Thứ ba 13/10/2026 10:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Pháp luật về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng

Tóm tắt: Bài viết này tập trung nghiên cứu nội dung quy định pháp luật, qua đó nêu ra những bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng.

Abstract: This article focuses on studying the content of the legal provisions, thereby pointing out the shortcomings in the regulations on the obligations of husband and wife to live together.

1. Nghĩa vụ sống chung của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

So với các Luật Hôn nhân và gia đình trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lần đầu tiên quy định về nghĩa vụ sống chung của vợ chồng tại khoản 2 Điều 19, theo đó: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Từ quy định này cho thấy, nghĩa vụ sống chung là nghĩa vụ trong quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, phát sinh trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ tạo lập một cuộc sống chung để xây dựng, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình hạnh phúc, vững mạnh, tiến bộ.

Theo ngôn ngữ hàng ngày, người Việt Nam có thuật ngữ “ở chung” chỉ những người cùng sống chung dưới một mái nhà và cùng “ăn chung”. Đối lập với “ở chung” là “ở riêng” để chỉ những người không ở chung dưới một mái nhà hoặc vẫn ở chung nhưng lại “ăn riêng”. Hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay không có quy định thế nào là “sống chung” hoặc “không sống chung”. Hiện vẫn có những quan điểm khác nhau về khái niệm “không sống chung”:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng, những người không sống chung là những người không cùng sinh sống với nhau dưới một mái nhà.

- Quan điểm thứ hai cho rằng, coi là “không sống chung” khi những người có quan hệ gia đình với nhau không cùng sinh sống thường xuyên dưới một mái nhà hoặc có thể vẫn sống chung dưới một mái nhà nhưng tài sản cũng như thu nhập của họ hoàn toàn độc lập với nhau.

Về mặt học thuật, “sống chung” được hiểu là giữa các chủ thể có đời sống chung, cùng quan tâm, chia sẻ và gánh vác các công việc của gia đình, có đời sống tình cảm, đời sống vật chất, cùng hưởng thụ những thành quả lao động mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà với nhau hay không[1]. Cách hiểu này tương đồng với cách lý giải về điều kiện cấp dưỡng, khi xác định người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng không sống chung với nhau chỉ dựa trên tiêu chí họ không ăn chung, không có quỹ tiêu dùng chung mà không căn cứ vào việc họ có ở chung nhà hay không[2].

Pháp luật một số quốc gia cũng quy định việc vợ chồng sống cùng nhau, coi đó là điều kiện để xây dựng gia đình. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Nơi ở của gia đình là nơi vợ chồng chọn, có sự thỏa thuận chung”[3]; Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng quy định nội dung tương tự: “Chồng hoặc vợ sẽ sống cùng với nhau hợp tác giúp đỡ nhau”[4].

Nghĩa vụ sống chung có liên hệ mật thiết với việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng. Nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục tập quán, địa giới hành chính[5]. Thuật ngữ “nơi cư trú” được nhà làm luật sử dụng trong điều luật này có thể hiểu là nơi ở của vợ chồng. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể lựa chọn nơi cư trú chung hoặc mỗi bên có nơi cư trú riêng căn cứ vào hoàn cảnh thực tế, nơi làm việc, tính chất của hoạt động nghề nghiệp. Việc có nơi cư trú chung hay riêng không ảnh hưởng tới việc vợ chồng thực hiện các nghĩa vụ đối với nhau, với con cái và chăm lo xây dựng gia đình. Việc vợ chồng có nơi ở chung hay riêng phải dựa trên hoàn cảnh thực tế, do các điều kiện khách quan, có sự đồng thuận của vợ, chồng và phải vì lợi ích chung của gia đình. Việc sống chung với nhau không chỉ là lợi ích mà nam nữ hướng tới khi kết hôn mà còn là nghĩa vụ của họ. Khi sống chung, vợ chồng có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân khác như chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau… một cách tốt nhất. Vì vậy, việc quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của vợ, chồng đối với bên kia và đối với gia đình, từ đó tạo cơ sở cho việc bảo vệ và xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt như vợ, chồng có nơi làm việc ở các địa bàn hành chính cách xa nhau hoặc do vợ chồng thỏa thuận thì vợ chồng mới có nơi ở riêng.

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rằng vợ chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận, nhưng điều đó không có nghĩa rằng pháp luật cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận về việc không chung sống dưới một mái nhà như là một cách để thực hiện nghĩa vụ sống chung. Do đó, nếu vợ chồng thỏa thuận về việc mỗi người cư trú một nơi chỉ vì không muốn gặp nhau, không muốn sống gần nhau thì không thể nói đó là sự thỏa thuận nhằm củng cố quan hệ vợ chồng. Vì vậy, việc thỏa thuận sống riêng mà không nhằm vun đắp tình nghĩa vợ chồng thì chỉ có thể là sự thỏa thuận ly thân.

2. Bất cập trong quy định về nghĩa vụ sống chung và kiến nghị

Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, nhưng không có nghĩa là tuyệt đối trong mọi trường hợp mà Luật còn quy định nhiều ngoại lệ, phụ thuộc vào các điều kiện khách quan và sự thỏa thuận của vợ chồng. Do đó, trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác thì vợ chồng được giải trừ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung. Mặt khác, nghĩa vụ sống chung trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được hiểu theo hướng không bắt buộc vợ chồng phải cùng cư trú tại một nơi - chung sống dưới một mái nhà mà dựa vào yếu tố giữa vợ chồng có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung hay không để xác định là sống chung hay không sống chung. Với cách hiểu về nghĩa vụ sống chung như vậy, thì các trường hợp ngoại lệ vợ chồng không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung có nghĩa là giữa vợ chồng không có đời sống tình cảm, đời sống vật chất chung - do yếu tố cùng chung một nhà không được coi là bắt buộc. Và như vậy, câu hỏi đặt ra là, trong các trường hợp nêu trên thì việc vợ chồng thực hiện nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình như thế nào? Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng thực hiện bằng cách thức nào? Lợi ích của gia đình có được bảo đảm hay không? Mặc dù khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình,” nhưng khi không có đời sống vật chất chung, việc bảo đảm nhu cầu thiết yếu chủ yếu dựa vào ý thức, sự tự nguyện của mỗi bên vợ, chồng. Do vậy, thiết nghĩ, lợi ích của vợ chồng, của gia đình không được bảo đảm trong trường hợp này.

Nghĩa vụ sống chung không thể được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế, cũng như việc vi phạm nghĩa vụ sống chung về nguyên tắc không bị chế tài về mặt pháp lý và cũng không phải căn cứ trực tiếp để giải quyết ly hôn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể đáp ứng yêu cầu của vợ hoặc chồng, buộc chồng hoặc vợ từ bỏ nơi ở mà người sau này đã tự ý lựa chọn để trở lại chung sống với mình. Song, trong trường hợp một bên muốn chung sống tại nơi cư trú của bên kia thì bên kia không có quyền từ chối tiếp nhận, nếu không bên từ chối có thể bị chế tài hành chính hoặc hình sự do có hành vi ngược đãi vợ, chồng mình. Mặt khác, khó có thể coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung nếu một bên vợ hoặc chồng từ chối sống cùng nơi cư trú với người còn lại chỉ vì cuộc sống chung tỏ ra không thể chịu đựng được do cách cư xử thô bạo của người còn lại[6]. Nghĩa vụ chung sống không chỉ đơn giản là việc cùng nhau sinh hoạt dưới một mái nhà, đó còn là nghĩa vụ tạo ra và duy trì môi trường sinh hoạt tốt, đầm ấm, thoải mái, chan hòa hạnh phúc đối với cả vợ và chồng. Thể hiện rõ tinh thần trên, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Vợ chồng phải chung sống với nhau đúng như quan hệ vợ chồng”[7]. Tuy nhiên, Luật cũng quy định ngoại lệ cho phép hai bên vợ chồng không tiếp tục chung sống với nhau “khi sức khỏe thể xác hoặc tinh thần hoặc hạnh phúc của vợ hoặc chồng bị lâm nguy, nếu cứ tiếp tục chung sống, thì cặp vợ chồng bị lâm nguy đó có thể yêu cầu Tòa án cho phép ly thân khi còn bị hiểm họa đó đe dọa”[8].

Pháp luật Việt Nam hiện hành không công nhận ly thân nên trên thực tế, tình trạng ly thân hiện nay là tự phát. Nếu vợ chồng tự thỏa thuận được với nhau về ly thân thì đó được coi là căn cứ để hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ sống chung, hay nói cách khác, vợ, chồng có thể sống riêng mà không bị coi là vi phạm nghĩa vụ sống chung. Ngược lại, trường hợp vợ, chồng không có sự thỏa thuận và cũng không vì lợi ích chung của gia đình mà một bên lại rời nơi ở chung đi sống tại nơi khác do quan hệ vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, giữa vợ và chồng đã có những mâu thuẫn sâu sắc hoặc một bên không thể chịu đựng hành vi bạo lực của bên kia… lại vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Vấn đề đặt ra là, khi không có sự thỏa thuận của vợ, chồng mà một bên bỏ nơi ở chung đi nơi khác mà bên kia dùng mọi biện pháp để cưỡng ép họ quay lại nơi ở chung thì có vi phạm pháp luật không? Hoặc trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ sống chung thì bị xử lý như thế nào?

Để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung, thiết nghĩ, cần có sự giải thích cụ thể, rõ ràng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo hướng: Sống chung được hiểu là việc các chủ thể, trong đó có vợ chồng cùng sống chung dưới một mái nhà. Bởi lẽ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (khoản 1 Điều 19). Theo quy định này, đây là nghĩa vụ của vợ, chồng đối với nhau, trong đó, việc vợ chồng chăm sóc, giúp đỡ nhau bao hàm cả nội dung hai bên cùng có quyền, nghĩa vụ thực hiện các hành vi chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của nhau mà không phụ thuộc vào việc họ có cùng chung sống với nhau hay không. Với cách hiểu như vậy, những vấn đề phát sinh liên quan đến nghĩa vụ sống chung sẽ dễ dàng giải quyết hơn.

Ví dụ: Khi vợ chồng vi phạm nghĩa vụ sống chung thì có thể hiểu đó là việc một bên vợ hoặc chồng rời khỏi nơi ở chung của vợ chồng khi không thuộc các trường hợp ngoại lệ hoặc trong trường hợp một bên vì hành vi bạo lực gia đình nghiêm trọng của bên kia mà việc tiếp tục chung sống với nhau gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người còn lại thì đó là “lý do chính đáng” để giải trừ cho một bên khỏi việc thực hiện nghĩa vụ sống chung - không ở cùng nhau dưới một mái nhà.

Các hành vi vi phạm nghĩa vụ sống chung là vi phạm quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; nếu dẫn đến hậu quả làm cho vợ, chồng rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được sẽ là căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu. Quy định như vậy, một mặt, bảo đảm được quyền tự do của cá nhân vợ, chồng, mặt khác, cũng bảo đảm lợi ích của gia đình, phù hợp với mục đích xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

ThS. Nông Thị Thoa

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Ngô Thị Hường, Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, tr. 76.

[2]. Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, nxb Tư pháp, năm 2021, tr. 352.

[3]. Điều 215.

[4]. Điều 752.

[5]. Điều 20 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6]. Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập I - Gia đình, Nguyễn Ngọc Điện, Nxb. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 230.

[7]. Điều 1416.

[8]. Điều 1462.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 380), tháng 5/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: