Thứ hai 21/09/2026 05:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phát hành trái phiếu và trái phiếu đặc biệt của công ty quản lý tài sản để mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng

Tóm tắt: Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật về phát hành trái phiếu và trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản lý tài sản để mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.


Abstract: The paper analyzes insufficiencies of law on bond issuance and specific bond of the Assets Management Company for back-buying bad debt of credit institutions, and thence, makes some solutions for law completion in this area.

Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời như là minh chứng cho sự nỗ lực của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết tình trạng nợ xấu tăng cao của hệ thống tổ chức tín dụng. Sau hơn 04 năm đi vào hoạt động, VAMC bước đầu đã đạt được những thành công nhất định khi đưa tỷ lệ nợ xấu trên toàn hệ thống về mức an toàn cho phép, tuy nhiên, bản chất của nợ xấu vẫn chưa được giải quyết triệt để khi hoạt động mua bán nợ xấu mới dừng lại ở việc luân chuyển từ các tổ chức tín dụng sang cho VAMC cất giữ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này xuất phát từ hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt được VAMC phát hành để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Vì vậy, để thúc đẩy các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC, bên cạnh công cụ trái phiếu đặc biệt, kể từ ngày 28/8/2015, VAMC được bổ sung công cụ trái phiếu để mua nợ xấu của tổ chức tín dụng.

1. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu

Việc phát hành trái phiếu đặc biệt để thanh toán thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt xuất phát từ quy mô khổng lồ của tình trạng nợ xấu trong khi nguồn vốn được cấp cho các công ty mua bán nợ tập trung thường nhỏ bé với quy mô của tình trạng nợ xấu và nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước. Đối với các quốc gia đang phát triển có ngân sách nhà nước hạn hẹp hay các quốc gia phát triển có ngân sách khổng lồ thì phương án khả thi nhất khi thành lập các công ty mua bán nợ tập trung là cấp nguồn vốn nhỏ tạo dựng ban đầu, sau đó cho phép công ty này phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Bản chất của việc thanh toán bằng phát hành trái phiếu đặc biệt là tổ chức tín dụng không được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt khi bán nợ xấu mà chỉ nhận được trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ tập trung phát hành. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của công cụ thanh toán này đòi hỏi chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương thông qua việc cho vay tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu và bảo lãnh của Chính phủ đối với loại trái phiếu đặc biệt này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc phát hành trái phiếu đặc biệt là công cụ thanh toán khi mua bán nợ xấu được áp dụng cho việc mua bán nợ xấu tổ chức tín dụng (bên bán nợ) với VAMC. Theo đó, khi mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng, thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền, VAMC trao cho các tổ chức tín dụng trái phiếu đặc biệt do mình phát hành.

Cụ thể, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: Trái phiếu đặc biệt do Công ty Quản lý tài sản phát hành để mua lại các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng và có các đặc điểm sau đây:

“a) Trái phiếu đặc biệt được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử;

b) Mệnh giá trái phiếu đặc biệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định này;

c) Trái phiếu đặc biệt được phát hành bằng đồng Việt Nam có lãi suất bằng 0% và thời hạn tối đa 05 năm. Trường hợp phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn về tài chính thì thời hạn của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm;

d) Trái phiếu đặc biệt được sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước”.

Việc thanh toán cho các tổ chức tín dụng bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt được xem là phương thức được áp dụng phổ biến nhất đối với việc mua bán nợ xấu của các công ty quản lý tài sản do Nhà nước thành lập. Phương thức này đã được áp dụng rất thành công trong nỗ lực giải quyết nợ xấu ở các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Á trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.

Sở dĩ tất cả các công ty quản lý tài sản tập trung tại các nước đều mua nợ xấu bằng phát hành trái phiếu đặc biệt bởi tổng giá trị của nợ xấu rất khổng lồ, trong khi nguồn vốn của các công ty này lại rất hạn chế. Chẳng hạn như Thái Lan, việc thành lập TAMC năm 2001 là giải pháp cuối cùng mà Chính phủ nước này lựa chọn sau khi 12 công ty quản lý tài sản (AMCs) tư nhân và 04 AMCs phi tập trung của Nhà nước không phát huy hiệu quả. Nguyên nhân dẫn đến việc Thái Lan chần chừ xuất phát từ nguồn vốn của các công ty quản lý tài sản tập trung. Tất cả các công ty quản lý tài sản tập trung tại các nước đều lấy nguồn vốn được cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, sự ra đời của các công ty quản lý tài sản tập trung là một gánh nặng cho ngân sách, có thể gây ra sự phản đối của các doanh nghiệp và người dân.

Tuy nhiên, tại tất cả các nước, nguồn vốn được cấp từ ngân sách chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn vốn hoạt động. Trong khi đó, phát hành trái phiếu đặc biệt là phương pháp được Chính phủ các nước sử dụng để tạo vốn cho các công ty quản lý tài sản (AMC). Tại Hàn Quốc và Thái Lan, trái phiếu AMC chiếm hơn 90% tổng nguồn tài trợ cho AMC; con số này vào khoảng 60% tại Trung Quốc và Malaysia[1]. Tại Việt Nam, nguồn vốn ban đầu được cấp cho VAMC là 500 tỷ đồng, sau đó được nâng lên là 2.000 tỷ đồng[2], tuy nhiên, số vốn này được xem là quá nhỏ bé so với quy mô nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, mua nợ bằng việc phát hành trái phiếu là giải pháp khả thi nhất.

Mặc dù được coi là giải pháp khả thi và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam, tuy nhiên, những quy định liên quan về loại công cụ thanh toán này đang được xem là trở ngại cho việc mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng khi không đủ sức cuốn hút đối với các tổ chức tín dụng khi quyết định bán nợ xấu. Tình trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, thời hạn của trái phiếu đặc biệt: Trái phiếu đặc biệt được phát hành bằng đồng Việt Nam có lãi suất bằng 0% và thời hạn tối đa 05 năm. Trường hợp phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn về tài chính thì thời hạn của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm. Từ đây làm phát sinh vấn đề, đó là kể cả đã bán nợ xấu cho VAMC, tổ chức tín dụng vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi khoản nợ xấu đó, bởi sau 05 năm hoặc 10 năm đối với trường hợp đặc biệt, nếu VAMC không xử lý được khoản nợ xấu đã mua, VAMC sẽ trả lại tổ chức tín dụng đã bán.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng khi sở hữu trái phiếu đặc biệt: Theo khoản 12 Điều 1 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP thì tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu đặc biệt chỉ được sử dụng để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước và phải có nghĩa vụ trích lập dự phòng rủi ro hàng năm đối với trái phiếu đặc biệt vào chi phí hoạt động… những quy định này đã gây ra hạn chế rất lớn cho tổ chức tín dụng nắm giữ trái phiếu đặc biệt.

Thứ ba, về khả năng chuyển nhượng: Trái phiếu đặc biệt không được chuyển nhượng[3]. Điều đó có nghĩa, khi nhận trái phiếu đặc biệt từ VAMC, tổ chức tín dụng chỉ có thể sử dụng bằng cách mang trái phiếu tới Ngân hàng Nhà nước để vay tái cấp vốn. Như vậy, khi bán nợ xấu cho VAMC, trong thời hạn 05 năm (trường hợp đặc biệt là 10 năm) nắm giữ, tổ chức tín dụng không được chuyển nhượng cho Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức, cá nhân khác. Phương án duy nhất tổ chức tín dụng được quyền lựa chọn là sử dụng làm tài sản bảo đảm để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, phương án này cũng gặp trở ngại khi việc vay tái cấp vốn phụ thuộc vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước trong mỗi thời kỳ.

2. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành trái phiếu để mua nợ xấu

Xuất phát từ những hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt như đã phân tích ở trên, ngày 28/8/2015, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, theo đó, cho phép VAMC được phát hành trái phiếu để thanh toán cho các khoản nợ xấu mua của các tổ chức tín dụng. Trái phiếu phát hành trực tiếp cho tổ chức tín dụng bán nợ để mua nợ xấu theo giá trị thị trường (sau đây gọi là trái phiếu) là giấy tờ có giá có thời hạn do Công ty Quản lý tài sản phát hành trực tiếp cho tổ chức tín dụng bán nợ khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường. Công ty Quản lý tài sản phát hành trái phiếu để thanh toán cho các tổ chức tín dụng bán nợ khi mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Theo các khoản 8, 9 Điều 1 Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, loại trái phiếu này có đặc trưng: (i) Một trái phiếu được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán; (ii) Mệnh giá trái phiếu có giá trị bằng giá mua, bán của khoản nợ xấu; (iii) Thời hạn của trái phiếu được xác định theo thỏa thuận giữa Công ty Quản lý tài sản và tổ chức tín dụng bán nợ, tối thiểu là 01 năm. Trường hợp số tiền thu hồi nợ chưa đủ để thanh toán trái phiếu khi trái phiếu đến hạn thanh toán, Công ty Quản lý tài sản quyết định gia hạn thời hạn của trái phiếu, tối đa không quá 03 năm, trừ trường hợp có sự đồng ý của tổ chức sở hữu trái phiếu.

Ngoài ra, so với trái phiếu đặc biệt, công cụ trái phiếu mang đến những ưu điểm vượt trội cho tổ chức tín dụng bán nợ xấu, cụ thể: (i) Trái phiếu được chuyển nhượng giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng với nhau; (ii) Tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu không phải trích lập dự phòng rủi ro cho trái phiếu; (iii) Xác định hệ số rủi ro của trái phiếu là 0% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng; (iv) Được sử dụng trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; được sử dụng trái phiếu để tham gia nghiệp vụ thị trường mở.

Mặc dù đã được pháp luật nới rộng một số quyền hạn nhất định cho tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu, tuy nhiên, tính thanh khoản của loại công cụ này vẫn thấp. So với việc thanh toán bằng tiền mặt, phát hành trái phiếu rõ ràng không đủ sức lôi cuốn các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC.

3. Giải pháp

Xuất phát từ những hạn chế của công cụ trái phiếu, trái phiếu đặc biệt như đã phân tích ở trên, để tăng hiệu quả của hai loại công cụ này khi VAMC mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng, cần chú ý những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, để tăng sức hấp dẫn của trái phiếu đặc biệt, cần xem xét trao cho tổ chức tín dụng nắm giữ loại công cụ này những quyền hạn như nắm giữ trái phiếu

Trong các quan hệ mua bán nợ xấu giữa VAMC và các tổ chức tín dụng hiện nay, hầu hết các tổ chức tín dụng khi bán nợ xấu đều nhận được trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Như đã phân tích, công cụ trái phiếu đặc biệt mang đến những hạn chế rất lớn cho tổ chức tín dụng nắm giữ như không được phép chuyển nhượng, chỉ được sử dụng để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước… Những tồn tại này tác động tiêu cực tới tâm lý của tổ chức tín dụng khi quyết định bán nợ xấu cho VAMC. Vì vậy, để tăng sức hấp dẫn của công cụ này, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét trao cho tổ chức tín dụng nắm giữ loại công cụ này những quyền hạn như nắm giữ trái phiếu, bao gồm: Được chuyển nhượng giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng với nhau; không phải trích lập dự phòng rủi ro; được sử dụng trái phiếu đặc biệt để tham gia nghiệp vụ thị trường mở…

Thứ hai, nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu, trái phiếu đặc biệt bằng việc bảo lãnh của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước

Như đã phân tích, kể cả trong trường hợp pháp luật trao cho công cụ trái phiếu đặc biệt những quyền hạn như công cụ trái phiếu thì vẫn chưa đủ sức cuốn hút các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC. Bản thân các tổ chức tín dụng khi lựa chọn phương án bán nợ xấu thay vì tự xử lý bằng nghiệp vụ thu hồi nợ đồng nghĩa với việc chấp nhận công khai những thông tin có tính bảo mật liên quan đến khoản nợ xấu, vì vậy, lợi ích trực tiếp tổ chức tín dụng mong muốn đạt được là xóa hẳn nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán và được thanh toán bằng tiền mặt. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp VAMC không thu hồi được vốn từ khoản nợ xấu đã mua, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nhận lại nợ xấu và trả VAMC trái phiếu, trái phiếu đặc biệt.

Vì vậy, nếu trái phiếu, trái phiếu đặc biệt được Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh, lợi ích của tổ chức tín dụng sẽ được đảm bảo hơn. Theo đó, trong trường hợp VAMC không thu hồi được vốn từ khoản nợ xấu đã mua hoặc thu hồi nhỏ hơn giá mua nợ xấu, tổ chức tín dụng thay vì nhận lại nợ xấu sẽ được mang trái phiếu, trái phiếu đặc biệt đề nghị Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước thanh toán. Đây được coi là giải pháp quan trọng thúc đẩy các tổ chức tín dụng tích cực, chủ động bán nợ xấu cho VAMC, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC trong giai đoạn hiện nay.

TS. Nguyễn Minh Hằng, Đại học Luật Hà Nội

ThS. Hoàng Văn Thành, Học viện Ngân hàng



Tài liệu tham khảo:

[1]. Masahiro Inoguchi: “Nonperforming loans and public asset management companies in and ”, No. 398, 2012.

[2]. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

[3]. Khoản 9 Điều 1 Thông tư số 14/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: