Chủ nhật 31/05/2026 03:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến thực trạng và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020”, những khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm phát triển hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến thực trạng và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020”, những khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm phát triển hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.

1. Thực trạng và kết quả đạt được trong quá trình triển khai thực hiện Đề án

Thực hiện Quyết định số 1076/QĐ-BTP ngày 10/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020” (Đề án), Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân ban hành Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 25/3/2014 về thực hiện Đề án này trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Đề án đã xác định lộ trình phát triển đội ngũ đấu giá viên đến năm 2015, giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 và các nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn. Đồng thời, để triển khai đồng bộ Đề án với Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (Nghị định số 17/2010/NĐ-CP), Luật Đấu giá tài sản, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo đối với công tác đấu giá tài sản, trong đó có công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ đấu giá viên và các giải pháp để phát triển đội ngũ đấu giá viên như: Công văn số 731/UBND-NC ngày 18/5/2018 về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản và đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; Công văn số 899/UBND-NC ngày 27/5/2020 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản. Ngoài ra, Sở Tư pháp đã ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản hướng dẫn các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan và các tổ chức đấu giá tài sản trong việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên, tạo điều kiện cho tổ chức đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên trong hoạt động hành nghề.

Về phát triển đội ngũ đấu giá viên: Tính đến tháng 4/2021, trên địa bàn toàn tỉnh có 16 đấu giá viên đang hoạt động hành nghề, trong đó có 09 đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, chiếm tỷ lệ 56%; 07 đấu giá viên làm việc tại các doanh nghiệp đấu giá tài sản, chiếm tỷ lệ 44%. Có 11 đấu giá viên dưới 40 tuổi, chiếm tỷ lệ 69%; 05 đấu giá viên từ 40 đến 55 tuổi, chiếm tỷ lệ 31%. Theo nội dung Đề án thì giai đoạn 2013 - 2015: “Phát triển hợp lý đội ngũ đấu giá viên, riêng Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản phấn đấu đến năm 2015 trên mỗi địa bàn cấp huyện có 01 đấu giá viên phụ trách”; giai đoạn 2016 - 2020: “Tiếp tục phát triển đội ngũ đấu giá viên, mỗi năm có từ 01 đến 02 đấu giá viên”. Như vậy, theo Đề án thì đến nay, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã bảo đảm chỉ tiêu về số lượng đấu giá viên để phụ trách tất cả các địa bàn cấp huyện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2020, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành thì chưa phát triển thêm được đấu giá viên nào, chỉ có 05 đấu giá viên từ tỉnh khác chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Đội ngũ đấu giá viên đều có trình độ từ đại học trở lên: 05 đấu giá viên có trình độ cử nhân luật (chiếm tỷ lệ 31%), 06 đấu giá viên có trình độ cử nhân kinh tế (chiếm tỷ lệ 38%), 05 đấu giá viên vừa có trình độ cử nhân luật và vừa có trình độ cử nhân kinh tế (chiếm tỷ lệ 31%), trong đó có 05 đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản có trình độ thạc sỹ. Về cơ bản, các đấu giá viên đều bảo đảm trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong công tác đấu giá tài sản. Đến nay, chưa có đấu giá viên nào vi phạm pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề đấu giá.

Về phát triển tổ chức đấu giá tài sản: Trên địa bàn tỉnh có 05 tổ chức đấu giá tài sản (gồm 01 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, 03 công ty hợp danh và 01 doanh nghiệp tư nhân), trong đó có 01 doanh nghiệp đấu giá tài sản đang thực hiện thủ tục giải thể; có 05 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đấu giá tài sản có trụ sở tại các tỉnh, thành phố khác; có 04/05 tổ chức đấu giá tài sản và 05 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đấu giá tài sản có trụ sở tại thành phố Đồng Hới, 01 tổ chức đấu giá tài sản có trụ sở tại thị xã Ba Đồn.

Về hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương: Từ ngày 01/01/2013 đến ngày 30/6/2020, đấu giá viên của các tổ chức đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 7.200 cuộc đấu giá tài sản thành, tổng giá trị bán được là 5.314.726.047.288 đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm là 935.981.461.754 đồng.

Về công tác quản lý nhà nước về đội ngũ đấu giá viên và hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương: Bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, Sở Tư pháp đã thực hiện tốt vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động đấu giá tài sản nói chung và đội ngũ đấu giá viên nói riêng tại địa phương. Thông qua các hội nghị phổ biến, quán triệt, Sở Tư pháp đã tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Quyết định số 1076/QĐ-BTP ngày 10/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong ngành và các sở, ban, ngành có liên quan; các chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ các chức danh bổ trợ tư pháp trong đó có đội ngũ đấu giá viên tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; các nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bên cạnh đó, Sở còn thông qua chuyên mục “Pháp luật và đời sống” trên Đài Truyền hình Quảng Bình, Bản tin Tư pháp Quảng Bình, Website Sở Tư pháp Quảng Bình; biên soạn, in ấn đề cương, tài liệu pháp luật liên quan về đấu giá tài sản; xây dựng và khai thác tủ sách pháp luật; thực hiện trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật... Đồng thời, Sở Tư pháp cũng đã hướng dẫn các sở, ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cơ sở tình hình thực tiễn của từng địa phương, đơn vị để lựa chọn, áp dụng các hình thức tuyên truyền, phổ biến phù hợp. Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết 05 năm triển khai thực hiện Đề án và 01 năm triển khai thực hiện Luật Đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn theo thẩm quyền một số nội dung liên quan đến việc triển khai Luật, tiến hành tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong triển khai hoạt động đấu giá theo Luật báo cáo Bộ Tư pháp. Định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp đã phối hợp với Thanh tra tỉnh tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn tỉnh (trong đó có tổ chức đấu giá tài sản). Trên cơ sở kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra, thanh tra đối với các tổ chức đấu giá tài sản. Từ năm 2013 đến nay, Sở Tư pháp đã tiến hành 02 cuộc kiểm tra với 02 tổ chức đấu giá tài sản, 03 cuộc thanh tra với 03 tổ chức đấu giá tài sản. Qua công tác thanh tra, kiểm tra, Sở Tư pháp đã nắm bắt tình hình chấp hành pháp luật, những khó khăn, vướng mắc của các tổ chức đấu giá tài sản; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo về nghiệp vụ và kiến nghị đề xuất Bộ Tư pháp và các sở, ban, ngành, địa phương phối hợp tháo gỡ những vướng mắc trong triển khai thi hành Luật, Đề án và các văn bản có liên quan. Nhằm cập nhật kiến thức pháp luật và giúp các tổ chức đấu giá tài sản tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức và hoạt động, hàng năm, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho các chức danh bổ trợ tư pháp trong đó có đội ngũ đấu giá viên làm việc tại các tổ chức đấu giá tài sản; đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo nghề đấu giá tài sản để phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án.

2. Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai và thực hiện Đề án trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như:

Thứ nhất, về mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên: Điều 20 Luật Đấu giá tài sản quy định tổ chức đấu giá tài sản có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên, tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về nguyên tắc tham gia bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm… Theo báo cáo của các tổ chức đấu giá tài sản thì các tổ chức đấu giá tài sản đang vướng mắc và chưa thực hiện mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình, làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ đấu giá viên trong hoạt động nghề nghiệp.

Thứ hai, về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản: Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định, đối với các viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thì việc bố trí việc làm, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, phân hạng viên chức căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Theo đó, hiện nay, nhiều ngành, lĩnh vực đã ban hành thông tư quy định chức danh nghề nghiệp, tuy nhiên, trong lĩnh vực đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp chưa ban hành thông tư quy định chức danh nghề nghiệp đối với đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

Thứ ba, về phạm vi hành nghề của đấu giá viên: Điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Đấu giá tài sản quy định, đấu giá viên có quyền hành nghề trên phạm vi toàn quốc; mặt khác, Luật Đấu giá tài sản cũng quy định, Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp đấu giá đăng ký hoạt động thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản nên khi doanh nghiệp đấu giá tài sản thực hiện việc đấu giá tài sản trong đó có tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu nhà nước ở tỉnh khác thì Sở Tư pháp trên địa bàn có tài sản đấu giá khó theo dõi để tham mưu kịp thời cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc giải quyết các phản ánh, kiến nghị liên quan đến việc bán tài sản của Nhà nước, trong đó có quyền sử dụng đất trên địa bàn, điều này đã ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề của đội ngũ đấu giá viên này. Mặt khác, việc các tổ chức đấu giá không thành lập, đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh nhưng cũng có thể thực hiện đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình đã ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách phát triển đội ngũ đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh.

Thứ tư, về việc thu hồi thẻ đấu giá viên: Điều 5 Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản quy định, trong trường hợp Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá, Sở Tư pháp nơi đã cấp thẻ đấu giá viên quyết định thu hồi thẻ đấu giá viên. Trong trường hợp đấu giá viên không còn hành nghề trong tổ chức đấu giá tài sản thì hiện nay, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định thuộc trường hợp Sở Tư pháp xóa đăng ký và thu hồi thẻ; đồng thời cũng không quy định tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm thông báo với Sở Tư pháp về việc không còn hành nghề tại tổ chức mình, dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước không thể quản lý hoạt động hành nghề của đấu giá viên và số lượng đấu giá viên đang hoạt động hành nghề trên địa bàn; đấu giá viên khi không còn hoạt động hành nghề tại một tổ chức đấu giá có thể lợi dụng việc không thu hồi thẻ đấu giá viên để sử dụng thẻ vào các mục đích trái quy định.

Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc nêu trên:

- Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình còn hạn chế; các quan hệ dân sự, nhất là các giao dịch mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá chưa nhiều, số lượng bán đấu giá ở tỉnh Quảng Bình không nhiều, chủ yếu là tài sản bắt buộc phải bán thông qua đấu giá… Mặt khác, Luật Đấu giá tài sản không giới hạn phạm vi hành nghề của đấu giá viên của tổ chức đấu giá tài sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với một số tài sản như bất động sản; tổ chức hành nghề đấu giá được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện để hoạt động; đấu giá viên của tổ chức đấu giá tài sản được hành nghề đấu giá trên phạm vi toàn quốc. Vì vậy, các tổ chức đấu giá không thành lập, đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh nhưng cũng có thể thực hiện đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình nên không thu hút được việc phát triển đội ngũ đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình nói chung và các huyện nói riêng. Đây cũng là một trong những quy định làm hạn chế việc triển khai thực hiện Đề án.

- Các chỉ tiêu phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án căn cứ vào quy định về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay, theo Luật Đấu giá tài sản thì tiêu chuẩn, điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá được thắt chặt, do đó, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành thì tỉnh Quảng Bình chưa phát triển thêm đấu giá viên nào. Trong khi việc phát triển các doanh nghiệp đấu giá tài sản thực sự mạnh mẽ sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực, theo đó, Luật Đấu giá tài sản quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp đấu giá tài sản, tổ chức, hoạt động và cơ chế tài chính của doanh nghiệp đấu giá tài sản, dẫn đến việc phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án và việc phát triển tổ chức đấu giá tài sản theo Luật Đấu giá tài sản chưa thống nhất. Vì vậy, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực, tỉnh Quảng Bình phát triển thêm 04 doanh nghiệp đấu giá tài sản nhưng đấu giá viên của 04 doanh nghiệp được thành lập mới lại được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

- Một số quy định của Luật Đấu giá tài sản còn vướng mắc, bất cập nên phần nào ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên.

3. Giải pháp và kiến nghị, đề xuất

Để tiếp tục tạo điều kiện cho việc phát triển nghề đấu giá trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới, tác giả đưa ra một số giải pháp và kiến nghị, đề xuất cụ thể như sau:

- Tiếp tục tổ chức phổ biến, quán triệt các nội dung của Luật Đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật có liên quan với nhiều hình thức nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành và trong toàn xã hội về hoạt động đấu giá tài sản, vai trò, tầm quan trọng và lợi ích của hoạt động đấu giá tài sản đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản, người tham gia đấu giá và người trúng đấu giá; đồng thời, tạo điều kiện để đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

- Rà soát nguồn nhân lực có nhu cầu đào tạo nghề đấu giá để xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn đấu giá viên, ưu tiên phát triển đội ngũ đấu giá viên chuyên sâu trong từng loại tài sản, có chất lượng bảo đảm nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tạo điều kiện cho những người đã qua đào tạo nghề đấu giá trong việc tập sự hành nghề đấu giá. Tăng cường các hình thức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đấu giá viên hiện đang hành nghề.

- Tăng cường các hình thức đối thoại với tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh liên quan đến việc thực hiện các thủ tục hành chính về đấu giá tài sản thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết của các cơ quan nhà nước, thủ tục đấu giá tài sản thuộc trách nhiệm của tổ chức đấu giá tài sản nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh thương mại của doanh nghiệp nói chung và tổ chức đấu giá tài sản nói riêng.

- Lồng ghép việc triển khai các giải pháp phát triển tổ chức đấu giá tài sản với việc thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục hoàn thiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản, trong đó làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh những sai phạm và những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động đấu giá tài sản; hướng dẫn, định hướng các đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đấu giá tài sản và văn bản hướng dẫn thi hành để tạo môi trường cho các tổ chức đấu giá tài sản và đấu giá viên trên địa bàn tỉnh hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

- Kiến nghị Bộ Tư pháp:

+ Tiếp tục quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thi hành Đề án, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản.

+ Tiếp tục thể chế hóa chính sách xã hội hóa hoạt động đấu giá tài sản, hoàn thiện thể chế theo hướng cần có ít nhất 01 đơn vị sự nghiệp làm nòng cốt trong mỗi lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, nhất là lĩnh vực đấu giá tài sản. Đồng thời, nên quy định theo hướng, mỗi doanh nghiệp đấu giá phải có ít nhất hai đấu giá viên trở lên; giám đốc/tổng giám đốc doanh nghiệp đấu giá phải là đấu giá viên và phải hành nghề với tư cách đấu giá viên ít nhất hai năm trở lên.

+ Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản hướng dẫn về đấu giá tài sản. Cụ thể, bổ sung quy định các trường hợp thu hồi thẻ đấu giá viên, trong đó có trường hợp đấu giá viên không còn hành nghề trong tổ chức đấu giá tài sản; quy định về thẩm quyền địa hạt đối với đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu nhà nước; quy định tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản.

Nguyễn Đức Tuấn
Sở Tư pháp Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: