Thứ tư 14/01/2026 13:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên - Thực trạng và hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nêu khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; phân tích quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên và đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Abstract: The article gives an overview of social-professional organizations and social-professional organizations of notaries; analyzes the legal provisions on social-professional organizations of notaries and makes some proposals to improve the law on social-professional organizations of notaries.

1. Khái quát về tổ chức xã hội - nghề nghiệp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Có thể khẳng định rằng, Luật Công chứng năm 2006 ra đời là dấu mốc quan trọng, chính thức khẳng định công chứng là một nghề bằng cách pháp điển hóa chủ trương “xã hội hóa” hoạt động bổ trợ tư pháp này. Ở giai đoạn đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, vấn đề thành lập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chưa được các nhà làm luật công chứng đặt ra. Tuy nhiên, căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội cũng như tiến trình “xã hội hóa” hoạt động công chứng tại địa phương, Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã cho phép thành lập Hội Công chứng viên tại địa phương nhằm bước đầu xây dựng cơ chế tự quản bên cạnh cơ chế quản lý nhà nước vốn có đối với hoạt động bổ trợ tư pháp này. Theo tác giả, đây chính là những kinh nghiệm thực tế quý báu để tại Luật Công chứng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung năm 2018 (Luật Công chứng) và các văn bản hướng dẫn thi hành, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đã được pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng chính thức thừa nhận.

Theo Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, tổ chức xã hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của các thành viên nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có các đặc điểm như: (i) Tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, cùng sở thích. (ii) Tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định, tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh Nhà nước. (iii) Tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng hoặc theo quy định của Nhà nước. (iv) Tổ chức xã hội hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Tổ chức xã hội có nhiều loại khác nhau như tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc dấu hiệu khác. Các tổ chức xã hội khác nhau thì có quyền và nghĩa vụ khác nhau. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ vị trí, vai trò, phạm vi hoạt động của các tổ chức xã hội là khác nhau. Pháp luật quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của tổ chức xã hội, đồng thời đề ra những bảo đảm pháp lý nhằm ngăn ngừa những hành vi cản trở hoạt động của tổ chức xã hội. Những người có hành vi vi phạm pháp luật, cản trở các tổ chức xã hội cũng như các thành viên của tổ chức xã hội tiến hành các hoạt động hợp pháp của mình thì tùy theo mức độ của vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trên phương diện khoa học pháp lý, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên chính là một loại tổ chức xã hội, được thành lập dựa trên yếu tố “cùng nghề nghiệp” của các thành viên. Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 33/2012/NĐ-CP ngày 13/4/2012 của Chính phủ (Nghị định số 45/2010/NĐ-CP) quy định: Hội được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Hội có các tên gọi khác nhau như: Hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật. Phạm vi hoạt động của hội (theo lãnh thổ) gồm: (i) Hội có phạm vi hoạt động cả nước hoặc liên tỉnh; (ii) Hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (iii) Hội có phạm vi hoạt động trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; (iv) Hội có phạm vi hoạt động trong xã, phường, thị trấn. Tổ chức, hoạt động của hội được thực hiện theo các nguyên tắc: Tự nguyện, tự quản; dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và điều lệ hội (Điều 3). Bên cạnh đó, tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, các nhà lập quy cũng dành toàn bộ nội dung Chương VI, bao gồm 03 điều luật (từ Điều 33 đến Điều 35) để đưa ra một số quy định áp dụng đối với các hội có tính chất đặc thù. Hiện nay, theo “Danh sách Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước” được ban hành kèm theo Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù không có tên tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, có thể thấy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên không được hưởng cơ chế “đặc thù” mà đang được tổ chức và hoạt động như các hội có tính chất thông thường khác.

2. Quy định của pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Khi Luật Công chứng ra đời, vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên mới chính thức được thừa nhận. Điều 39 Luật Công chứng quy định: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên là tổ chức tự quản được thành lập ở cấp trung ương và cấp tỉnh để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên; ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; tham gia cùng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập sự hành nghề công chứng; tham gia ý kiến với cơ quan có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến hoạt động công chứng theo quy định của Chính phủ; Chính phủ quy định chi tiết về việc thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên. Có thể thấy rằng, quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Luật Công chứng là một nội dung hoàn toàn mới so với các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng trước đây. Theo đó, tác giả có một số nhận xét như sau:

- Khoản 1 Điều 39 Luật Công chứng quy định một số nội dung về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bản chất pháp lý cũng như mục đích thành lập (được khẳng định là tổ chức tự quản để đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các công chứng viên); (ii) Mô hình tổ chức của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (được tổ chức theo mô hình 02 cấp, bao gồm cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); (iii) Xác định một số nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên (như ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, giám sát việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng...).

- Để phù hợp với nội dung của Điều 6 Luật Tổ chức chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), khoản 5 Điều 4 và Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 2 Điều 39 Luật Công chứng giao cho Chính phủ quy định một số nội dung liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, bao gồm trình tự, thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn.

Thực hiện nhiệm vụ nêu trên, Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (Nghị định số 29/2015/NĐ-CP) đã dành toàn văn nội dung Chương IV, bao gồm 09 điều (từ Điều 23 đến Điều 31) để quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, theo đó:

+ Mục 1, bao gồm 04 điều (từ Điều 23 đến Điều 26) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp tỉnh của công chứng viên, cụ thể là: Hội công chứng viên (Điều 23); trình tự, thủ tục thành lập Hội công chứng viên (Điều 24); các cơ quan của Hội công chứng viên (Điều 25); nhiệm vụ và quyền hạn của Hội công chứng viên (Điều 26).

+ Mục 2, bao gồm 05 điều (từ Điều 27 đến Điều 31) quy định về tổ chức xã hội - nghề nghiệp toàn quốc của công chứng viên, cụ thể là: Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 27); trình tự, thủ tục thành lập Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 28); các cơ quan của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 29); nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam (Điều 30); Điều lệ Hiệp hội công chứng viên Việt Nam (Điều 31).

Như vậy, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên tại Việt Nam đang được xây dựng theo mô hình 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên). Nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được quy định trong một số văn bản cụ thể như: Thông tư số 01/2021/TT-BTP ngày 03/02/2021 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng, Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng được ban hành kèm theo Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày 15/04/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng, Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp... Ngoài ra, tùy vào đặc điểm riêng có của từng địa phương, một số quy định có liên quan đến hội nói chung (bao gồm cả Hội Công chứng viên) được ghi nhận tại các văn bản do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành (ví dụ như: Quy định về tổ chức, hoạt động của hội và nhiệm vụ quản lý nhà nước về hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội được ban hành kèm theo Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 30/8/2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Quyết định số 17/2021/QĐ-UBND ngày 19/10/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội).

Điểm đáng lưu ý nhất khi chúng ta tiến hành đối chiếu các quy định của pháp luật công chứng với các quy định của pháp luật về hội chính là nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội. Cụ thể, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP khẳng định, “tự nguyện” là một trong những nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hội, trong khi đó, theo điểm h khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng, tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp lại là “nghĩa vụ” của công chứng viên.

Tìm hiểu nội dung một số văn bản liên quan đến mô hình tổ chức cũng như cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Nhìn một cách khái quát nhất, ngoại trừ Điều lệ Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam được phê duyệt tại Quyết định số 1621/QĐ-BTP ngày 19/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên đang được điều chỉnh, chi phối bởi hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội. Ngoài ra, còn có các văn bản khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh một số vấn đề cụ thể có liên quan đến hoạt động của hội nói chung hay tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên nói riêng. Có một thực tế rằng, không phải trong mọi trường hợp, quy định tại các văn bản nêu trên đều tương thích, phù hợp với nhau (đơn cử như Điều 10 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP trong tương quan so sánh với khoản 3 Điều 24 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP).

- Đúng như tôn chỉ và mục đích, có thể khẳng định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên ở cả 02 cấp là cấp trung ương (Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Hội Công chứng viên) đều hướng đến mục tiêu tối thượng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và liên quan một số nội dung như: (i) Quản lý hội viên (như kết nạp, khai trừ hội viên; khen thưởng, xử lý kỷ luật hội viên; giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát hội viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan...); (ii) Trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hội viên khi bắt đầu đăng ký cũng như trong suốt quá trình hành nghề (như tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng, chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm cho công chứng viên hay thành lập và quản lý Quỹ bồi thường thiệt hại để hỗ trợ việc bồi thường thiệt hại do lỗi của hội viên khi hành nghề công chứng trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của hội viên không đủ bồi thường...).

Ngoài ra, để hỗ trợ cho tôn chỉ và mục đích chủ đạo nêu trên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên còn có một số quyền và nghĩa vụ khác như: Chấp hành sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước, tham gia hoạt động hợp tác về công chứng ở trong nước và quốc tế, báo cáo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các vấn đề liên quan…

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên

Nhìn một cách tổng thể, các quy định có liên quan đến địa vị pháp lý cũng như mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên như hiện tại tương đối phù hợp, trước mắt đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi khách quan. Tuy nhiên, để có thể hoàn thiện quy định của pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, phù hợp cho hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, trong thời gian tới, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan theo hướng sau:

Một là, có sự kết nối, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hội nói chung với các quy định có liên quan đến tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực công chứng nói riêng.

Hai là, xây dựng cơ chế phối hợp hữu hiệu, chặt chẽ có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa cơ chế quản lý nhà nước và cơ chế tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.

Ba là, khẳng định, nâng cao vai trò của cơ chế tự quản trong lĩnh vực công chứng của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên theo đúng tinh thần chỉ đạo đã được ghi nhận tại Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng.

Trước mắt, cần sớm bổ sung một số nội dung mang tính cụ thể vào các quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên, cụ thể như: (i) Bổ sung tổ chức hành nghề công chứng cũng là hội viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên; (ii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng; (iii) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng; (iv) Khẳng định vai trò đại diện của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên cho hội viên trước các cơ quan tài phán; (v) Khẳng định vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên.

TS. Tuấn Đạo Thanh

Trưởng Phòng Công chứng số 1 Thành phố Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.

Theo dõi chúng tôi trên: