Thứ bảy 15/08/2026 13:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam

Quan hệ giữa các chủ thể trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề phải dựa trên những tiêu chí, căn cứ nhất định, đó là các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam. Kiểm soát ô nhiễm là một trong những nội dung quan trọng nhằm cải thiện môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại các khu vực làng nghề.

1. Yêu cầu đối với pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra

Do vậy, những quan điểm, chính sách bảo vệ môi trường của Nhà nước nói chung, trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề nói riêng sẽ được Nhà nước cụ thể hóa vào trong các quy phạm pháp luật. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt nam sẽ hiện thực hóa những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực này vào trong thực tiễn đời sống cụ thể ở các làng nghề. Kiểm soát ô nhiễm khi đã được luật hóa thành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra sẽ trở thành những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, khi đó vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề không chỉ đơn thuần xâm hại đến các yêu cầu, đòi hỏi của nó, mà còn xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Để pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường là hình thức thể hiện và đảm bảo thực hiện tốt nhất tại các làng nghề, thì cần phải đáp ứng những yêu cầu sau:

Thứ nhất, khi xây dựng các nội dung trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra cần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, cụ thể là người dân của các làng nghề được quyền sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với thiên nhiên. Trong giai đoạn hiện nay, quyền con người, dân chủ và công bằng là những vấn đề rất được Đảng và Nhà nước ta đề cao, do vậy, yêu cầu tôn trọng quyền về môi trường của con người đã được đặt ra ngay từ những bước đầu xây dựng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề. Ngân hàng Thế giới đánh giá chất lượng cuộc sống con người của các nước dựa vào 3 tiêu chí: Thu nhập của người dân, hệ thống an sinh xã hội và chất lượng môi trường. Từ mục đích đảm bảo cho con người có được chất lượng môi trường trong lành ở các làng nghề, các nhà làm luật đã đưa ra những lập luận về tầm quan trọng của quyền được sống trong môi trường trong lành là quyền quyết định đến vấn đề sức khỏe, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống nói chung; phân tích, đánh giá thực trạng môi trường ở các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm, suy thoái nên quyền tự nhiên này của người dân làng nghề đang bị xâm phạm; căn cứ vào những cam kết quốc tế và xu hướng chung trên thế giới là thể chế quyền này trong pháp luật quốc gia, theo đó, không ràng buộc các quốc gia về mặt pháp lý, nhưng ràng buộc về mặt chính trị, đạo lý buộc chúng ta phải thực hiện1. Khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các nhà xây dựng luật dựa trên những yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật: Từ giả định gồm chủ thể, điều kiện, hoàn cảnh để đưa ra quy định bắt buộc những chủ thể đó khi rơi vào điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định phải thực hiện, nếu không thực hiện sẽ bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế theo quy định ở phần chế tài. Để đảm bảo kiểm soát ô nhiễm tốt tại các làng nghề, thì việc đặt ra các điều kiện, hoàn cảnh ở phần giả định, đưa ra những quy định của Nhà nước ở phần quy định và sự cưỡng chế của Nhà nước ở phần chế tài phải đảm khoa học và chặt chẽ. Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề phải nghiêm túc, đúng tinh thần của pháp luật. Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho người dân ở các khu vực làng nghề được sống trong một môi trường trong lành. Đáp ứng được yêu cầu này đồng nghĩa với việc thực hiện đúng mục đích của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước đưa ra các quy định tạo cơ sở pháp lý để người dân ở các làng nghề bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân2. Như vậy, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm ở làng nghề khi xem xét cần đứng trên nhiều góc độ nhưng không thể bỏ qua quan điểm vì lợi ích của con người.

Thứ hai, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các yêu cầu về phát triển bền vững3. Theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, phát triển bền vững được hiểu là: “Phát triển để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Quy định này nhấn mạnh việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu hiện tại phải chú ý trữ lượng hiện có để dành cho thế hệ sau. Nói cách khác, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải có sự tiếp cận mang tính tổng hợp và bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Tuy còn nhiều tranh luận về khái niệm “phát triển bền vững”, song đã có sự thống nhất cao là đều tập trung chú trọng phúc lợi lâu dài của con người và đều bao hàm những yêu cầu về sự phối hợp một cách hài hòa ít nhất ba phương diện là tăng trưởng kinh tế; bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Ngoài ra, có nhiều quan điểm còn đề cập những khía cạnh khác của phát triển bền vững như chính trị, văn hóa, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phải tính toán, cân đối chúng trong hoạch định chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể. Căn cứ vào tầm quan trọng của môi trường và phát triển kinh tế tại các làng nghề, dựa vào mối quan hệ tương tác giữa môi trường và phát triển kinh tế tại các làng nghề Việt Nam, thì muốn phát triển phải bảo vệ môi trường và ngược lại. Có thể khẳng định, kiểm soát, bảo vệ tốt môi trường ở các làng nghề đồng nghĩa với việc bảo vệ tốt mục tiêu phát triển bền vững của người dân tại các khu vực làng nghề. Như vậy, yêu cầu đặt ra là cần có sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, việc khai thác tài nguyên và xả thải phải trong giới hạn, trong khả năng tự làm sạch của môi trường4. Việc ghi nhận và tôn trọng yêu cầu phát triển bền vững trong pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam là cách thức để các chủ thể trong quan hệ này nhận thức một cách đúng đắn đối với việc hạn chế tới mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường, đồng thời phát triển bền vững kinh tế tại các làng nghề.

Thứ ba, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải chú ý đến yếu tố phòng ngừa, tức là chủ động ngăn chặn rủi ro, mà các chủ thể có thể gây ra cho môi trường ở làng nghề. Hoạt động kiểm soát, bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái để cải thiện chất lượng môi trường ở làng nghề. Các nhà làm luật dựa trên cơ sở chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục, phục hồi môi trường. Từ đó đặt ra yêu cầu lường trước những rủi ro và đưa ra được những phương án, biện pháp phù hợp để giảm thiểu, loại trừ những rủi ro đó.

Thứ tư, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải chú ý thực hiện nguyên tắc ai gây ô nhiễm, người đó phải trả tiền, phải khắc phục ô nhiễm, có nghĩa là chủ thể gây hậu quả, tác động xấu đến môi trường, thì phải trả tiền để mua quyền khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường. Những người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm được quy định bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được5. Chủ thể phải trả tiền có thể là người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; người có hành vi xả thải vào môi trường làng nghề; người có những hành vi khác gây tác động xấu tới môi trường ở làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành. Tiền trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu tới môi trường làng nghề, phải đủ sức tác động đến lợi ích và hành vi của các chủ thể có liên quan đến hoạt động làng nghề, có như vậy mới đủ sức răn đe đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường ở làng nghề. Hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm có thể là thuế tài nguyên, thuế môi trường, phí bảo vệ môi trường hay chi phí sử dụng dịch vụ (thu gom rác, quản lý chất thải nguy hại...) ở làng nghề, kinh phí sử dụng cơ sở hạ tầng: Ví dụ như tiền thuê kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp bao gồm cả tiền thuê hệ thống xử lý chất thải tập trung... Ngoài ra, hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm cũng có thể là chi phí phục hồi môi trường trong quá trình khai thác tài nguyên6.

Thứ năm, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra phải rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu cho mọi chủ thể (Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân…) tại các khu vực làng nghề biết. Chẳng hạn như: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải chỉ rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật quản lý chất thải, từ phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… chất thải, chất thải nguy hại ở các làng nghề như thế nào? Quy định rõ những đối tượng nào phải đánh giá môi trường khi thực hiện các mục đích phát triển gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người ở làng nghề? Ngoài ra, cũng phải chỉ rõ chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm, về thủ tục cũng như quy định cụ thể mức xử lý vi phạm là bao nhiêu đối với mỗi hành vi vi phạm... để các chủ thể có liên quan dễ dàng cập nhật và áp dụng.

Thứ sáu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam phải mang tính ổn định và phù hợp với xu thế phát triển bền vững tại các làng nghề. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển hiện nay, quan điểm về kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường sẽ giao thoa với quan niệm và nhận thức về lĩnh vực này của các nước trên thế giới. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các làng nghề trong từng giai đoạn cụ thể, cần đi vào thực tiễn cuộc sống ở các làng nghề. Những yêu cầu của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra đã đề cập trên đây cần phải được thực hiện và có tính khả thi. Có thể nói, đây là yêu cầu quan trọng, bởi vì pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không thể tự mình đi vào trong thực tiễn, vì thế, cần tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh tại các làng nghề. Việc xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện phải được tiến hành một cách đồng bộ, đồng thời xử lý nghiêm, kịp thời những trường hợp vi phạm pháp luật.

2. Nội dung của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam

Dễ dàng nhận thấy kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất và tinh thần của con người. Môi trường thực sự đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của người dân làng nghề. Do vậy, trong kiểm soát ô nhiễm môi trường, quan hệ giữa các chủ thể có liên quan đến hoạt động làng nghề phải được thực hiện dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường. Để kiểm soát ô nhiễm môi trường có hiệu quả cao ở các làng nghề, ngăn ngừa và giảm thiểu đến mức tối đa các tác động tiêu cực đến con người và các hệ động thực vật, vấn đề này phải được thực hiện trong một trật tự nhất định; các quy định về kiểm soát ô nhiễm phải được tổ chức thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của các làng nghề. Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực chính trị, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật để thể chế các quan điểm, đường lối, chính sách của mình liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề, quy định quy trình thực hiện hoạt động ngăn ngừa, hạn chế, xử lý ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam; quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như trách nhiệm pháp lý khi có những hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường ở làng nghề. Như vậy, đối với các làng nghề, để thực hiện hoạt động kiểm soát ô nhiễm, Nhà nước cần phải ban hành hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các hoạt động này. Cụ thể bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, những quy định về quy hoạch làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường, có mục đích khoanh vùng ô nhiễm môi trường, xác định chất lượng môi trường ở từng khu vực làng nghề;

Thứ hai, những quy định về xây dựng, quản lý các dữ liệu thông tin về môi trường ở các làng nghề nhằm công khai, minh bạch về số liệu, dữ liệu, trữ lượng, giá trị kinh tế của các thành tố môi trường hay những vấn đề về môi trường tại các làng nghề;

Thứ ba, những quy định về đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường ở làng nghề nhằm làm rõ các tác động tiêu cực lẫn tích cực của các các hoạt động làng nghề đến môi trường tự nhiên và xã hội, là cơ sở để xây dựng các biện pháp nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đó;

Thứ tư, những quy định về việc ban hành và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường riêng cho các khu vực làng nghề, trên cơ sở đó xác định được chính xác chất lượng môi trường sống của con người và giúp cho họ biết được giới hạn, phạm vi cho phép tác động đến môi trường, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà con người gây ra cho người dân và môi trường ở làng nghề;

Thứ năm, những quy định về quản lý chất thải tại các làng nghề. Nhận thức được các rủi ro ngày càng tăng đến sức khoẻ của người dân và môi trường tại các làng nghề, Nhà nước ta đã tìm mọi biện pháp nhằm tăng cường vai trò của pháp luật trong việc kiểm tra nguồn thải, xử lý, vận chuyển, chôn lấp, thu gom và tái chế các chất thải ở khu vực này;

Thứ sáu, các quy định về trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại làng nghề;

Thứ bảy, các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước và cộng đồng dân cư trong kiểm soát ô nhiễm môi trường tại làng nghề;

Thứ tám, những quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận, quy định về các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra; nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm; quản lý thông tin về môi trường; ban hành và áp dụng các công cụ, biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường; quy định trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ tại làng nghề; trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng dân cư trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm; xử lý các hành vi vi phạm để ứng phó, khắc phục trước các vấn đề về môi trường với mục đích ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường và con người, góp phần cải thiện môi trường tại các làng nghề.

Lê Kim Nguyệt

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: