nghề.

1. Yêu cầu đối với pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra

Do vậy, những quan điểm, chính sách bảo vệ môi trường của Nhà nước nói chung, trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề nói riêng sẽ được Nhà nước cụ thể hóa vào trong các quy phạm pháp luật. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt nam sẽ hiện thực hóa những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực này vào trong thực tiễn đời sống cụ thể ở các làng nghề. Kiểm soát ô nhiễm khi đã được luật hóa thành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra sẽ trở thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, khi đó vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề không chỉ đơn thuần xâm hại đến các yêu cầu, đòi hỏi của nó, mà còn xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Để pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường là hình thức thể hiện và đảm bảo thực hiện tốt nhất tại các làng nghề, thì cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:

Thứ nhất, khi xây dựng các nội dung trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra cần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, cụ thể là người dân của các làng nghề được quyền sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với thiên nhiên. Trong giai đoạn hiện nay, quyền con người, dân chủ và công bằng là những vấn đề rất được Đảng và Nhà nước ta đề cao, do vậy, yêu cầu tôn trọng quyền về môi trường của con người đã được đặt ra ngay từ những bước đầu xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề. Ngân hàng Thế giới đánh giá chất lượng cuộc sống con người của các nước dựa vào 3 tiêu chí: Thu nhập của người dân, hệ thống an sinh xã hội và chất lượng môi trường. Từ mục đích đảm bảo cho con người có được chất lượng môi trường trong lành ở các làng nghề, các nhà làm luật đã đưa ra những lập luận về tầm quan trọng của quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền quyết định đến vấn đề sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống nói chung; phân tích, đánh giá thực trạng môi trường ở các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm, suy thoái nên quyền tự nhiên này của người dân làng nghề đang bị xâm phạm; căn cứ vào những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới là thể chế quyền này trong pháp luật quốc gia, theo đó, không ràng buộc các quốc gia về mặt pháp lý, nhưng ràng buộc về mặt chính trị, đạo lý buộc chúng ta phải thực hiện1. Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các nhà xây dựng luật dựa trên những yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật: Từ giả định gồm chủ thể, điều kiện, hoàn cảnh để đưa ra quy định bắt buộc những chủ thể đó khi rơi vào điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định phải thực hiện, nếu không thực hiện sẽ bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế theo quy định ở phần chế tài. Để đảm bảo kiểm soát ô nhiễm tốt tại các làng nghề, thì việc đặt ra các điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định, đưa ra những quy định của Nhà nước ở phần quy định và sự cưỡng chế của Nhà nước ở phần chế tài phải đảm khoa học và chặt chẽ. Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề phải nghiêm túc, đúng tinh thần của pháp luật. Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân ở các khu vực làng nghề được sống trong một môi trường trong lành. Đáp ứng được yêu cầu này đồng nghĩa với việc thực hiện đúng mục đích của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước đưa ra các quy định tạo cơ sở pháp lý để người dân ở các làng nghề bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân2. Như vậy, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề khi xem xét cần đứng trên nhiều góc độ nhưng không thể bỏ qua quan điểm vì lợi ích của con người.

Thứ hai, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu về phát triển bền vững3. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, phát triển bền vững được hiểu là: “Phát triển để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Quy định này nhấn mạnh việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu hiện tại phải chú ý trữ lượng hiện có để dành cho thế hệ sau. Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Tuy còn nhiều tranh luận về khái niệm “phát triển bền vững”, song đã có sự thống nhất cao là đều tập trung chú trọng phúc lợi lâu dài của con người và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp một cách hài hòa ít nhất ba phương diện là tăng trưởng kinh tế; bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, có nhiều quan điểm còn đề cập những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán, cân đối chúng trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể. Căn cứ vào tầm quan trọng của môi trường và phát triển kinh tế tại các làng nghề, dựa vào mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển kinh tế tại các làng nghề Việt Nam, thì muốn phát triển phải bảo vệ môi trường và ngược lại. Có thể khẳng định, kiểm soát, bảo vệ tốt môi trường ở các làng nghề đồng nghĩa với việc bảo vệ tốt mục tiêu phát triển bền vững của người dân tại các khu vực làng nghề. Như vậy, yêu cầu đặt ra là cần có sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, việc khai thác tài nguyên và xả thải phải trong giới hạn, trong khả năng tự làm sạch của môi trường4. Việc ghi nhận và tôn trọng yêu cầu phát triển bền vững trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam là cách thức để các chủ thể trong quan hệ này nhận thức một cách đúng đắn đối với việc hạn chế tới mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển bền vững kinh tế tại các làng nghề.

Thứ ba, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa, tức là chủ động ngăn chặn rủi ro, mà các chủ thể có thể gây ra cho môi trường ở làng nghề. Hoạt động kiểm soát, bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái để cải thiện chất lượng môi trường ở làng nghề. Các nhà làm luật dựa trên cơ sở chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục, phục hồi môi trường. Từ đó đặt ra yêu cầu lường trước những rủi ro và đưa ra được những phương án, biện pháp phù hợp để giảm thiểu, loại trừ những rủi ro đó.

Thứ tư, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền, phải khắc phục ô nhiễm, có nghĩa là chủ thể gây hậu quả, tác động xấu đến môi trường, thì phải trả tiền để mua quyền khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quy định bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được5. Chủ thể phải trả tiền có thể là người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; người có hành vi xả thải vào môi trường làng nghề; người có những hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường ở làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Tiền trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường làng nghề, phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan đến hoạt động làng nghề, có như vậy mới đủ sức răn đe đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường ở làng nghề. Hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm có thể là thuế tài nguyên, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường hay chi phí sử dụng dịch vụ (thu gom rác, quản lý chất thải nguy hại...) ở làng nghề, kinh phí sử dụng cơ sở hạ tầng: Ví dụ như tiền thuê kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tập trung... Ngoài ra, hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm cũng có thể là chi phí phục hồi môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên6.

Thứ năm, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu cho mọi chủ thể (Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân…) tại các khu vực làng nghề biết. Chẳng hạn như: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật quản lý chất thải, từ phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… chất thải, chất thải nguy hại ở các làng nghề như thế nào? Quy định rõ những đối tượng nào phải đánh giá môi trường khi thực hiện các mục đích phát triển gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người ở làng nghề? Ngoài ra, cũng phải chỉ rõ chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm, về thủ tục cũng như quy định cụ thể mức xử lý vi phạm là bao nhiêu đối với mỗi hành vi vi phạm... để các chủ thể có liên quan dễ dàng cập nhật và áp dụng.

Thứ sáu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam phải mang tính ổn định và phù hợp với xu thế phát triển bền vững tại các làng nghề. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển hiện nay, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường sẽ giao thoa với quan niệm và nhận thức về lĩnh vực này của các nước trên thế giới. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các làng nghề trong từng giai đoạn cụ thể, cần đi vào thực tiễn cuộc sống ở các làng nghề. Những yêu cầu của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra đã đề cập trên đây cần phải được thực hiện và có tính khả thi. Có thể nói, đây là yêu cầu quan trọng, bởi vì pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không thể tự mình đi vào trong thực tiễn, vì thế, cần tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh tại các làng nghề. Việc xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phải được tiến hành một cách đồng bộ, đồng thời xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật.

2. Nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam

Dễ dàng nhận thấy kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Môi trường thực sự đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân làng nghề. Do vậy, trong kiểm soát ô nhiễm môi trường, quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến hoạt động làng nghề phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường. Để kiểm soát ô nhiễm môi trường có hiệu quả cao ở các làng nghề, ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực đến con người và các hệ động thực vật, vấn đề này phải được thực hiện trong một trật tự nhất định; các quy định về kiểm soát ô nhiễm phải được tổ chức thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của các làng nghề. Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực chính trị, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật để thể chế các quan điểm, đường lối, chính sách của mình liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề, quy định quy trình thực hiện hoạt động ngăn ngừa, hạn chế, xử lý ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như trách nhiệm pháp lý khi có những hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề. Như vậy, đối với các làng nghề, để thực hiện hoạt động kiểm soát ô nhiễm, Nhà nước cần phải ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động này. Cụ thể bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, những quy định về quy hoạch làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường, có mục đích khoanh vùng ô nhiễm môi trường, xác định chất lượng môi trường ở từng khu vực làng nghề;

Thứ hai, những quy định về xây dựng, quản lý các dữ liệu thông tin về môi trường ở các làng nghề nhằm công khai, minh bạch về số liệu, dữ liệu, trữ lượng, giá trị kinh tế của các thành tố môi trường hay những vấn đề về môi trường tại các làng nghề;

Thứ ba, những quy định về đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường ở làng nghề nhằm làm rõ các tác động tiêu cực lẫn tích cực của các các hoạt động làng nghề đến môi trường tự nhiên và xã hội, là cơ sở để xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đó;

Thứ tư, những quy định về việc ban hành và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường riêng cho các khu vực làng nghề, trên cơ sở đó xác định được chính xác chất lượng môi trường sống của con người và giúp cho họ biết được giới hạn, phạm vi cho phép tác động đến môi trường, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà con người gây ra cho người dân và môi trường ở làng nghề;

Thứ năm, những quy định về quản lý chất thải tại các làng nghề. Nhận thức được các rủi ro ngày càng tăng đến sức khoẻ của người dân và môi trường tại các làng nghề, Nhà nước ta đã tìm mọi biện pháp nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc kiểm tra nguồn thải, xử lý, vận chuyển, chôn lấp, thu gom và tái chế các chất thải ở khu vực này;

Thứ sáu, các quy định về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại làng nghề;

Thứ bảy, các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại làng nghề;

Thứ tám, những quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, quy định về các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra; nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm; quản lý thông tin về môi trường; ban hành và áp dụng các công cụ, biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường; quy định trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ tại làng nghề; trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng dân cư trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm; xử lý các hành vi vi phạm để ứng phó, khắc phục trước các vấn đề về môi trường với mục đích ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường và con người, góp phần cải thiện môi trường tại các làng nghề.

Lê Kim Nguyệt

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: