Thứ hai 17/08/2026 08:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến thực trạng và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020”, những khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm phát triển hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến thực trạng và kết quả triển khai thực hiện Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020”, những khó khăn, vướng mắc và đề ra một số giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm phát triển hoạt động đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.

1. Thực trạng và kết quả đạt được trong quá trình triển khai thực hiện Đề án

Thực hiện Quyết định số 1076/QĐ-BTP ngày 10/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Đề án “Phát triển và tăng cường năng lực đội ngũ đấu giá viên giai đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020” (Đề án), Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân ban hành Kế hoạch số 333/KH-UBND ngày 25/3/2014 về thực hiện Đề án này trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Đề án đã xác định lộ trình phát triển đội ngũ đấu giá viên đến năm 2015, giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 và các nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn. Đồng thời, để triển khai đồng bộ Đề án với Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (Nghị định số 17/2010/NĐ-CP), Luật Đấu giá tài sản, Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo đối với công tác đấu giá tài sản, trong đó có công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ đấu giá viên và các giải pháp để phát triển đội ngũ đấu giá viên như: Công văn số 731/UBND-NC ngày 18/5/2018 về việc tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản và đấu giá quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh; Công văn số 899/UBND-NC ngày 27/5/2020 về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản. Ngoài ra, Sở Tư pháp đã ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản hướng dẫn các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan và các tổ chức đấu giá tài sản trong việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên, tạo điều kiện cho tổ chức đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên trong hoạt động hành nghề.

Về phát triển đội ngũ đấu giá viên: Tính đến tháng 4/2021, trên địa bàn toàn tỉnh có 16 đấu giá viên đang hoạt động hành nghề, trong đó có 09 đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, chiếm tỷ lệ 56%; 07 đấu giá viên làm việc tại các doanh nghiệp đấu giá tài sản, chiếm tỷ lệ 44%. Có 11 đấu giá viên dưới 40 tuổi, chiếm tỷ lệ 69%; 05 đấu giá viên từ 40 đến 55 tuổi, chiếm tỷ lệ 31%. Theo nội dung Đề án thì giai đoạn 2013 - 2015: “Phát triển hợp lý đội ngũ đấu giá viên, riêng Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản phấn đấu đến năm 2015 trên mỗi địa bàn cấp huyện có 01 đấu giá viên phụ trách”; giai đoạn 2016 - 2020: “Tiếp tục phát triển đội ngũ đấu giá viên, mỗi năm có từ 01 đến 02 đấu giá viên”. Như vậy, theo Đề án thì đến nay, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã bảo đảm chỉ tiêu về số lượng đấu giá viên để phụ trách tất cả các địa bàn cấp huyện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2020, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành thì chưa phát triển thêm được đấu giá viên nào, chỉ có 05 đấu giá viên từ tỉnh khác chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Đội ngũ đấu giá viên đều có trình độ từ đại học trở lên: 05 đấu giá viên có trình độ cử nhân luật (chiếm tỷ lệ 31%), 06 đấu giá viên có trình độ cử nhân kinh tế (chiếm tỷ lệ 38%), 05 đấu giá viên vừa có trình độ cử nhân luật và vừa có trình độ cử nhân kinh tế (chiếm tỷ lệ 31%), trong đó có 05 đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản có trình độ thạc sỹ. Về cơ bản, các đấu giá viên đều bảo đảm trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong công tác đấu giá tài sản. Đến nay, chưa có đấu giá viên nào vi phạm pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề đấu giá.

Về phát triển tổ chức đấu giá tài sản: Trên địa bàn tỉnh có 05 tổ chức đấu giá tài sản (gồm 01 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, 03 công ty hợp danh và 01 doanh nghiệp tư nhân), trong đó có 01 doanh nghiệp đấu giá tài sản đang thực hiện thủ tục giải thể; có 05 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đấu giá tài sản có trụ sở tại các tỉnh, thành phố khác; có 04/05 tổ chức đấu giá tài sản và 05 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đấu giá tài sản có trụ sở tại thành phố Đồng Hới, 01 tổ chức đấu giá tài sản có trụ sở tại thị xã Ba Đồn.

Về hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương: Từ ngày 01/01/2013 đến ngày 30/6/2020, đấu giá viên của các tổ chức đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 7.200 cuộc đấu giá tài sản thành, tổng giá trị bán được là 5.314.726.047.288 đồng, chênh lệch so với giá khởi điểm là 935.981.461.754 đồng.

Về công tác quản lý nhà nước về đội ngũ đấu giá viên và hoạt động đấu giá tài sản tại địa phương: Bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, Sở Tư pháp đã thực hiện tốt vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý hoạt động đấu giá tài sản nói chung và đội ngũ đấu giá viên nói riêng tại địa phương. Thông qua các hội nghị phổ biến, quán triệt, Sở Tư pháp đã tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Quyết định số 1076/QĐ-BTP ngày 10/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong ngành và các sở, ban, ngành có liên quan; các chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ các chức danh bổ trợ tư pháp trong đó có đội ngũ đấu giá viên tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; các nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bên cạnh đó, Sở còn thông qua chuyên mục “Pháp luật và đời sống” trên Đài Truyền hình Quảng Bình, Bản tin Tư pháp Quảng Bình, Website Sở Tư pháp Quảng Bình; biên soạn, in ấn đề cương, tài liệu pháp luật liên quan về đấu giá tài sản; xây dựng và khai thác tủ sách pháp luật; thực hiện trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật... Đồng thời, Sở Tư pháp cũng đã hướng dẫn các sở, ban, ngành cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cơ sở tình hình thực tiễn của từng địa phương, đơn vị để lựa chọn, áp dụng các hình thức tuyên truyền, phổ biến phù hợp. Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức hội nghị sơ kết 05 năm triển khai thực hiện Đề án và 01 năm triển khai thực hiện Luật Đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn theo thẩm quyền một số nội dung liên quan đến việc triển khai Luật, tiến hành tổng hợp những khó khăn, vướng mắc trong triển khai hoạt động đấu giá theo Luật báo cáo Bộ Tư pháp. Định kỳ hàng năm, Sở Tư pháp đã phối hợp với Thanh tra tỉnh tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý trên địa bàn tỉnh (trong đó có tổ chức đấu giá tài sản). Trên cơ sở kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp đã xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm tra, thanh tra đối với các tổ chức đấu giá tài sản. Từ năm 2013 đến nay, Sở Tư pháp đã tiến hành 02 cuộc kiểm tra với 02 tổ chức đấu giá tài sản, 03 cuộc thanh tra với 03 tổ chức đấu giá tài sản. Qua công tác thanh tra, kiểm tra, Sở Tư pháp đã nắm bắt tình hình chấp hành pháp luật, những khó khăn, vướng mắc của các tổ chức đấu giá tài sản; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo về nghiệp vụ và kiến nghị đề xuất Bộ Tư pháp và các sở, ban, ngành, địa phương phối hợp tháo gỡ những vướng mắc trong triển khai thi hành Luật, Đề án và các văn bản có liên quan. Nhằm cập nhật kiến thức pháp luật và giúp các tổ chức đấu giá tài sản tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức và hoạt động, hàng năm, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cho các chức danh bổ trợ tư pháp trong đó có đội ngũ đấu giá viên làm việc tại các tổ chức đấu giá tài sản; đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu đào tạo nghề đấu giá tài sản để phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án.

2. Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai và thực hiện Đề án trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc như:

Thứ nhất, về mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của đấu giá viên: Điều 20 Luật Đấu giá tài sản quy định tổ chức đấu giá tài sản có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên, tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn về nguyên tắc tham gia bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm… Theo báo cáo của các tổ chức đấu giá tài sản thì các tổ chức đấu giá tài sản đang vướng mắc và chưa thực hiện mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho đấu giá viên của tổ chức mình, làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ đấu giá viên trong hoạt động nghề nghiệp.

Thứ hai, về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản: Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định, đối với các viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thì việc bố trí việc làm, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, phân hạng viên chức căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Theo đó, hiện nay, nhiều ngành, lĩnh vực đã ban hành thông tư quy định chức danh nghề nghiệp, tuy nhiên, trong lĩnh vực đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp chưa ban hành thông tư quy định chức danh nghề nghiệp đối với đấu giá viên làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

Thứ ba, về phạm vi hành nghề của đấu giá viên: Điểm a khoản 1 Điều 19 Luật Đấu giá tài sản quy định, đấu giá viên có quyền hành nghề trên phạm vi toàn quốc; mặt khác, Luật Đấu giá tài sản cũng quy định, Sở Tư pháp nơi doanh nghiệp đấu giá đăng ký hoạt động thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản nên khi doanh nghiệp đấu giá tài sản thực hiện việc đấu giá tài sản trong đó có tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu nhà nước ở tỉnh khác thì Sở Tư pháp trên địa bàn có tài sản đấu giá khó theo dõi để tham mưu kịp thời cho Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc giải quyết các phản ánh, kiến nghị liên quan đến việc bán tài sản của Nhà nước, trong đó có quyền sử dụng đất trên địa bàn, điều này đã ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động hành nghề của đội ngũ đấu giá viên này. Mặt khác, việc các tổ chức đấu giá không thành lập, đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh nhưng cũng có thể thực hiện đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình đã ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách phát triển đội ngũ đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh.

Thứ tư, về việc thu hồi thẻ đấu giá viên: Điều 5 Nghị định số 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản quy định, trong trường hợp Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá, Sở Tư pháp nơi đã cấp thẻ đấu giá viên quyết định thu hồi thẻ đấu giá viên. Trong trường hợp đấu giá viên không còn hành nghề trong tổ chức đấu giá tài sản thì hiện nay, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa quy định thuộc trường hợp Sở Tư pháp xóa đăng ký và thu hồi thẻ; đồng thời cũng không quy định tổ chức đấu giá tài sản có trách nhiệm thông báo với Sở Tư pháp về việc không còn hành nghề tại tổ chức mình, dẫn đến tình trạng cơ quan quản lý nhà nước không thể quản lý hoạt động hành nghề của đấu giá viên và số lượng đấu giá viên đang hoạt động hành nghề trên địa bàn; đấu giá viên khi không còn hoạt động hành nghề tại một tổ chức đấu giá có thể lợi dụng việc không thu hồi thẻ đấu giá viên để sử dụng thẻ vào các mục đích trái quy định.

Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc nêu trên:

- Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình còn hạn chế; các quan hệ dân sự, nhất là các giao dịch mua bán tài sản thông qua hình thức đấu giá chưa nhiều, số lượng bán đấu giá ở tỉnh Quảng Bình không nhiều, chủ yếu là tài sản bắt buộc phải bán thông qua đấu giá… Mặt khác, Luật Đấu giá tài sản không giới hạn phạm vi hành nghề của đấu giá viên của tổ chức đấu giá tài sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đối với một số tài sản như bất động sản; tổ chức hành nghề đấu giá được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện để hoạt động; đấu giá viên của tổ chức đấu giá tài sản được hành nghề đấu giá trên phạm vi toàn quốc. Vì vậy, các tổ chức đấu giá không thành lập, đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh nhưng cũng có thể thực hiện đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình nên không thu hút được việc phát triển đội ngũ đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản tại tỉnh Quảng Bình nói chung và các huyện nói riêng. Đây cũng là một trong những quy định làm hạn chế việc triển khai thực hiện Đề án.

- Các chỉ tiêu phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án căn cứ vào quy định về tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay, theo Luật Đấu giá tài sản thì tiêu chuẩn, điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá được thắt chặt, do đó, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực thi hành thì tỉnh Quảng Bình chưa phát triển thêm đấu giá viên nào. Trong khi việc phát triển các doanh nghiệp đấu giá tài sản thực sự mạnh mẽ sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực, theo đó, Luật Đấu giá tài sản quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp đấu giá tài sản, tổ chức, hoạt động và cơ chế tài chính của doanh nghiệp đấu giá tài sản, dẫn đến việc phát triển đội ngũ đấu giá viên theo Đề án và việc phát triển tổ chức đấu giá tài sản theo Luật Đấu giá tài sản chưa thống nhất. Vì vậy, sau khi Luật Đấu giá tài sản có hiệu lực, tỉnh Quảng Bình phát triển thêm 04 doanh nghiệp đấu giá tài sản nhưng đấu giá viên của 04 doanh nghiệp được thành lập mới lại được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

- Một số quy định của Luật Đấu giá tài sản còn vướng mắc, bất cập nên phần nào ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức đấu giá tài sản và đội ngũ đấu giá viên.

3. Giải pháp và kiến nghị, đề xuất

Để tiếp tục tạo điều kiện cho việc phát triển nghề đấu giá trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới, tác giả đưa ra một số giải pháp và kiến nghị, đề xuất cụ thể như sau:

- Tiếp tục tổ chức phổ biến, quán triệt các nội dung của Luật Đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật có liên quan với nhiều hình thức nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp, các ngành và trong toàn xã hội về hoạt động đấu giá tài sản, vai trò, tầm quan trọng và lợi ích của hoạt động đấu giá tài sản đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản, người tham gia đấu giá và người trúng đấu giá; đồng thời, tạo điều kiện để đấu giá viên và tổ chức đấu giá tài sản hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

- Rà soát nguồn nhân lực có nhu cầu đào tạo nghề đấu giá để xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn đấu giá viên, ưu tiên phát triển đội ngũ đấu giá viên chuyên sâu trong từng loại tài sản, có chất lượng bảo đảm nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tạo điều kiện cho những người đã qua đào tạo nghề đấu giá trong việc tập sự hành nghề đấu giá. Tăng cường các hình thức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ đấu giá viên hiện đang hành nghề.

- Tăng cường các hình thức đối thoại với tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh liên quan đến việc thực hiện các thủ tục hành chính về đấu giá tài sản thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết của các cơ quan nhà nước, thủ tục đấu giá tài sản thuộc trách nhiệm của tổ chức đấu giá tài sản nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh thương mại của doanh nghiệp nói chung và tổ chức đấu giá tài sản nói riêng.

- Lồng ghép việc triển khai các giải pháp phát triển tổ chức đấu giá tài sản với việc thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về tiếp tục hoàn thiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo.

- Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu giá tài sản, trong đó làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh những sai phạm và những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động đấu giá tài sản; hướng dẫn, định hướng các đấu giá viên, tổ chức đấu giá tài sản thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đấu giá tài sản và văn bản hướng dẫn thi hành để tạo môi trường cho các tổ chức đấu giá tài sản và đấu giá viên trên địa bàn tỉnh hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan.

- Kiến nghị Bộ Tư pháp:

+ Tiếp tục quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ, giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thi hành Đề án, Luật Đấu giá tài sản và các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản.

+ Tiếp tục thể chế hóa chính sách xã hội hóa hoạt động đấu giá tài sản, hoàn thiện thể chế theo hướng cần có ít nhất 01 đơn vị sự nghiệp làm nòng cốt trong mỗi lĩnh vực cung cấp dịch vụ công, nhất là lĩnh vực đấu giá tài sản. Đồng thời, nên quy định theo hướng, mỗi doanh nghiệp đấu giá phải có ít nhất hai đấu giá viên trở lên; giám đốc/tổng giám đốc doanh nghiệp đấu giá phải là đấu giá viên và phải hành nghề với tư cách đấu giá viên ít nhất hai năm trở lên.

+ Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản hướng dẫn về đấu giá tài sản. Cụ thể, bổ sung quy định các trường hợp thu hồi thẻ đấu giá viên, trong đó có trường hợp đấu giá viên không còn hành nghề trong tổ chức đấu giá tài sản; quy định về thẩm quyền địa hạt đối với đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu nhà nước; quy định tiêu chí lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản.

Nguyễn Đức Tuấn
Sở Tư pháp Quảng Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: