Thứ hai 24/08/2026 13:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của hộ gia đình tại các tổ chức tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình là quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm nói chung và của .

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình là quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm nói chung và của hộ gia đình nói riêng.
Abstract: The article concentrates on analyzing legal provisions on handling secured property as land use right in credit institutions in Vietnam currently. As a result, the article makes proposals, solutions for completing normative legal document system on handling secured assets in general and of household in particular.

1. Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của hộ gia đình tại các tổ chức tín dụng ngân hàng ở nước ta hiện nay
Xử lý tài sản bảo đảm là hệ quả pháp lý của hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của bên bảo đảm. Kết quả xử lý tài sản bảo đảm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bên bảo đảm (chủ sở hữu tài sản), bên nhận bảo đảm (bên hưởng lợi từ việc xử lý tài sản bảo đảm) và các chủ thể khác có lợi ích liên quan (cơ quan nhà nước, người mua, người nhận chuyển nhượng tài sản bảo đảm ngay tình). Do quá trình xử lý tài sản bảo đảm rất dễ xảy ra các tranh chấp, bất đồng về lợi ích giữa các bên liên quan đến tài sản bảo đảm nên cần phải thiết lập một hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm, trong đó có quy định về xử lý tài sản bảo đảm thực sự đồng bộ, hoàn thiện.
Trong thời gian qua, pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm đã góp phần tạo lập một môi trường pháp lý an toàn, thuận lợi cho quá trình xử lý tài sản bảo đảm, giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu điều chỉnh của thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm, nhất là xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình, cụ thể như sau:
Thứ nhất, vấn đề về trách nhiệm trả nợ của hộ gia đình
Khi hộ gia đình vay vốn của ngân hàng, trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và lãi mà các bên có thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm được xử lý theo phương thức do các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp đã xử lý tài sản bảo đảm mà không đủ để trả hết nợ cho ngân hàng, thì hộ gia đình phải chịu trách nhiệm tiếp tục trả nợ bằng các tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung cũng không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì hộ gia đình phải có trách nhiệm dùng tài sản chung của hộ trả nợ; nếu tài sản chung không đủ để trả nợ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình.
Đối với nghĩa vụ phát sinh của hộ gia đình, vấn đề chưa rõ là các thành viên hộ gia đình phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ là những thành viên đã đủ 15 tuổi có năng lực hành vi dân sự hay bao gồm cả những thành viên chưa đủ 15 tuổi, thành viên đã đủ 15 tuổi nhưng không có khả năng nhận thức hành vi, có tài sản chung với cả gia đình vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ với cả hộ gia đình? Nếu tài sản chung của hộ gia đình không đủ trả nợ thì thành viên dưới 15 tuổi, thành viên bị mất năng lực hành vi dân sự có tài sản riêng, có phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ không?
Bên cạnh đó, trường hợp một hay nhiều thành viên của hộ gia đình không sinh hoạt (không ở cùng nhà) với các thành viên của hộ gia đình như sinh sống, làm việc tại một nơi khác nhưng vẫn có tên trong sổ hộ khẩu gia đình, khi người đại diện của hộ gia đình xác lập quan hệ tín dụng (vay tiền) với ngân hàng thì liệu thành viên đang làm việc ở nơi khác đó có phải chịu trách nhiệm trả nợ liên đới với các thành viên khác hay không? Ngân hàng có quyền yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ không?
Đối với các vấn đề nói trên, pháp luật chưa quy định rõ, nên rất khó xác định trách nhiệm, khó vận dụng để giải quyết các tình huống xảy ra trong thực tế tại các ngân hàng. Do đó, cần quy định tất cả các thành viên của hộ gia đình đã thành niên hay chưa thành niên đều phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ bằng tài sản chung và tài sản riêng của mình theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp một hay nhiều thành viên khác của hộ gia đình sinh sống, làm việc ở địa phương khác (không cùng nhà) nhưng vẫn đứng tên trong sổ hộ khẩu gia đình thì sẽ không phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ với các thành viên khác của hộ gia đình, chỉ những thành viên của hộ gia đình có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, mới tạo thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là hộ gia đình. Theo đó, ngân hàng có quyền yêu cầu một (hoặc một số) thành viên của hộ gia đình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của hộ gia đình trong các tổ chức tín dụng.
Một vấn đề nữa là, trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho cả hộ gia đình thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của hộ với mình. Nhưng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 lại không có quy định về phần nghĩa vụ liên đới của các thành viên hộ gia đình nên trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp tranh chấp giữa các thành viên trong hộ gia đình.
Thứ hai, trường hợp tài sản bảo đảm thi hành án là nơi ở duy nhất của hộ gia đình
Theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thi hành thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự. Quy định này nhằm bảo đảm quyền có chỗ ở hợp pháp, cũng như trật tự - an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định việc có trích tiền thuê nhà cho người thứ 3 đã dùng nhà ở duy nhất của mình để bảo đảm cho người phải thi hành án vay tài sản đã được Tòa án tuyên trong bản án, quyết định, nên không ít cơ quan thi hành án dân sự rơi vào tình trạng lúng túng, không biết áp dụng như thế nào.
Hiện có hai quan điểm đối với việc xử lý trước hay sau quyền lợi của bên thứ 3: (i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản trước (kê biên toàn bộ tài sản chung) rồi mới thông báo cho đồng sở hữu chung để thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án; hoặc chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, việc xử lý tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án; (ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, chấp hành viên thực hiện việc thông báo cho đồng sở hữu chung để thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án hoặc chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản. Chấp hành viên chỉ ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án khi có quyết định của Tòa án về việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án.
Có thể thấy, mỗi cách lý giải đều có những thuận lợi, vướng mắc riêng. Cụ thể, nếu chấp hành viên áp dụng việc kê biên tài sản trước thì sẽ bảo đảm được thứ tự ưu tiên thi hành thanh toán tiền thi hành án, đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm của người phải thi hành án trong việc thi hành án, tránh tình trạng các đương sự lợi dụng việc chưa xác định được phần tài sản của người phải thi hành trong khối tài sản chung để trốn tránh hoặc kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, để thực hiện việc kê biên tài sản chung trước rồi mới thông báo cho các đồng sở hữu thì chấp hành viên phải thu hồi quyết định kê biên đã ban hành và ra quyết định kê biên mới tương ứng với phần tài sản còn lại của người phải thi hành án. Việc phải thu hồi quyết định kê biên có thể sẽ dẫn đến đơn thư khiếu nại phức tạp hoặc thậm chí yêu cầu bồi thường.
Hơn nữa, tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã quy định, phải xác định phần sở hữu của người phải thi hành án rồi mới thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản. Tuy nhiên, nếu áp dụng theo cách này thì quyền lợi của bên thứ ba không được bảo đảm và thứ tự ưu tiên thanh toán trong thi hành án dân sự lại không thực hiện được.
Thứ ba, phương thức xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình
Theo quy định của pháp luật hiện hành, có 04 phương thức xử lý tài sản bảo đảm gồm: Bán tài sản bảo đảm, bán đấu giá tài sản bảo đảm, nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ, khởi kiện vụ án dân sự.
- Bán tài sản bảo đảm: Hiện nay, các quy định của pháp luật chưa làm rõ những trường hợp nào thì việc bán tài sản cần đặt dưới sự kiểm soát của Tòa án, trường hợp nào tổ chức tín dụng được chủ động tự bán tài sản bảo đảm. Nếu bên nhận tài sản là tổ chức tín dụng được quyền bán tài sản thì cần phải tuân thủ các nghĩa vụ gì, để tránh lạm quyền, xâm phạm đến lợi ích của bên bảo đảm hay của các chủ thể khác.
- Bán đấu giá tài sản bảo đảm: Đối với hình thức bán đấu giá tài sản bảo đảm, một trong những nhược điểm của phương thức này là chi phí tổ chức bán đấu giá tài sản khá cao, đặc biệt có hiện tượng thông đồng, ép giá giữa những người đăng ký mua tài sản đấu giá. Đây không phải là tình trạng hiếm xảy ra khi các tổ chức tín dụng tổ chức bán đấu giá tài sản bảo đảm.
- Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế nghĩa vụ trả nợ: Theo quy định tại Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dường như hai bên rất khó tìm được sự đồng thuận về giá trị của tài sản bảo đảm dùng để khấu trừ nghĩa vụ nợ, đặc biệt khi giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm xử lý thường thấp hơn giá trị khoản vay. Trong nhiều trường hợp, tổ chức tín dụng buộc phải chấp nhận giá trị của tài sản cao hơn so với giá trị thị trường để có thể thu hồi dứt điểm khoản nợ.
- Xử lý tài sản bảo đảm thông qua khởi kiện, thi hành án: Phương pháp xử lý tài sản bảo đảm bằng hình thức khởi kiện bên vay, bên bảo đảm ra Tòa án để yêu cầu giải quyết việc trả nợ thường là biện pháp cuối cùng vì thời gian giải quyết kéo dài cả năm, thậm chí vài năm với rất nhiều chi phí, bao gồm cả chi phí chính thức (tiền tạm ứng án phí, tiền thuê luật sư…) và chi phí không chính thức, thậm chí ngay cả khi có được bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án theo hướng tổ chức tín dụng được quyền xử lý tài sản bảo đảm nhưng việc xử lý tài sản bảo đảm của người phải thi hành án cũng không dễ dàng và gặp nhiều khó khăn, chi phí tốn kém. Mặc dù, phần lớn các tổ chức tín dụng không muốn lựa chọn xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức khởi kiện nhưng trên thực tế, các tổ chức tín dụng buộc phải chọn phương thức này. Đây là phương thức xử lý tài sản bảo đảm phổ biến, được các tổ chức tín dụng lựa chọn nhiều nhất, nhưng những quy định pháp luật liên quan đến phương thức xử lý tài sản bảo đảm thông qua con đường Tòa án lại đang chứa đựng những bất cập và lỗ hổng pháp lý lớn, bởi Bộ luật Tố tụng dân sự và các quy định liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm chưa có quy định cụ thể, chặt chẽ về các bước của quá trình tố tụng, đó là: Thiếu quy định về định giá tài sản bảo đảm khi tiến hành xử lý; chưa có quy định về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn; chưa có quy định cụ thể về thời gian hòa giải; chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan chức năng trong việc thu giữ tài sản bảo đảm.
2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của hộ gia đình trong các quan hệ tín dụng ngân hàng
Thứ nhất: Trong năm 2017, với sự ra đời của Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng có xu hướng hạn chế chuyển nợ sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), đồng thời đẩy mạnh việc xử lý nợ xấu qua các hình thức như bán nợ, phát mại tài sản, sử dụng dự phòng rủi ro và các hình thức khác. Đối với vấn đề xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình theo hướng dẫn của Nghị quyết số 42/2017/QH14 còn nhiều bất cập và khó thực thi do chưa có quy định một cách chi tiết. Ngoài việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ những quy định bất hợp lý hiện nay về xử lý tài sản bảo đảm (ví dụ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan công an, Ủy ban nhân dân nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm trong việc phối hợp với các tổ chức tín dụng và VAMC thu giữ tài sản bảo đảm, bổ sung về thủ tục giải chấp từng phần đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất…), thì Nghị quyết này cần quy định chi tiết trình tự, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm của hộ gia đình nói riêng và tài sản bảo đảm của chủ thể khác nói chung.
Thứ hai: Bên cạnh những vướng mắc, bất cập nêu trên, việc quy định sự tham gia của hộ gia đình trong quan hệ dân sự như Bộ luật Dân sự đã gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến hộ gia đình. Thực tế chưa có vụ kiện nào được Tòa án thụ lý có người khởi kiện (nguyên đơn), người bị kiện (bị đơn), người có quyền lợi/nghĩa vụ liên quan nào là hộ gia đình. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định về hộ gia đình để khắc phục những vướng mắc trên thực tế.
Thứ ba: Tòa án nhân dân tối cao cần nghiên cứu xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc thụ lý xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với trường hợp các đương sự này mất tích, bỏ trốn, vắng mặt tại nơi cư trú, tại trụ sở công ty. Đồng thời, ban hành các án lệ đối với các vụ án có liên quan đến việc tổ chức tín dụng khởi kiện khách hàng để áp dụng thống nhất trong công tác xét xử, từ đó đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ án, tiến độ xử lý nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm.
Thứ tư: Nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng thực hiện xử lý nợ xấu và khuyến khích sự hợp tác của bên bảo đảm khi tham gia quá trình xử lý tài sản, pháp luật thi hành án dân sự cần sửa đổi, bổ sung như sau: (i) Số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp phải được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ được bảo đảm trước khi trừ các chi phí về thi hành án; (ii) Việc kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp chỉ được thực hiện khi nghĩa vụ được bảo đảm đến hạn, khoản tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm phải ưu tiên thanh toán nghĩa vụ của bên bảo đảm; (iii) Quy định người phải thi hành án chịu toàn bộ phí thi hành án, đồng thời áp dụng thêm các chế tài đối với các trường hợp cố tình kéo dài thời gian thi hành án như buộc phải trả lãi suất trả chậm…
Ngoài ra, cần nâng cao hơn hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự. Trong đó, cần tập trung tổ chức thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có điều kiện thi hành của các tổ chức tín dụng. Việc thi hành án có hiệu quả sẽ giúp làm giảm thực chất nợ xấu của tổ chức tín dụng.
Thứ năm: Cần hoàn thiện một số quy định theo hướng: Bổ sung các quy định về thủ tục tố tụng rút gọn để giải quyết tranh chấp tín dụng ngân hàng; ban hành nghị định hướng dẫn việc bên bảo đảm phải bàn giao tài sản bảo đảm theo hướng bên thế chấp hoặc người giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm vào bất kỳ thời điểm nào kể cả sau khi bên nhận tài sản bảo đảm xử lý tài sản, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản cho người nhận tài sản bảo đảm; cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần thống nhất đường lối xét xử theo hướng các bên có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu giao tài sản mà không cần giải quyết vụ kiện đòi nợ.

ThS. Phạm Văn Lưỡng
Đoàn Luật sư TP. Hải Phòng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: