Thứ tư 18/03/2026 07:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai - Thực trạng và giải pháp

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích những bất cập liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: The article focuses on analyzing the shortcomings related to the sanctioning of administrative violations in the land sector as stipulated in the Law on Handling of Administrative Violations and Decree No. 91/2019/ND-CP dated 19/11/ 2019 of the Government on sanctioning administrative violations in the land sector, from which, proposes some solutions to improve the law on this issue.

1. Đặt vấn đề

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (Nghị quyết số 19-NQ/TW), chính sách, pháp luật về đất đai đã có nhiều đổi mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thực tiễn, từng bước tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và vi phạm pháp luật về đất đai có chuyển biến tích cực; nhiều vi phạm liên quan đến chính sách, pháp luật về đất đai được xử lý nghiêm minh. Năng lực quản lý nhà nước về đất đai được nâng cao; hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý đất đai từng bước được kiện toàn.

Trong thời gian qua, mặc dù Nhà nước đã ban hành những quy định về xử phạt trong lĩnh vực đất đai như: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Xử lý vi phạm hành chính); Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 04/2022/NĐ-CP ngày 06/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tài nguyên nước và khoáng sản; khí tượng thủy văn; đo đạc và bản đồ (Nghị định số 91/2019/NĐ-CP) góp phần tích cực trong phòng, chống vi phạm pháp luật, thiết lập trật tự trong quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, công tác quản lý, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Một số nội dung của Nghị quyết số 19-NQ/TW chưa được thể chế hóa hoặc thể chế hóa chậm, chưa đầy đủ; Luật Xử lý vi phạm hành chính cùng một số văn bản pháp luật có liên quan chưa thực sự thống nhất, đồng bộ. Trong một số trường hợp, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng so với thực tiễn; việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai vẫn tồn tại những vướng mắc, cần được tháo gỡ như: Chưa có sự thống nhất giữa hình thức xử phạt trong Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP; về hình thức khắc phục hậu quả, đa số Ủy ban nhân dân các tỉnh chưa có bất cứ hướng dẫn nào quy định mức độ khắc phục hậu quả theo quy định của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP; trong cùng một hành vi vi phạm như hành vi lấn, chiếm đất lại được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau, không có sự thống nhất; định mức xử phạt dù đã có sự điều chỉnh nhưng vẫn tồn tại những vấn đề chưa thực sự hợp lý… Vì vậy, việc nghiên cứu, chỉ ra những “khoảng trống” trong quy định pháp luật nhằm hoàn thiện cơ chế xử phạt vi phạm hành chính hướng đến mục tiêu phòng, chống những hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai là rất cần thiết.

2. Thực trạng quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2.1. Về hình thức xử phạt

Thứ nhất, khoản 1 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định 05 hình thức xử phạt hành chính bao gồm: (i) Cảnh cáo; (ii) Phạt tiền; (iii) Tước quyển sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (iv) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; (v) Trục xuất. Theo đó, Luật này cũng quy định nguyên tắc cho các nghị định xác định các hình thức xử phạt chính và bổ sung. Trong đó, hình thức cảnh cáo, phạt tiền luôn được quy định là hình thức xử phạt chính; các hình thức còn lại có thể được quy định là hình thức xử phạt chính hoặc quy định hình thức xử phạt bổ sung. Đối chiếu vấn đề với khoản 2 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP cho thấy, cảnh cáo và phạt tiền thuộc hình thức xử phạt chính; hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: “a) Tịch thu các giấy tờ đã bị tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung; giấy tờ giả đã sử dụng trong việc sử dụng đất; b) Tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai từ 06 tháng đến 09 tháng hoặc đình chỉ hoạt động dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực đất đai từ 09 tháng đến 12 tháng”. Qua đó, có thể thấy, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP không quy định những thể chế liên quan đến hình thức tịch thu tang vật, phương tiện dùng để vi phạm hành chính, cũng như hình thức trục xuất. Chính việc bỏ lửng quy định như trên đã gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền[1]. Từ đó, thiết nghĩ Nghị định số 91/2019/NĐ-CP cần làm rõ hình thức tịch thu tang vật, phương tiện để thực hiện hành vi vi phạm hành chính hay hình thức trục xuất sẽ thuộc nhóm hình thức xử phạt chính hay xử phạt bổ sung. Theo quan điểm của nhóm tác giả, cần quy định các hình thức xử phạt trên thuộc nhóm hình thức xử phạt bổ sung, theo nguyên tắc có thể tiến hành áp dụng một hay nhiều hình thức xử phạt bổ sung trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, điều này sẽ giúp cho các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tránh được những lúng túng khi tiến hành xử phạt.

Thứ hai, tại điểm e khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định về nguyên tắc phạt tiền: “Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân”. Thể chế hóa điều này, các văn bản liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính đều thống nhất mức xử phạt của tổ chức sẽ gấp đôi so với cá nhân. Một số quan điểm cho rằng, pháp luật đặt ra nguyên tắc định lượng mức phạt tiền giữa cá nhân và tổ chức như trên là chưa hợp lý, bởi suy cho cùng, việc tiến hành xử phạt chưa phù hợp với cơ sở lý luận “mức xử phạt phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi” vì dựa vào yếu tố chủ thể đó là cá nhân hay tổ chức[2]. Bên cạnh đó, khi đối chiếu vấn đề với khoản 5 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP về các hành vi lấn đất tại khu vực đô thị sẽ định lượng mức xử phạt gấp 02 lần so với hành vi lấn đất tại khu vực nông thôn, điều này cũng trái với nguyên tắc xử phạt được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính. Ở một giác độ khác, điểm đ khoản 4 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP quy định mức phạt cao nhất với hành vi lấn đất tại khu vực nông thôn là 500 triệu đồng, hành vi lấn đất tại khu vực đô thị sẽ tăng gấp đôi nhưng không quá 500 triệu đồng. Điều này cho thấy, trong một số trường hợp nhất định, mức xử phạt giữa hành vi lấn đất khu vực nông thôn và thành thị là đồng nhất. Vì vậy, hình thức xử phạt tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP vẫn chưa có sự thống nhất[3]. Do đó, nên cân nhắc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP theo hướng bãi bỏ nguyên tắc áp dụng định mức xử phạt tiền dựa trên chủ thể có hành vi vi phạm. Nói cách khác, việc tiến hành xử phạt với các vi phạm trong lĩnh vực đất đai sẽ không theo nguyên tắc tổ chức định mức phạt tiền gấp 02 lần so với cá nhân trong cùng một hành vi vi phạm, theo đó, định mức xử phạt phải dựa trên nguyên tắc mức độ của hành vi vi phạm. Điều này sẽ bảo đảm công bằng, mang tính răn đe với từng hành vi vi phạm.

Thứ ba, một trong những biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai là khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Trên cơ sở điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế ở địa phương sẽ quy định cơ chế yêu cầu chủ thể vi phạm tiến hành khôi phục lại tình trạng của đất so với trước khi vi phạm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng tại Ủy ban nhân dân đa số vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề này, khi các tỉnh, thành phố hầu như chưa có bất cứ hướng dẫn nào quy định mức độ khắc phục hậu quả theo quy định của Nghị định số 91/2019/NĐ-CP. Như vậy, nếu phát sinh vấn đề cần khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đất so với hình thức trước khi vi phạm sẽ xử lý ra sao theo đúng quy định pháp luật, khi mà pháp luật vẫn chưa có những điều khoản quy định rõ ràng. Thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp, đất nông nghiệp hoặc đất trồng cây lâu năm bị chuyển đổi sai mục đích, trái với quy định pháp luật nhằm sử dụng cho các mục đích như đổi canh tác, xây dựng trái phép nhà ở, công trình kiến trúc…, dẫn đến đặc tính của đất đã bị thay đổi về cấu trúc. Vấn đề đặt ra là, nếu có phá dỡ công trình thì việc khôi phục tình trạng như ban đầu sẽ thiếu tính khả thi trong mọi trường hợp nếu vi phạm xảy ra. Vì vậy, cần thiết phải ban hành hướng dẫn cụ thể nhằm giúp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai xây dựng các biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm. Điều này hướng đến bảo đảm sự thống nhất giữa các địa phương trong khi xây dựng và áp dụng các quy định này. Từ đó, cũng cần đặt ra cơ chế bồi thường thiệt hại khi thay đổi tính chất của đất, hủy hoại đất, thay vì phải chờ sự hướng dẫn cụ thể của từng địa phương.

2.2. Về xử phạt vi phạm hành chính với hành vi lấn, chiếm đất

Thứ nhất, hiện nay, quy định liên quan đến hành vi lấn, chiếm đất nằm tản mát tại nhiều văn bản khác nhau. Ví dụ: Hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất rừng… được điều chỉnh bởi Nghị định số 91/2019/NĐ-CP; các hành vi lấn, chiếm xây dựng công trình trên đất cây xanh, lấn chiếm các phần thuộc sở hữu chung hoặc các phần sở hữu riêng của các chủ sở hữu khác được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 66, điểm e khoản 3 Điều 53 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở; hành vi lấn đất hàng không, sân bay được quy định tại Nghị định số 162/2018/NĐ-CP ngày 30/11/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng... Có thể thấy, quy định liên quan đến hành vi lấn, chiếm đất nằm tản mát tại nhiều văn bản khác nhau sẽ gây khó khăn nhất định trong việc xem xét, xử lý với các hành vi cùng vi phạm trong lĩnh vực đất đai. Vì vậy, về bản chất, với mỗi hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai cần được quy định tập trung tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, điều này sẽ giúp đơn giản hóa trong việc áp dụng, tránh những chồng chéo giữa các văn bản trong cùng một hành vi vi phạm.

Thứ hai, biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả lại đất đã lấn, chiếm vô hình trung đã vô hiệu hóa thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã[4]. Lý giải cho điều này, tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP quy định hành vi lấn, chiếm đất chưa sử dụng tại nông thôn với diện tích dưới 0,05 ha, ngoài hình thức phạt tiền sẽ phải áp dụng hình thức khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi vi phạm, đồng thời trả lại đất đã lấn, chiếm. Đối chiếu với khoản 1 Điều 38 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ có thẩm quyền tiến hành phạt tiền. Tuy nhiên, với hai hình thức khắc phục hậu quả, pháp luật chỉ cho phép Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, mà không hàm chứa thẩm quyền buộc trả lại đất đã lấn, chiếm. Đồng nghĩa với việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không thể tiến hành xử phạt, buộc phải chuyển vụ việc đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trực tiếp tiến hành xử phạt. Qua đó, thiết nghĩ, pháp luật cần điều chỉnh trao thẩm quyền đầy đủ cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, điều này góp phần tháo gỡ những khó khăn khi áp dụng trên thực tế hiện nay.

Thứ ba, mặc dù pháp luật đã có những khái niệm khác nhau về hành vi lấn đất và chiếm đất. Tuy nhiên, định mức xử phạt giữa hai hành vi này gần như đồng nhất, không có sự khác biệt. Theo quan điểm của nhóm tác giả, điều này cần thiết phải có sự sửa đổi, bởi hành vi lấn đất là thực hiện việc mở rộng diện tích đang có mà chưa được pháp luật cho phép, ở chiều ngược lại, hành vi chiếm đất sẽ có tính nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi này công nhiên chiếm một diện tích đất không thuộc quyền sở hữu, sử dụng vào mục đích trục lợi cá nhân. Về tính chất, hành vi chiếm đất cần có định mức xử phạt cao hơn so với hành vi lấn đất là điều cần được cân nhắc sửa đổi[5].

2.3. Về định mức xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai

Phạt tiền trong xử phạt với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai là hình thức xử phạt phổ biến. Theo đó, đòi hỏi mức phạt phải thích đáng với hành vi vi phạm, bảo đảm tính răn đe do hậu quả của vi phạm hành chính gây ra. Xoay quanh định mức xử phạt trong lĩnh vực đất đai, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP vẫn tồn tại những “khoảng trống” cần được tháo gỡ như:

Thứ nhất, quy định mức phạt đầu tiên cho khung diện tích vi phạm quá lớn (chuyển mục đích đất sản xuất nông nghiệp dưới 5.000 m2, chuyển mục đích đất rừng dưới 50.000 m2), đối chiếu với thực tế nhận thấy chưa tương thích, bởi thửa đất của hộ gia đình, cá nhân ở nước ta tồn tại rất nhiều thửa đất có diện tích nhỏ với diện tích dưới 500 m2, điều này dẫn đến sự chưa công bằng giữa các chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, khi một số hành vi gây hậu quả nhiều hơn nhưng mức phạt lại tương đồng với hành vi có tác động nhỏ hơn. Đơn cử: Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép 400 m2 đất trồng lúa sang mục đích khác, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, chủ thể có hành vi vi phạm sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, nếu người vi phạm có hành vi chuyển đổi mục đích 5.000 m2 đất nông nghiệp sang mục đích trồng cây lâu năm, mức phạt cũng tương đồng cùng hành vi chuyển đổi 400 m2 là chưa hợp lý. Điều này sẽ gây tâm lý chủ quan cho người có hành vi vi phạm, chủ thể có thể sẽ chuyển đổi diện tích đất lớn hơn dự tính ban đầu. Vì vậy, theo nhóm tác giả, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP cần hiệu chỉnh theo hướng, với các hành vi như lấn, chiếm đất, hủy hoại đất…, Nhà nước sẽ đưa ra một mức phạt cụ thể; sau đó, lấy định mức này nhân với phần diện tích đất vi phạm cụ thể trên thực tế, điều này sẽ tạo sự đồng thuận cao hơn, tránh tình trạng có sự so sánh giữa các chủ thể cùng có hành vi vi phạm, gây bất ổn xã hội kéo dài.

Thứ hai, quy định mức phạt cao nhất cho mỗi hành vi bị giới hạn ở một mức diện tích nhất định (03 ha, 05 ha hoặc 10 ha) thiết nghĩ là chưa phù hợp với tình hình thực tế, khi tồn tại rất nhiều tổ chức có diện tích đất rất lớn, đó có thể là vài chục hoặc vài trăm ha. Trong xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất. Mức phạt tiền cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Từ đó, nếu xử mức phạt tiền chưa đủ tính răn đe sẽ khiến hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai có thể tái diễn[6]. Vì vậy, nên cân nhắc sửa đổi các quy định có liên quan đến mức phạt cao nhất cho mỗi hành vi không bị giới hạn ở một diện tích nhất định, thay vào đó, với hành vi vi phạm với đất đai càng lớn, mức xử phạt cần mang tính răn đe.

Thứ ba, pháp luật cần có sự thống nhất liên quan đến quy ước xác định định mức xử phạt với mỗi hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai. Bởi, căn cứ trên cơ sở Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, việc xác định định mức xử phạt sẽ căn cứ dựa trên đơn vị (ha) với các hành vi chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, hoặc lấn, chiếm đất. Khi đó, tại điểm d khoản 7 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, với những hành vi xây dựng công trình lấn, chiếm vào hành lang bảo vệ, tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP chỉ quy định mức xử phạt nhưng chưa cụ thể hóa diện tích đất lấn, chiếm với mỗi hành vi vi phạm. Vì vậy, cần có sự thống nhất trong quy định với mỗi hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai, hướng đến đồng nhất trong quy ước tính toán cần đưa ra diện tích đất vi phạm mà cụ thể hóa mức phạt với mỗi hành vi[7].

3. Kết luận

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong những năm qua đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận, từng bước kiện toàn cơ chế này nhằm phù hợp với những thay đổi không ngừng của đời sống xã hội. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP đã có những điểm mới như: Hành vi tự ý chuyển đất trồng lúa sang đất ở bị phạt tiền đến 01 tỷ đồng; bổ sung hình thức phạt tiền đối với hành vi bỏ hoang đất; quy định rõ hành vi hủy hoại đất; bổ sung nhiều biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó, chủ yếu gồm 03 biện pháp là buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, buộc trả lại diện tích đất đã nhận… Bên cạnh những điểm mới vừa được bổ sung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, đòi hỏi nhà làm luật cần tiếp tục nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như: Đồng nhất các hình thức xử phạt vi phạm hành chính giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 91/2019/NĐ-CP; xóa bỏ quy định hành vi lấn đất tại khu vực đô thị sẽ định lượng mức xử phạt gấp 02 lần so với hành vi lấn đất tại khu vực nông thôn vì trái với nguyên tắc xử phạt được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường cần ban hành hướng dẫn cụ thể nhằm giúp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố triển khai xây dựng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm…, điều này sẽ góp phần áp dụng thống nhất tại các địa phương, tránh tình trạng so sánh giữa những chủ thể cùng có hành vi vi phạm, gây bất ổn xã hội kéo dài... nhằm xây dựng các nguyên tắc thực sự khách quan, khoa học và tạo sự thống nhất, đồng bộ của pháp luật thì các nguyên tắc mới phát huy được hết vai trò tích cực trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai giai đoạn hiện nay[8].

TS. Trần Lê Đăng Phương

Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

ThS. Nguyễn Thành Phương

Khoa Luật, Trường Đại học Nam Cần Thơ

[1]. Bùi Trung Tuyến, Lưu Trần Phương Thảo, Hoàn thiện pháp lý về Luật Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 319 (8/2022), tr. 57.

[2]. Bùi Trung Tuyến, Lưu Trần Phương Thảo, Hoàn thiện pháp lý về Luật Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 319 (8/2022), tr. 56.

[3]. Trần Thanh Khỏe, Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13 (kỳ 1 tháng 7/2012), tr. 45.

[4]. Cao Vũ Minh, Nguyễn Nhật Khanh, Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, Nxb. Thanh Niên, năm 2020, tr. 69.

[5]. Trần Thanh Khỏe, Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn đất, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13 (kỳ 1 tháng 7/2021), tr. 45.

[6]. Thanh Nga, “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Chưa đủ sức răn đe”, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phapluat/xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-trong-linhvuc-dat-dai-chua-du-suc-ran-de-318528.html, truy cập ngày 03/4/2022.

[7]. Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhìn từ Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 6, Số 6 (2020), tr. 666, 667.

[8]. Nguyễn Thành Phương, Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nhìn từ Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 6, Số 6 (2020), tr. 666, 667.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: