Thứ sáu 16/01/2026 22:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phát hành trái phiếu và trái phiếu đặc biệt của công ty quản lý tài sản để mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng

Tóm tắt: Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật về phát hành trái phiếu và trái phiếu đặc biệt của Công ty Quản lý tài sản để mua lại nợ xấu của các tổ chức tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.


Abstract: The paper analyzes insufficiencies of law on bond issuance and specific bond of the Assets Management Company for back-buying bad debt of credit institutions, and thence, makes some solutions for law completion in this area.

Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ra đời như là minh chứng cho sự nỗ lực của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc giải quyết tình trạng nợ xấu tăng cao của hệ thống tổ chức tín dụng. Sau hơn 04 năm đi vào hoạt động, VAMC bước đầu đã đạt được những thành công nhất định khi đưa tỷ lệ nợ xấu trên toàn hệ thống về mức an toàn cho phép, tuy nhiên, bản chất của nợ xấu vẫn chưa được giải quyết triệt để khi hoạt động mua bán nợ xấu mới dừng lại ở việc luân chuyển từ các tổ chức tín dụng sang cho VAMC cất giữ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này xuất phát từ hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt được VAMC phát hành để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Vì vậy, để thúc đẩy các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC, bên cạnh công cụ trái phiếu đặc biệt, kể từ ngày 28/8/2015, VAMC được bổ sung công cụ trái phiếu để mua nợ xấu của tổ chức tín dụng.

1. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu

Việc phát hành trái phiếu đặc biệt để thanh toán thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt xuất phát từ quy mô khổng lồ của tình trạng nợ xấu trong khi nguồn vốn được cấp cho các công ty mua bán nợ tập trung thường nhỏ bé với quy mô của tình trạng nợ xấu và nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước. Đối với các quốc gia đang phát triển có ngân sách nhà nước hạn hẹp hay các quốc gia phát triển có ngân sách khổng lồ thì phương án khả thi nhất khi thành lập các công ty mua bán nợ tập trung là cấp nguồn vốn nhỏ tạo dựng ban đầu, sau đó cho phép công ty này phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Bản chất của việc thanh toán bằng phát hành trái phiếu đặc biệt là tổ chức tín dụng không được thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt khi bán nợ xấu mà chỉ nhận được trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ tập trung phát hành. Vì vậy, để đảm bảo hiệu quả của công cụ thanh toán này đòi hỏi chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương thông qua việc cho vay tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu và bảo lãnh của Chính phủ đối với loại trái phiếu đặc biệt này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc phát hành trái phiếu đặc biệt là công cụ thanh toán khi mua bán nợ xấu được áp dụng cho việc mua bán nợ xấu tổ chức tín dụng (bên bán nợ) với VAMC. Theo đó, khi mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng, thay vì thanh toán trực tiếp bằng tiền, VAMC trao cho các tổ chức tín dụng trái phiếu đặc biệt do mình phát hành.

Cụ thể, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định: Trái phiếu đặc biệt do Công ty Quản lý tài sản phát hành để mua lại các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng và có các đặc điểm sau đây:

“a) Trái phiếu đặc biệt được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử;

b) Mệnh giá trái phiếu đặc biệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu được quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định này;

c) Trái phiếu đặc biệt được phát hành bằng đồng Việt Nam có lãi suất bằng 0% và thời hạn tối đa 05 năm. Trường hợp phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn về tài chính thì thời hạn của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm;

d) Trái phiếu đặc biệt được sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước”.

Việc thanh toán cho các tổ chức tín dụng bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt được xem là phương thức được áp dụng phổ biến nhất đối với việc mua bán nợ xấu của các công ty quản lý tài sản do Nhà nước thành lập. Phương thức này đã được áp dụng rất thành công trong nỗ lực giải quyết nợ xấu ở các nước khu vực Đông Nam Á và Đông Á trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.

Sở dĩ tất cả các công ty quản lý tài sản tập trung tại các nước đều mua nợ xấu bằng phát hành trái phiếu đặc biệt bởi tổng giá trị của nợ xấu rất khổng lồ, trong khi nguồn vốn của các công ty này lại rất hạn chế. Chẳng hạn như Thái Lan, việc thành lập TAMC năm 2001 là giải pháp cuối cùng mà Chính phủ nước này lựa chọn sau khi 12 công ty quản lý tài sản (AMCs) tư nhân và 04 AMCs phi tập trung của Nhà nước không phát huy hiệu quả. Nguyên nhân dẫn đến việc Thái Lan chần chừ xuất phát từ nguồn vốn của các công ty quản lý tài sản tập trung. Tất cả các công ty quản lý tài sản tập trung tại các nước đều lấy nguồn vốn được cấp trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, sự ra đời của các công ty quản lý tài sản tập trung là một gánh nặng cho ngân sách, có thể gây ra sự phản đối của các doanh nghiệp và người dân.

Tuy nhiên, tại tất cả các nước, nguồn vốn được cấp từ ngân sách chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong nguồn vốn hoạt động. Trong khi đó, phát hành trái phiếu đặc biệt là phương pháp được Chính phủ các nước sử dụng để tạo vốn cho các công ty quản lý tài sản (AMC). Tại Hàn Quốc và Thái Lan, trái phiếu AMC chiếm hơn 90% tổng nguồn tài trợ cho AMC; con số này vào khoảng 60% tại Trung Quốc và Malaysia[1]. Tại Việt Nam, nguồn vốn ban đầu được cấp cho VAMC là 500 tỷ đồng, sau đó được nâng lên là 2.000 tỷ đồng[2], tuy nhiên, số vốn này được xem là quá nhỏ bé so với quy mô nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, mua nợ bằng việc phát hành trái phiếu là giải pháp khả thi nhất.

Mặc dù được coi là giải pháp khả thi và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam, tuy nhiên, những quy định liên quan về loại công cụ thanh toán này đang được xem là trở ngại cho việc mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng khi không đủ sức cuốn hút đối với các tổ chức tín dụng khi quyết định bán nợ xấu. Tình trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất, thời hạn của trái phiếu đặc biệt: Trái phiếu đặc biệt được phát hành bằng đồng Việt Nam có lãi suất bằng 0% và thời hạn tối đa 05 năm. Trường hợp phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng đang thực hiện phương án tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn về tài chính thì thời hạn của trái phiếu đặc biệt tối đa không quá 10 năm. Từ đây làm phát sinh vấn đề, đó là kể cả đã bán nợ xấu cho VAMC, tổ chức tín dụng vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi khoản nợ xấu đó, bởi sau 05 năm hoặc 10 năm đối với trường hợp đặc biệt, nếu VAMC không xử lý được khoản nợ xấu đã mua, VAMC sẽ trả lại tổ chức tín dụng đã bán.

Thứ hai, về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng khi sở hữu trái phiếu đặc biệt: Theo khoản 12 Điều 1 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/3/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP thì tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu đặc biệt chỉ được sử dụng để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước và phải có nghĩa vụ trích lập dự phòng rủi ro hàng năm đối với trái phiếu đặc biệt vào chi phí hoạt động… những quy định này đã gây ra hạn chế rất lớn cho tổ chức tín dụng nắm giữ trái phiếu đặc biệt.

Thứ ba, về khả năng chuyển nhượng: Trái phiếu đặc biệt không được chuyển nhượng[3]. Điều đó có nghĩa, khi nhận trái phiếu đặc biệt từ VAMC, tổ chức tín dụng chỉ có thể sử dụng bằng cách mang trái phiếu tới Ngân hàng Nhà nước để vay tái cấp vốn. Như vậy, khi bán nợ xấu cho VAMC, trong thời hạn 05 năm (trường hợp đặc biệt là 10 năm) nắm giữ, tổ chức tín dụng không được chuyển nhượng cho Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức, cá nhân khác. Phương án duy nhất tổ chức tín dụng được quyền lựa chọn là sử dụng làm tài sản bảo đảm để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, phương án này cũng gặp trở ngại khi việc vay tái cấp vốn phụ thuộc vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước trong mỗi thời kỳ.

2. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam phát hành trái phiếu để mua nợ xấu

Xuất phát từ những hạn chế của công cụ trái phiếu đặc biệt như đã phân tích ở trên, ngày 28/8/2015, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/9/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, theo đó, cho phép VAMC được phát hành trái phiếu để thanh toán cho các khoản nợ xấu mua của các tổ chức tín dụng. Trái phiếu phát hành trực tiếp cho tổ chức tín dụng bán nợ để mua nợ xấu theo giá trị thị trường (sau đây gọi là trái phiếu) là giấy tờ có giá có thời hạn do Công ty Quản lý tài sản phát hành trực tiếp cho tổ chức tín dụng bán nợ khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường. Công ty Quản lý tài sản phát hành trái phiếu để thanh toán cho các tổ chức tín dụng bán nợ khi mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Theo các khoản 8, 9 Điều 1 Thông tư số 14/2015/TT-NHNN, loại trái phiếu này có đặc trưng: (i) Một trái phiếu được phát hành tương ứng với một khoản nợ xấu được mua, bán; (ii) Mệnh giá trái phiếu có giá trị bằng giá mua, bán của khoản nợ xấu; (iii) Thời hạn của trái phiếu được xác định theo thỏa thuận giữa Công ty Quản lý tài sản và tổ chức tín dụng bán nợ, tối thiểu là 01 năm. Trường hợp số tiền thu hồi nợ chưa đủ để thanh toán trái phiếu khi trái phiếu đến hạn thanh toán, Công ty Quản lý tài sản quyết định gia hạn thời hạn của trái phiếu, tối đa không quá 03 năm, trừ trường hợp có sự đồng ý của tổ chức sở hữu trái phiếu.

Ngoài ra, so với trái phiếu đặc biệt, công cụ trái phiếu mang đến những ưu điểm vượt trội cho tổ chức tín dụng bán nợ xấu, cụ thể: (i) Trái phiếu được chuyển nhượng giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng với nhau; (ii) Tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu không phải trích lập dự phòng rủi ro cho trái phiếu; (iii) Xác định hệ số rủi ro của trái phiếu là 0% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng; (iv) Được sử dụng trái phiếu, trái phiếu đặc biệt để tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; được sử dụng trái phiếu để tham gia nghiệp vụ thị trường mở.

Mặc dù đã được pháp luật nới rộng một số quyền hạn nhất định cho tổ chức tín dụng sở hữu trái phiếu, tuy nhiên, tính thanh khoản của loại công cụ này vẫn thấp. So với việc thanh toán bằng tiền mặt, phát hành trái phiếu rõ ràng không đủ sức lôi cuốn các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC.

3. Giải pháp

Xuất phát từ những hạn chế của công cụ trái phiếu, trái phiếu đặc biệt như đã phân tích ở trên, để tăng hiệu quả của hai loại công cụ này khi VAMC mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng, cần chú ý những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, để tăng sức hấp dẫn của trái phiếu đặc biệt, cần xem xét trao cho tổ chức tín dụng nắm giữ loại công cụ này những quyền hạn như nắm giữ trái phiếu

Trong các quan hệ mua bán nợ xấu giữa VAMC và các tổ chức tín dụng hiện nay, hầu hết các tổ chức tín dụng khi bán nợ xấu đều nhận được trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành. Như đã phân tích, công cụ trái phiếu đặc biệt mang đến những hạn chế rất lớn cho tổ chức tín dụng nắm giữ như không được phép chuyển nhượng, chỉ được sử dụng để vay tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước… Những tồn tại này tác động tiêu cực tới tâm lý của tổ chức tín dụng khi quyết định bán nợ xấu cho VAMC. Vì vậy, để tăng sức hấp dẫn của công cụ này, Ngân hàng Nhà nước cần xem xét trao cho tổ chức tín dụng nắm giữ loại công cụ này những quyền hạn như nắm giữ trái phiếu, bao gồm: Được chuyển nhượng giữa Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng và giữa các tổ chức tín dụng với nhau; không phải trích lập dự phòng rủi ro; được sử dụng trái phiếu đặc biệt để tham gia nghiệp vụ thị trường mở…

Thứ hai, nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu, trái phiếu đặc biệt bằng việc bảo lãnh của Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước

Như đã phân tích, kể cả trong trường hợp pháp luật trao cho công cụ trái phiếu đặc biệt những quyền hạn như công cụ trái phiếu thì vẫn chưa đủ sức cuốn hút các tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho VAMC. Bản thân các tổ chức tín dụng khi lựa chọn phương án bán nợ xấu thay vì tự xử lý bằng nghiệp vụ thu hồi nợ đồng nghĩa với việc chấp nhận công khai những thông tin có tính bảo mật liên quan đến khoản nợ xấu, vì vậy, lợi ích trực tiếp tổ chức tín dụng mong muốn đạt được là xóa hẳn nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán và được thanh toán bằng tiền mặt. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp VAMC không thu hồi được vốn từ khoản nợ xấu đã mua, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ nhận lại nợ xấu và trả VAMC trái phiếu, trái phiếu đặc biệt.

Vì vậy, nếu trái phiếu, trái phiếu đặc biệt được Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh, lợi ích của tổ chức tín dụng sẽ được đảm bảo hơn. Theo đó, trong trường hợp VAMC không thu hồi được vốn từ khoản nợ xấu đã mua hoặc thu hồi nhỏ hơn giá mua nợ xấu, tổ chức tín dụng thay vì nhận lại nợ xấu sẽ được mang trái phiếu, trái phiếu đặc biệt đề nghị Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước thanh toán. Đây được coi là giải pháp quan trọng thúc đẩy các tổ chức tín dụng tích cực, chủ động bán nợ xấu cho VAMC, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu của VAMC trong giai đoạn hiện nay.

TS. Nguyễn Minh Hằng, Đại học Luật Hà Nội

ThS. Hoàng Văn Thành, Học viện Ngân hàng



Tài liệu tham khảo:

[1]. Masahiro Inoguchi: “Nonperforming loans and public asset management companies in and ”, No. 398, 2012.

[2]. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

[3]. Khoản 9 Điều 1 Thông tư số 14/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: