Thứ bảy 09/05/2026 21:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Tóm tắt: Bài viết này tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật, qua đó nêu ra những bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng.

Abstract: This article focuses on studying the content of the legal provisions, thereby pointing out the shortcomings in the regulations on the obligations of husband and wife to live together.

1. Nghĩa vụ sống chung của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

So với các Luật Hôn nhân và gia đình trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lần đầu tiên quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng tại khoản 2 Điều 19, theo đó: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Từ quy định này cho thấy, nghĩa vụ sống chung là nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ tạo lập một cuộc sống chung để xây dựng, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình hạnh phúc, vững mạnh, tiến bộ.

Theo ngôn ngữ hàng ngày, người Việt Nam có thuật ngữ “ở chung” chỉ những người cùng sống chung dưới một mái nhà và cùng “ăn chung”. Đối lập với “ở chung” là “ở riêng” để chỉ những người không ở chung dưới một mái nhà hoặc vẫn ở chung nhưng lại “ăn riêng”. Hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay không có quy định thế nào là “sống chung” hoặc “không sống chung”. Hiện vẫn có những quan điểm khác nhau về khái niệm “không sống chung”:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những người không sống chung là những người không cùng sinh sống với nhau dưới một mái nhà.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, coi là “không sống chung” khi những người có quan hệ gia đình với nhau không cùng sinh sống thường xuyên dưới một mái nhà hoặc có thể vẫn sống chung dưới một mái nhà nhưng tài sản cũng như thu nhập của họ hoàn toàn độc lập với nhau.

Về mặt học thuật, “sống chung” được hiểu là giữa các chủ thể có đời sống chung, cùng quan tâm, chia sẻ và gánh vác các công việc của gia đình, có đời sống tình cảm, đời sống vật chất, cùng hưởng thụ những thành quả lao động mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà với nhau hay không[1]. Cách hiểu này tương đồng với cách lý giải về điều kiện cấp dưỡng, khi xác định người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng không sống chung với nhau chỉ dựa trên tiêu chí họ không ăn chung, không có quỹ tiêu dùng chung mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà hay không[2].

Pháp luật một số quốc gia cũng quy định việc vợ chồng sống cùng nhau, coi đó là điều kiện để xây dựng gia đình. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Nơi ở của gia đình là nơi vợ chồng chọn, có sự thỏa thuận chung”[3]; Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng quy định nội dung tương tự: “Chồng hoặc vợ sẽ sống cùng với nhau hợp tác giúp đỡ nhau”[4].

Nghĩa vụ sống chung có liên hệ mật thiết với việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng. Nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành chính[5]. Thuật ngữ “nơi cư trú” được nhà làm luật sử dụng trong điều luật này có thể hiểu là nơi ở của vợ chồng. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể lựa chọn nơi cư trú chung hoặc mỗi bên có nơi cư trú riêng căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nơi làm việc, tính chất của hoạt động nghề nghiệp. Việc có nơi cư trú chung hay riêng không ảnh hưởng tới việc vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, với con cái và chăm lo xây dựng gia đình. Việc vợ chồng có nơi ở chung hay riêng phải dựa trên hoàn cảnh thực tế, do các điều kiện khách quan, có sự đồng thuận của vợ, chồng và phải vì lợi ích chung của gia đình. Việc sống chung với nhau không chỉ là lợi ích mà nam nữ hướng tới khi kết hôn mà còn là nghĩa vụ của họ. Khi sống chung, vợ chồng có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân khác như chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau… một cách tốt nhất. Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của vợ, chồng đối với bên kia và đối với gia đình, từ đó tạo cơ sở cho việc bảo vệ và xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt như vợ, chồng có nơi làm việc ở các địa bàn hành chính cách xa nhau hoặc do vợ chồng thỏa thuận thì vợ chồng mới có nơi ở riêng.

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận, nhưng điều đó không có nghĩa rằng pháp luật cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận về việc không chung sống dưới một mái nhà như là một cách để thực hiện nghĩa vụ sống chung. Do đó, nếu vợ chồng thỏa thuận về việc mỗi người cư trú một nơi chỉ vì không muốn gặp nhau, không muốn sống gần nhau thì không thể nói đó là sự thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ vợ chồng. Vì vậy, việc thỏa thuận sống riêng mà không nhằm vun đắp tình nghĩa vợ chồng thì chỉ có thể là sự thỏa thuận ly thân.

2. Bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung và kiến nghị

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, nhưng không có nghĩa là tuyệt đối trong mọi trường hợp mà Luật còn quy định nhiều ngoại lệ, phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và sự thỏa thuận của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác thì vợ chồng được giải trừ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung. Mặt khác, nghĩa vụ sống chung trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hiểu theo hướng không bắt buộc vợ chồng phải cùng cư trú tại một nơi - chung sống dưới một mái nhà mà dựa vào yếu tố giữa vợ chồng có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung hay không để xác định là sống chung hay không sống chung. Với cách hiểu về nghĩa vụ sống chung như vậy, thì các trường hợp ngoại lệ vợ chồng không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung có nghĩa là giữa vợ chồng không có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung - do yếu tố cùng chung một nhà không được coi là bắt buộc. Và như vậy, câu hỏi đặt ra là, trong các trường hợp nêu trên thì việc vợ chồng thực hiện nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình như thế nào? Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng thực hiện bằng cách thức nào? Lợi ích của gia đình có được bảo đảm hay không? Mặc dù khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình,” nhưng khi không có đời sống vật chất chung, việc bảo đảm nhu cầu thiết yếu chủ yếu dựa vào ý thức, sự tự nguyện của mỗi bên vợ, chồng. Do vậy, thiết nghĩ, lợi ích của vợ chồng, của gia đình không được bảo đảm trong trường hợp này.

Nghĩa vụ sống chung không thể được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, cũng như việc vi phạm nghĩa vụ sống chung về nguyên tắc không bị chế tài về mặt pháp lý và cũng không phải căn cứ trực tiếp để giải quyết ly hôn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể đáp ứng yêu cầu của vợ hoặc chồng, buộc chồng hoặc vợ từ bỏ nơi ở mà người sau này đã tự ý lựa chọn để trở lại chung sống với mình. Song, trong trường hợp một bên muốn chung sống tại nơi cư trú của bên kia thì bên kia không có quyền từ chối tiếp nhận, nếu không bên từ chối có thể bị chế tài hành chính hoặc hình sự do có hành vi ngược đãi vợ, chồng mình. Mặt khác, khó có thể coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung nếu một bên vợ hoặc chồng từ chối sống cùng nơi cư trú với người còn lại chỉ vì cuộc sống chung tỏ ra không thể chịu đựng được do cách cư xử thô bạo của người còn lại[6]. Nghĩa vụ chung sống không chỉ đơn giản là việc cùng nhau sinh hoạt dưới một mái nhà, đó còn là nghĩa vụ tạo ra và duy trì môi trường sinh hoạt tốt, đầm ấm, thoải mái, chan hòa hạnh phúc đối với cả vợ và chồng. Thể hiện rõ tinh thần trên, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Vợ chồng phải chung sống với nhau đúng như quan hệ vợ chồng”[7]. Tuy nhiên, Luật cũng quy định ngoại lệ cho phép hai bên vợ chồng không tiếp tục chung sống với nhau “khi sức khỏe thể xác hoặc tinh thần hoặc hạnh phúc của vợ hoặc chồng bị lâm nguy, nếu cứ tiếp tục chung sống, thì cặp vợ chồng bị lâm nguy đó có thể yêu cầu Tòa án cho phép ly thân khi còn bị hiểm họa đó đe dọa”[8].

Pháp luật Việt Nam hiện hành không công nhận ly thân nên trên thực tế, tình trạng ly thân hiện nay là tự phát. Nếu vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau về ly thân thì đó được coi là căn cứ để hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung, hay nói cách khác, vợ, chồng có thể sống riêng mà không bị coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung. Ngược lại, trường hợp vợ, chồng không có sự thỏa thuận và cũng không vì lợi ích chung của gia đình mà một bên lại rời nơi ở chung đi sống tại nơi khác do quan hệ vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, giữa vợ và chồng đã có những mâu thuẫn sâu sắc hoặc một bên không thể chịu đựng hành vi bạo lực của bên kia… lại vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Vấn đề đặt ra là, khi không có sự thỏa thuận của vợ, chồng mà một bên bỏ nơi ở chung đi nơi khác mà bên kia dùng mọi biện pháp để cưỡng ép họ quay lại nơi ở chung thì có vi phạm pháp luật không? Hoặc trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ sống chung thì bị xử lý như thế nào?

Để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung, thiết nghĩ, cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hướng: Sống chung được hiểu là việc các chủ thể, trong đó có vợ chồng cùng sống chung dưới một mái nhà. Bởi lẽ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (khoản 1 Điều 19). Theo quy định này, đây là nghĩa vụ của vợ, chồng đối với nhau, trong đó, việc vợ chồng chăm sóc, giúp đỡ nhau bao hàm cả nội dung hai bên cùng có quyền, nghĩa vụ thực hiện các hành vi chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của nhau mà không phụ thuộc vào việc họ có cùng chung sống với nhau hay không. Với cách hiểu như vậy, những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung sẽ dễ dàng giải quyết hơn.

Ví dụ: Khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ sống chung thì có thể hiểu đó là việc một bên vợ hoặc chồng rời khỏi nơi ở chung của vợ chồng khi không thuộc các trường hợp ngoại lệ hoặc trong trường hợp một bên vì hành vi bạo lực gia đình nghiêm trọng của bên kia mà việc tiếp tục chung sống với nhau gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người còn lại thì đó là “lý do chính đáng” để giải trừ cho một bên khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung - không ở cùng nhau dưới một mái nhà.

Các hành vi vi phạm nghĩa vụ sống chung là vi phạm quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; nếu dẫn đến hậu quả làm cho vợ, chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được sẽ là căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu. Quy định như vậy, một mặt, bảo đảm được quyền tự do của cá nhân vợ, chồng, mặt khác, cũng bảo đảm lợi ích của gia đình, phù hợp với mục đích xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

ThS. Nông Thị Thoa

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Ngô Thị Hường, Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, tr. 76.

[2]. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Tư pháp, năm 2021, tr. 352.

[3]. Điều 215.

[4]. Điều 752.

[5]. Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6]. Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I - Gia đình, Nguyễn Ngọc Điện, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 230.

[7]. Điều 1416.

[8]. Điều 1462.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: