Thứ sáu 22/05/2026 23:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nêu khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; phân tích quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên và đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Abstract: The article gives an overview of social-professional organizations and social-professional organizations of notaries; analyzes the legal provisions on social-professional organizations of notaries and makes some proposals to improve the law on social-professional organizations of notaries.

1. Khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Có thể khẳng định rằng, Luật Công chứng năm 2006 ra đời là dấu mốc quan trọng, chính thức khẳng định công chứng là một nghề bằng cách pháp điển hóa chủ trương “xã hội hóa” hoạt động bổ trợ tư pháp này. Ở giai đoạn đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vấn đề thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chưa được các nhà làm luật công chứng đặt ra. Tuy nhiên, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội cũng như tiến trình “xã hội hóa” hoạt động công chứng tại địa phương, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cho phép thành lập Hội Công chứng viên tại địa phương nhằm bước đầu xây dựng cơ chế tự quản bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước vốn có đối với hoạt động bổ trợ tư pháp này. Theo tác giả, đây chính là những kinh nghiệm thực tế quý báu để tại Luật Công chứng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật Công chứng) và các văn bản hướng dẫn thi hành, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đã được pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng chính thức thừa nhận.

Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, tổ chức xã hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của các thành viên nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có các đặc điểm như: (i) Tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, cùng sở thích. (ii) Tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh Nhà nước. (iii) Tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng hoặc theo quy định của Nhà nước. (iv) Tổ chức xã hội hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có nhiều loại khác nhau như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc dấu hiệu khác. Các tổ chức xã hội khác nhau thì có quyền và nghĩa vụ khác nhau. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ vị trí, vai trò, phạm vi hoạt động của các tổ chức xã hội là khác nhau. Pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của tổ chức xã hội, đồng thời đề ra những bảo đảm pháp lý nhằm ngăn ngừa những hành vi cản trở hoạt động của tổ chức xã hội. Những người có hành vi vi phạm pháp luật, cản trở các tổ chức xã hội cũng như các thành viên của tổ chức xã hội tiến hành các hoạt động hợp pháp của mình thì tùy theo mức độ của vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trên phương diện khoa học pháp lý, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chính là một loại tổ chức xã hội, được thành lập dựa trên yếu tố “cùng nghề nghiệp” của các thành viên. Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ (Nghị định số 45/2010/NĐ-CP) quy định: Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hội có các tên gọi khác nhau như: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật. Phạm vi hoạt động của hội (theo lãnh thổ) gồm: (i) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; (ii) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (iii) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; (iv) Hội có phạm vi hoạt động trong xã, phường, thị trấn. Tổ chức, hoạt động của hội được thực hiện theo các nguyên tắc: Tự nguyện, tự quản; dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội (Điều 3). Bên cạnh đó, tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, các nhà lập quy cũng dành toàn bộ nội dung Chương VI, bao gồm 03 điều luật (từ Điều 33 đến Điều 35) để đưa ra một số quy định áp dụng đối với các hội có tính chất đặc thù. Hiện nay, theo “Danh sách Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước” được ban hành kèm theo Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù không có tên tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, có thể thấy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên không được hưởng cơ chế “đặc thù” mà đang được tổ chức và hoạt động như các hội có tính chất thông thường khác.

2. Quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Khi Luật Công chứng ra đời, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên mới chính thức được thừa nhận. Điều 39 Luật Công chứng quy định: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức tự quản được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia cùng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ; Chính phủ quy định chi tiết về việc thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Có thể thấy rằng, quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Luật Công chứng là một nội dung hoàn toàn mới so với các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng trước đây. Theo đó, tác giả có một số nhận xét như sau:

- Khoản 1 Điều 39 Luật Công chứng quy định một số nội dung về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bản chất pháp lý cũng như mục đích thành lập (được khẳng định là tổ chức tự quản để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên); (ii) Mô hình tổ chức của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (được tổ chức theo mô hình 02 cấp, bao gồm cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); (iii) Xác định một số nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (như ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng...).

- Để phù hợp với nội dung của Điều 6 Luật Tổ chức chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), khoản 5 Điều 4 và Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 2 Điều 39 Luật Công chứng giao cho Chính phủ quy định một số nội dung liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, bao gồm trình tự, thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn.

Thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP) đã dành toàn văn nội dung Chương IV, bao gồm 09 điều (từ Điều 23 đến Điều 31) để quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, theo đó:

+ Mục 1, bao gồm 04 điều (từ Điều 23 đến Điều 26) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh của công chứng viên, cụ thể là: Hội công chứng viên (Điều 23); trình tự, thủ tục thành lập Hội công chứng viên (Điều 24); các cơ quan của Hội công chứng viên (Điều 25); nhiệm vụ và quyền hạn của Hội công chứng viên (Điều 26).

+ Mục 2, bao gồm 05 điều (từ Điều 27 đến Điều 31) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên, cụ thể là: Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 27); trình tự, thủ tục thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 28); các cơ quan của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 29); nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam (Điều 30); Điều lệ Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 31).

Như vậy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Việt Nam đang được xây dựng theo mô hình 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên). Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được quy định trong một số văn bản cụ thể như: Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng, Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng được ban hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày 15/04/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng, Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp... Ngoài ra, tùy vào đặc điểm riêng có của từng địa phương, một số quy định có liên quan đến hội nói chung (bao gồm cả Hội Công chứng viên) được ghi nhận tại các văn bản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (ví dụ như: Quy định về tổ chức, hoạt động của hội và nhiệm vụ quản lý nhà nước về hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội được ban hành kèm theo Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 30/8/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND ngày 19/10/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội).

Điểm đáng lưu ý nhất khi chúng ta tiến hành đối chiếu các quy định của pháp luật công chứng với các quy định của pháp luật về hội chính là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội. Cụ thể, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP khẳng định, “tự nguyện” là một trong những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội, trong khi đó, theo điểm h khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng, tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp lại là “nghĩa vụ” của công chứng viên.

Tìm hiểu nội dung một số văn bản liên quan đến mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Nhìn một cách khái quát nhất, ngoại trừ Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đang được điều chỉnh, chi phối bởi hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội. Ngoài ra, còn có các văn bản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh một số vấn đề cụ thể có liên quan đến hoạt động của hội nói chung hay tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nói riêng. Có một thực tế rằng, không phải trong mọi trường hợp, quy định tại các văn bản nêu trên đều tương thích, phù hợp với nhau (đơn cử như Điều 10 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP trong tương quan so sánh với khoản 3 Điều 24 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP).

- Đúng như tôn chỉ và mục đích, có thể khẳng định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên ở cả 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên) đều hướng đến mục tiêu tối thượng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và liên quan một số nội dung như: (i) Quản lý hội viên (như kết nạp, khai trừ hội viên; khen thưởng, xử lý kỷ luật hội viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát hội viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan...); (ii) Trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hội viên khi bắt đầu đăng ký cũng như trong suốt quá trình hành nghề (như tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên hay thành lập và quản lý Quỹ bồi thường thiệt hại để hỗ trợ việc bồi thường thiệt hại do lỗi của hội viên khi hành nghề công chứng trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của hội viên không đủ bồi thường...).

Ngoài ra, để hỗ trợ cho tôn chỉ và mục đích chủ đạo nêu trên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên còn có một số quyền và nghĩa vụ khác như: Chấp hành sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, tham gia hoạt động hợp tác về công chứng ở trong nước và quốc tế, báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các vấn đề liên quan…

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Nhìn một cách tổng thể, các quy định có liên quan đến địa vị pháp lý cũng như mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên như hiện tại tương đối phù hợp, trước mắt đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi khách quan. Tuy nhiên, để có thể hoàn thiện quy định của pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, phù hợp cho hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, trong thời gian tới, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan theo hướng sau:

Một là, có sự kết nối, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội nói chung với các quy định có liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng nói riêng.

Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp hữu hiệu, chặt chẽ có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa cơ chế quản lý nhà nước và cơ chế tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Ba là, khẳng định, nâng cao vai trò của cơ chế tự quản trong lĩnh vực công chứng của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên theo đúng tinh thần chỉ đạo đã được ghi nhận tại Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng.

Trước mắt, cần sớm bổ sung một số nội dung mang tính cụ thể vào các quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bổ sung tổ chức hành nghề công chứng cũng là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; (ii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; (iii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng; (iv) Khẳng định vai trò đại diện của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên cho hội viên trước các cơ quan tài phán; (v) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên.

TS. Tuấn Đạo Thanh

Trưởng Phòng Công chứng số 1 Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: