Thứ ba 28/07/2026 18:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Tóm tắt: Bài viết này tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật, qua đó nêu ra những bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng.

Abstract: This article focuses on studying the content of the legal provisions, thereby pointing out the shortcomings in the regulations on the obligations of husband and wife to live together.

1. Nghĩa vụ sống chung của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

So với các Luật Hôn nhân và gia đình trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lần đầu tiên quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng tại khoản 2 Điều 19, theo đó: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Từ quy định này cho thấy, nghĩa vụ sống chung là nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ tạo lập một cuộc sống chung để xây dựng, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình hạnh phúc, vững mạnh, tiến bộ.

Theo ngôn ngữ hàng ngày, người Việt Nam có thuật ngữ “ở chung” chỉ những người cùng sống chung dưới một mái nhà và cùng “ăn chung”. Đối lập với “ở chung” là “ở riêng” để chỉ những người không ở chung dưới một mái nhà hoặc vẫn ở chung nhưng lại “ăn riêng”. Hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay không có quy định thế nào là “sống chung” hoặc “không sống chung”. Hiện vẫn có những quan điểm khác nhau về khái niệm “không sống chung”:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những người không sống chung là những người không cùng sinh sống với nhau dưới một mái nhà.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, coi là “không sống chung” khi những người có quan hệ gia đình với nhau không cùng sinh sống thường xuyên dưới một mái nhà hoặc có thể vẫn sống chung dưới một mái nhà nhưng tài sản cũng như thu nhập của họ hoàn toàn độc lập với nhau.

Về mặt học thuật, “sống chung” được hiểu là giữa các chủ thể có đời sống chung, cùng quan tâm, chia sẻ và gánh vác các công việc của gia đình, có đời sống tình cảm, đời sống vật chất, cùng hưởng thụ những thành quả lao động mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà với nhau hay không[1]. Cách hiểu này tương đồng với cách lý giải về điều kiện cấp dưỡng, khi xác định người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng không sống chung với nhau chỉ dựa trên tiêu chí họ không ăn chung, không có quỹ tiêu dùng chung mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà hay không[2].

Pháp luật một số quốc gia cũng quy định việc vợ chồng sống cùng nhau, coi đó là điều kiện để xây dựng gia đình. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Nơi ở của gia đình là nơi vợ chồng chọn, có sự thỏa thuận chung”[3]; Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng quy định nội dung tương tự: “Chồng hoặc vợ sẽ sống cùng với nhau hợp tác giúp đỡ nhau”[4].

Nghĩa vụ sống chung có liên hệ mật thiết với việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng. Nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành chính[5]. Thuật ngữ “nơi cư trú” được nhà làm luật sử dụng trong điều luật này có thể hiểu là nơi ở của vợ chồng. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể lựa chọn nơi cư trú chung hoặc mỗi bên có nơi cư trú riêng căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nơi làm việc, tính chất của hoạt động nghề nghiệp. Việc có nơi cư trú chung hay riêng không ảnh hưởng tới việc vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, với con cái và chăm lo xây dựng gia đình. Việc vợ chồng có nơi ở chung hay riêng phải dựa trên hoàn cảnh thực tế, do các điều kiện khách quan, có sự đồng thuận của vợ, chồng và phải vì lợi ích chung của gia đình. Việc sống chung với nhau không chỉ là lợi ích mà nam nữ hướng tới khi kết hôn mà còn là nghĩa vụ của họ. Khi sống chung, vợ chồng có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân khác như chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau… một cách tốt nhất. Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của vợ, chồng đối với bên kia và đối với gia đình, từ đó tạo cơ sở cho việc bảo vệ và xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt như vợ, chồng có nơi làm việc ở các địa bàn hành chính cách xa nhau hoặc do vợ chồng thỏa thuận thì vợ chồng mới có nơi ở riêng.

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận, nhưng điều đó không có nghĩa rằng pháp luật cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận về việc không chung sống dưới một mái nhà như là một cách để thực hiện nghĩa vụ sống chung. Do đó, nếu vợ chồng thỏa thuận về việc mỗi người cư trú một nơi chỉ vì không muốn gặp nhau, không muốn sống gần nhau thì không thể nói đó là sự thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ vợ chồng. Vì vậy, việc thỏa thuận sống riêng mà không nhằm vun đắp tình nghĩa vợ chồng thì chỉ có thể là sự thỏa thuận ly thân.

2. Bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung và kiến nghị

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, nhưng không có nghĩa là tuyệt đối trong mọi trường hợp mà Luật còn quy định nhiều ngoại lệ, phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và sự thỏa thuận của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác thì vợ chồng được giải trừ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung. Mặt khác, nghĩa vụ sống chung trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hiểu theo hướng không bắt buộc vợ chồng phải cùng cư trú tại một nơi - chung sống dưới một mái nhà mà dựa vào yếu tố giữa vợ chồng có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung hay không để xác định là sống chung hay không sống chung. Với cách hiểu về nghĩa vụ sống chung như vậy, thì các trường hợp ngoại lệ vợ chồng không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung có nghĩa là giữa vợ chồng không có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung - do yếu tố cùng chung một nhà không được coi là bắt buộc. Và như vậy, câu hỏi đặt ra là, trong các trường hợp nêu trên thì việc vợ chồng thực hiện nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình như thế nào? Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng thực hiện bằng cách thức nào? Lợi ích của gia đình có được bảo đảm hay không? Mặc dù khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình,” nhưng khi không có đời sống vật chất chung, việc bảo đảm nhu cầu thiết yếu chủ yếu dựa vào ý thức, sự tự nguyện của mỗi bên vợ, chồng. Do vậy, thiết nghĩ, lợi ích của vợ chồng, của gia đình không được bảo đảm trong trường hợp này.

Nghĩa vụ sống chung không thể được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, cũng như việc vi phạm nghĩa vụ sống chung về nguyên tắc không bị chế tài về mặt pháp lý và cũng không phải căn cứ trực tiếp để giải quyết ly hôn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể đáp ứng yêu cầu của vợ hoặc chồng, buộc chồng hoặc vợ từ bỏ nơi ở mà người sau này đã tự ý lựa chọn để trở lại chung sống với mình. Song, trong trường hợp một bên muốn chung sống tại nơi cư trú của bên kia thì bên kia không có quyền từ chối tiếp nhận, nếu không bên từ chối có thể bị chế tài hành chính hoặc hình sự do có hành vi ngược đãi vợ, chồng mình. Mặt khác, khó có thể coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung nếu một bên vợ hoặc chồng từ chối sống cùng nơi cư trú với người còn lại chỉ vì cuộc sống chung tỏ ra không thể chịu đựng được do cách cư xử thô bạo của người còn lại[6]. Nghĩa vụ chung sống không chỉ đơn giản là việc cùng nhau sinh hoạt dưới một mái nhà, đó còn là nghĩa vụ tạo ra và duy trì môi trường sinh hoạt tốt, đầm ấm, thoải mái, chan hòa hạnh phúc đối với cả vợ và chồng. Thể hiện rõ tinh thần trên, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Vợ chồng phải chung sống với nhau đúng như quan hệ vợ chồng”[7]. Tuy nhiên, Luật cũng quy định ngoại lệ cho phép hai bên vợ chồng không tiếp tục chung sống với nhau “khi sức khỏe thể xác hoặc tinh thần hoặc hạnh phúc của vợ hoặc chồng bị lâm nguy, nếu cứ tiếp tục chung sống, thì cặp vợ chồng bị lâm nguy đó có thể yêu cầu Tòa án cho phép ly thân khi còn bị hiểm họa đó đe dọa”[8].

Pháp luật Việt Nam hiện hành không công nhận ly thân nên trên thực tế, tình trạng ly thân hiện nay là tự phát. Nếu vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau về ly thân thì đó được coi là căn cứ để hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung, hay nói cách khác, vợ, chồng có thể sống riêng mà không bị coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung. Ngược lại, trường hợp vợ, chồng không có sự thỏa thuận và cũng không vì lợi ích chung của gia đình mà một bên lại rời nơi ở chung đi sống tại nơi khác do quan hệ vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, giữa vợ và chồng đã có những mâu thuẫn sâu sắc hoặc một bên không thể chịu đựng hành vi bạo lực của bên kia… lại vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Vấn đề đặt ra là, khi không có sự thỏa thuận của vợ, chồng mà một bên bỏ nơi ở chung đi nơi khác mà bên kia dùng mọi biện pháp để cưỡng ép họ quay lại nơi ở chung thì có vi phạm pháp luật không? Hoặc trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ sống chung thì bị xử lý như thế nào?

Để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung, thiết nghĩ, cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hướng: Sống chung được hiểu là việc các chủ thể, trong đó có vợ chồng cùng sống chung dưới một mái nhà. Bởi lẽ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (khoản 1 Điều 19). Theo quy định này, đây là nghĩa vụ của vợ, chồng đối với nhau, trong đó, việc vợ chồng chăm sóc, giúp đỡ nhau bao hàm cả nội dung hai bên cùng có quyền, nghĩa vụ thực hiện các hành vi chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của nhau mà không phụ thuộc vào việc họ có cùng chung sống với nhau hay không. Với cách hiểu như vậy, những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung sẽ dễ dàng giải quyết hơn.

Ví dụ: Khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ sống chung thì có thể hiểu đó là việc một bên vợ hoặc chồng rời khỏi nơi ở chung của vợ chồng khi không thuộc các trường hợp ngoại lệ hoặc trong trường hợp một bên vì hành vi bạo lực gia đình nghiêm trọng của bên kia mà việc tiếp tục chung sống với nhau gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người còn lại thì đó là “lý do chính đáng” để giải trừ cho một bên khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung - không ở cùng nhau dưới một mái nhà.

Các hành vi vi phạm nghĩa vụ sống chung là vi phạm quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; nếu dẫn đến hậu quả làm cho vợ, chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được sẽ là căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu. Quy định như vậy, một mặt, bảo đảm được quyền tự do của cá nhân vợ, chồng, mặt khác, cũng bảo đảm lợi ích của gia đình, phù hợp với mục đích xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

ThS. Nông Thị Thoa

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Ngô Thị Hường, Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, tr. 76.

[2]. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Tư pháp, năm 2021, tr. 352.

[3]. Điều 215.

[4]. Điều 752.

[5]. Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6]. Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I - Gia đình, Nguyễn Ngọc Điện, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 230.

[7]. Điều 1416.

[8]. Điều 1462.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: