Thứ sáu 23/10/2026 20:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nêu khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; phân tích quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên và đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Abstract: The article gives an overview of social-professional organizations and social-professional organizations of notaries; analyzes the legal provisions on social-professional organizations of notaries and makes some proposals to improve the law on social-professional organizations of notaries.

1. Khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Có thể khẳng định rằng, Luật Công chứng năm 2006 ra đời là dấu mốc quan trọng, chính thức khẳng định công chứng là một nghề bằng cách pháp điển hóa chủ trương “xã hội hóa” hoạt động bổ trợ tư pháp này. Ở giai đoạn đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vấn đề thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chưa được các nhà làm luật công chứng đặt ra. Tuy nhiên, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội cũng như tiến trình “xã hội hóa” hoạt động công chứng tại địa phương, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cho phép thành lập Hội Công chứng viên tại địa phương nhằm bước đầu xây dựng cơ chế tự quản bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước vốn có đối với hoạt động bổ trợ tư pháp này. Theo tác giả, đây chính là những kinh nghiệm thực tế quý báu để tại Luật Công chứng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật Công chứng) và các văn bản hướng dẫn thi hành, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đã được pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng chính thức thừa nhận.

Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, tổ chức xã hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của các thành viên nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có các đặc điểm như: (i) Tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, cùng sở thích. (ii) Tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh Nhà nước. (iii) Tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng hoặc theo quy định của Nhà nước. (iv) Tổ chức xã hội hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có nhiều loại khác nhau như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc dấu hiệu khác. Các tổ chức xã hội khác nhau thì có quyền và nghĩa vụ khác nhau. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ vị trí, vai trò, phạm vi hoạt động của các tổ chức xã hội là khác nhau. Pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của tổ chức xã hội, đồng thời đề ra những bảo đảm pháp lý nhằm ngăn ngừa những hành vi cản trở hoạt động của tổ chức xã hội. Những người có hành vi vi phạm pháp luật, cản trở các tổ chức xã hội cũng như các thành viên của tổ chức xã hội tiến hành các hoạt động hợp pháp của mình thì tùy theo mức độ của vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trên phương diện khoa học pháp lý, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chính là một loại tổ chức xã hội, được thành lập dựa trên yếu tố “cùng nghề nghiệp” của các thành viên. Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ (Nghị định số 45/2010/NĐ-CP) quy định: Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hội có các tên gọi khác nhau như: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật. Phạm vi hoạt động của hội (theo lãnh thổ) gồm: (i) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; (ii) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (iii) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; (iv) Hội có phạm vi hoạt động trong xã, phường, thị trấn. Tổ chức, hoạt động của hội được thực hiện theo các nguyên tắc: Tự nguyện, tự quản; dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội (Điều 3). Bên cạnh đó, tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, các nhà lập quy cũng dành toàn bộ nội dung Chương VI, bao gồm 03 điều luật (từ Điều 33 đến Điều 35) để đưa ra một số quy định áp dụng đối với các hội có tính chất đặc thù. Hiện nay, theo “Danh sách Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước” được ban hành kèm theo Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù không có tên tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, có thể thấy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên không được hưởng cơ chế “đặc thù” mà đang được tổ chức và hoạt động như các hội có tính chất thông thường khác.

2. Quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Khi Luật Công chứng ra đời, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên mới chính thức được thừa nhận. Điều 39 Luật Công chứng quy định: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức tự quản được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia cùng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ; Chính phủ quy định chi tiết về việc thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Có thể thấy rằng, quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Luật Công chứng là một nội dung hoàn toàn mới so với các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng trước đây. Theo đó, tác giả có một số nhận xét như sau:

- Khoản 1 Điều 39 Luật Công chứng quy định một số nội dung về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bản chất pháp lý cũng như mục đích thành lập (được khẳng định là tổ chức tự quản để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên); (ii) Mô hình tổ chức của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (được tổ chức theo mô hình 02 cấp, bao gồm cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); (iii) Xác định một số nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (như ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng...).

- Để phù hợp với nội dung của Điều 6 Luật Tổ chức chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), khoản 5 Điều 4 và Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 2 Điều 39 Luật Công chứng giao cho Chính phủ quy định một số nội dung liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, bao gồm trình tự, thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn.

Thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP) đã dành toàn văn nội dung Chương IV, bao gồm 09 điều (từ Điều 23 đến Điều 31) để quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, theo đó:

+ Mục 1, bao gồm 04 điều (từ Điều 23 đến Điều 26) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh của công chứng viên, cụ thể là: Hội công chứng viên (Điều 23); trình tự, thủ tục thành lập Hội công chứng viên (Điều 24); các cơ quan của Hội công chứng viên (Điều 25); nhiệm vụ và quyền hạn của Hội công chứng viên (Điều 26).

+ Mục 2, bao gồm 05 điều (từ Điều 27 đến Điều 31) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên, cụ thể là: Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 27); trình tự, thủ tục thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 28); các cơ quan của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 29); nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam (Điều 30); Điều lệ Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 31).

Như vậy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Việt Nam đang được xây dựng theo mô hình 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên). Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được quy định trong một số văn bản cụ thể như: Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng, Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng được ban hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày 15/04/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng, Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp... Ngoài ra, tùy vào đặc điểm riêng có của từng địa phương, một số quy định có liên quan đến hội nói chung (bao gồm cả Hội Công chứng viên) được ghi nhận tại các văn bản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (ví dụ như: Quy định về tổ chức, hoạt động của hội và nhiệm vụ quản lý nhà nước về hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội được ban hành kèm theo Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 30/8/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND ngày 19/10/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội).

Điểm đáng lưu ý nhất khi chúng ta tiến hành đối chiếu các quy định của pháp luật công chứng với các quy định của pháp luật về hội chính là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội. Cụ thể, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP khẳng định, “tự nguyện” là một trong những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội, trong khi đó, theo điểm h khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng, tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp lại là “nghĩa vụ” của công chứng viên.

Tìm hiểu nội dung một số văn bản liên quan đến mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Nhìn một cách khái quát nhất, ngoại trừ Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đang được điều chỉnh, chi phối bởi hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội. Ngoài ra, còn có các văn bản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh một số vấn đề cụ thể có liên quan đến hoạt động của hội nói chung hay tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nói riêng. Có một thực tế rằng, không phải trong mọi trường hợp, quy định tại các văn bản nêu trên đều tương thích, phù hợp với nhau (đơn cử như Điều 10 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP trong tương quan so sánh với khoản 3 Điều 24 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP).

- Đúng như tôn chỉ và mục đích, có thể khẳng định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên ở cả 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên) đều hướng đến mục tiêu tối thượng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và liên quan một số nội dung như: (i) Quản lý hội viên (như kết nạp, khai trừ hội viên; khen thưởng, xử lý kỷ luật hội viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát hội viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan...); (ii) Trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hội viên khi bắt đầu đăng ký cũng như trong suốt quá trình hành nghề (như tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên hay thành lập và quản lý Quỹ bồi thường thiệt hại để hỗ trợ việc bồi thường thiệt hại do lỗi của hội viên khi hành nghề công chứng trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của hội viên không đủ bồi thường...).

Ngoài ra, để hỗ trợ cho tôn chỉ và mục đích chủ đạo nêu trên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên còn có một số quyền và nghĩa vụ khác như: Chấp hành sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, tham gia hoạt động hợp tác về công chứng ở trong nước và quốc tế, báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các vấn đề liên quan…

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Nhìn một cách tổng thể, các quy định có liên quan đến địa vị pháp lý cũng như mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên như hiện tại tương đối phù hợp, trước mắt đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi khách quan. Tuy nhiên, để có thể hoàn thiện quy định của pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, phù hợp cho hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, trong thời gian tới, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan theo hướng sau:

Một là, có sự kết nối, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội nói chung với các quy định có liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng nói riêng.

Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp hữu hiệu, chặt chẽ có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa cơ chế quản lý nhà nước và cơ chế tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Ba là, khẳng định, nâng cao vai trò của cơ chế tự quản trong lĩnh vực công chứng của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên theo đúng tinh thần chỉ đạo đã được ghi nhận tại Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng.

Trước mắt, cần sớm bổ sung một số nội dung mang tính cụ thể vào các quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bổ sung tổ chức hành nghề công chứng cũng là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; (ii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; (iii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng; (iv) Khẳng định vai trò đại diện của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên cho hội viên trước các cơ quan tài phán; (v) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên.

TS. Tuấn Đạo Thanh

Trưởng Phòng Công chứng số 1 Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: