Thứ năm 15/01/2026 06:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

.

Bài cuối: Từ bài học đến hành động - Chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ bằng pháp luật

Pháp luật giữ vai trò trung tâm trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, là cơ sở để xác lập các chuẩn mực ứng xử, thiết lập khuôn khổ kiểm soát quyền lực và bảo đảm xử lý công minh. Tuy nhiên, để pháp luật thực sự phát huy hiệu lực và sức sống, cần có sự đồng hành của nhiều yếu tố như đạo đức công vụ, văn hóa liêm chính, cơ chế giám sát xã hội và ứng dụng công nghệ hiện đại. Khi những yếu tố này được thực hiện đồng bộ và gắn kết, pháp luật không chỉ là ranh giới ngăn ngừa vi phạm mà còn trở thành động lực nuôi dưỡng liêm chính từ bên trong, góp phần xây dựng một nền hành chính kỷ cương, minh bạch và phụng sự.

Thành tựu và khoảng trống, yêu cầu đặt ra đối với việc tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Gần 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trong những thành tựu đó, công tác phòng, chống tham nhũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nội dung để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021) khẳng định: Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Sự thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tăng cường[1]. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ[2]. Những kết quả này đã góp phần củng cố nền tảng chính trị - tư tưởng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, tạo nên cơ đồ, vị thế và uy tín của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trong nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016), công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã được đẩy mạnh với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Hơn 87.000 cán bộ, đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó có trên 3.200 trường hợp liên quan đến hành vi tham nhũng. Đặc biệt, hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, gồm 27 Ủy viên và nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 04 Ủy viên và nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, cùng hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang[3]. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 3/2024, các cơ quan có thẩm quyền của Đảng đã thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó một số trường hợp bị xử lý hình sự[4].

Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt, còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý trong nội bộ một số cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Ở một số địa phương, vai trò của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh chưa được phát huy đúng mức; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, công an, viện kiểm sát… vẫn còn lúng túng, thiếu đồng bộ. Việc kiểm soát quyền lực, xử lý xung đột lợi ích, minh bạch tài sản, thu nhập ở cấp cơ sở còn nhiều khoảng trống, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn[5].

Những con số và thực trạng trên không chỉ phản ánh mức độ nghiêm trọng của tình trạng tham nhũng, tiêu cực mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về nguy cơ suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là lời nhắc nhở mạnh mẽ về yêu cầu cấp thiết phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tạo nền tảng để Việt Nam tiến bước vững chắc vào “kỷ nguyên mới” với một nền chính trị liêm chính, kiến tạo, phụng sự Nhân dân. Chính vì vậy, công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực sẽ tiếp tục được Đảng tiến hành với tinh thần quyết tâm, quyết liệt, không có vùng cấm, không có ngoại lệ - thông điệp này luôn được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh trong các phát biểu chỉ đạo quan trọng.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Mở rộng phạm vi, bổ sung nội dung “lãng phí”, bước phát triển mới trong tư duy chỉ đạo và hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tình hình mới, Đảng ta đã thể hiện tinh thần đổi mới tư duy và sự quan tâm sâu sắc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cùng Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị, không chỉ xác lập nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc, mà còn thể hiện quyết tâm đổi mới phương thức kiểm soát quyền lực và tăng cường hiệu lực thực thi.

Đặc biệt, Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, cùng Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã tạo nên bước đột phá trong thể chế hóa chủ trương của Đảng. Những văn bản này không chỉ làm rõ cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động lập pháp mà còn khẳng định sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy lãnh đạo: từ định hướng chung sang dẫn dắt cụ thể bằng pháp luật, từ chủ trương chính trị sang thiết chế thực tiễn.

Trong bài viết “Chống lãng phí”[6], giải pháp trọng tâm đầu tiên được Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: Cần thống nhất nhận thức đấu tranh phòng, chống lãng phí là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đầy cam go, phức tạp; là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp; có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xây dựng Đảng ta vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Nhận diện vấn đề chống lãng phí là một nhiệm vụ quan trọng khác mà Việt Nam cần thực hiện khi đứng trước cơ hội lịch sử của “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, ngày 29/10/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã ký ban hành Quy định số 191-QĐ/TW quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực[7]. Việc bổ sung nội dung “lãng phí” vào chức năng của Ban Chỉ đạo Trung ương thể hiện trong Quy định số 191-QĐ/TW không chỉ là sự điều chỉnh về mặt danh xưng, mà còn là bước phát triển đột phá trong tư duy lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc phòng, chống các hiện tượng tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Nếu tham nhũng là biểu hiện tha hóa quyền lực có tính chủ ý, nhằm tư lợi cá nhân hoặc nhóm, thì lãng phí - dù không luôn đi kèm động cơ vụ lợi - vẫn gây tổn thất nghiêm trọng đến nguồn lực quốc gia, làm suy yếu hiệu quả quản trị và niềm tin xã hội.

Việc bổ sung phạm vi này đặt ra yêu cầu nhận diện đúng bản chất của lãng phí như một loại “tiêu cực cấu trúc” trong đầu tư công, mua sắm tài sản, tổ chức bộ máy, quản lý thời gian và sử dụng con người. Khi lãng phí trở thành một chỉ tiêu kiểm soát trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và giám sát quyền lực, thì hiệu lực của phòng, chống tiêu cực sẽ được nâng lên. Đây cũng là minh chứng cho tinh thần kiên quyết, đồng bộ và thực chất trong công cuộc chỉnh đốn Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi mọi biểu hiện làm thất thoát niềm tin, tài sản công đều phải được kiểm soát bằng kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức trực thuộc - Giải pháp đồng bộ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Ngày 11/10/2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP về Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng tiêu cực đến năm 2030. Trên cơ sở nhận định tình trạng tham nhũng, tiêu cực vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta[8], Nghị quyết số 168/NQ-CP đưa ra 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể: (i) Hoàn thiện chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (ii) Kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước, hoàn thiện chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức liêm chính; nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật; (iii) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; (iv) Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; (v) Tích cực tham gia, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng, thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức trực thuộc, các cơ quan báo chí, truyền thông; huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xác định là một trong bốn mục tiêu cụ thể trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030.

Ngày 10/4/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 43-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành pháp luật của Nhà nước (Chỉ thị số 43-CT/TW). Chỉ thị số 43-CT/TW nhấn mạnh yêu cầu phải kịp thời cụ thể hóa các định hướng của Đảng bằng hệ thống pháp luật đồng bộ, khả thi, nhằm kiểm soát quyền lực, ngăn chặn nguy cơ lợi dụng kẽ hở pháp luật. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, đổi mới phương thức lãnh đạo, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thể chế hóa như một tiêu chí quan trọng trong đánh giá cán bộ, tổ chức. Đây là bước đi quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, trong sạch, phục vụ Nhân dân.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc với Bộ Tư pháp.

Ngày 30/4/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW), trong đó nhóm quan điểm chỉ đạo đầu tiên có nội dung “Tăng cường kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ; phòng ngừa, ngăn chặn mọi biểu hiện trục lợi, hướng tới chính sách” và giải pháp, nhiệm vụ đầu tiên là: “Thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành pháp luật”.

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật, kiến tạo liêm chính từ truyền thống, công nghệ, đội ngũ cán bộ đến cơ chế giám sát hiệu quả

Chỉ thị số 43-CT/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW là những văn kiện quan trọng, thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đây là lĩnh vực "nhạy cảm" và phức tạp, bởi không chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, mà còn tác động đến những biểu hiện sâu xa của bản ngã con người - nếu thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên thì rất dễ dẫn đến sự tha hóa trong thực thi quyền lực. Chính vì vậy, để công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt hiệu quả thực chất và bền vững, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, cần đồng thời triển khai tốt các nhiệm vụ sau:

Gắn tham nhũng, tiêu cực với lãng phí, một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải nhìn nhận tham nhũng, tiêu cực và lãng phí như những biểu hiện khác nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ, cùng làm suy kiệt nguồn lực quốc gia, xói mòn niềm tin của Nhân dân. Nếu tham nhũng là hành vi tư lợi bất chính, thì lãng phí, dù không có động cơ vụ lợi rõ ràng vẫn gây hậu quả nghiêm trọng, đôi khi không kém gì hành vi tham nhũng trực tiếp. Vì vậy, giải pháp quan trọng là phải tích hợp đồng bộ các quy định pháp luật và cơ chế kiểm soát để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực gắn chặt với phòng, chống lãng phí, thất thoát. Việc này không chỉ giúp mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà còn tạo nên một hệ thống phòng ngừa toàn diện, hiệu quả hơn trước những biểu hiện suy thoái trong quản lý, sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước và các nguồn lực phát triển.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân
Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật (Nguồn: moitruong.net)

Tăng cường giám sát quyền lực, nhất là phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc, từ phía Nhân dân, báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Đảng và Nhà nước. Giám sát không chỉ là công cụ để phát hiện sai phạm, mà còn là phương thức để phòng ngừa, răn đe và tạo môi trường minh bạch, công khai - điều kiện tiên quyết để ngăn ngừa tham nhũng từ gốc.

Đổi mới công tác cán bộ, theo hướng phát hiện, lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ thực sự “có tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn” - đúng như lời dạy sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” - là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Một đội ngũ cán bộ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn vững vàng về bản lĩnh chính trị, liêm chính và luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết chính là nhân tố quyết định trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực ngay từ trong nội bộ.

Phát triển Chính phủ số, xã hội số, theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, tổ chức đấu thầu, quản lý tài sản công... là giải pháp quan trọng nhằm minh bạch hóa quy trình, giảm thiểu sự can thiệp mang tính chủ quan, tùy tiện của con người. Qua đó, từng bước hình thành cơ chế giám sát tự động, góp phần thu hẹp “khoảng trống, kẽ hở” về thể chế và kỹ thuật - những nơi dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực.

Khôi phục và phát huy giá trị văn hóa truyền thống về liêm chính, chính danh, như Lễ hội Minh Thề ở Hải Phòng, nơi các chức sắc địa phương xưa kia thề nguyện không tham ô, vụ lợi, người thi hành công vụ luôn hành động vì dân vì nước. Những đạo lý dân tộc như “cần, kiệm, liêm, chính” không chỉ là giá trị lịch sử, mà cần được tái tạo thành nền tảng đạo đức xã hội hiện đại. Đặc biệt, cần đưa nội dung giáo dục đạo đức công vụ, liêm chính và trách nhiệm xã hội vào trường học, vào chương trình đào tạo cán bộ để hình thành ý thức tự giác, phòng ngừa từ gốc rễ./.

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực - Truyền thống, pháp luật và khát vọng phụng sự Nhân dân

Hoàng Lan, Vũ Quỳnh, Hoàng Trung

Bài 1: Gốc rễ văn hóa, pháp lý của tinh thần chống tham nhũng trong lịch sử dân tộc.

Bài 2: Từ lời Bác dạy đến đường lối, hành động của Đảng và Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, tập 1.

2. Nguyễn Phú Trọng, “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 1034, tháng 3/2024.

3. Bài viết “Chống lãng phí” của Tổng Bí thư Tô Lâm, https://tuoitre.vn/bai-viet-chong-lang-phi-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-20241013162205227.htm.

4. PGS.TS. Nguyễn Thế Tư & PGS.TS. Nguyễn Văn Lý, “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, https://thanhtra.nghean.gov.vn/phong-chong-tham-nhung/phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-theo-tinh-than-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang-554003.


  1. Đảng Cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII”, tập 1, tr. 31,

  2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tlđd, tr. 30,

  3. PGS.TS. Nguyễn Thế Tư & PGS.TS. Nguyễn Văn Lý, “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”, https://thanhtra.nghean.gov.vn/phong-chong-tham-nhung/phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-theo-tinh-than-nghi-quyet-dai-hoi-xiii-cua-dang-554003, truy cập ngày 10/7/2025.

  4. Nguyễn Phú Trọng, “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 1034, tháng 3/2024, tr. 5.

  5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tlđd, tr. 37,

  6. Bài viết “Chống lãng phí” của Tổng Bí thư Tô Lâm, https://tuoitre.vn/bai-viet-chong-lang-phi-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-20241013162205227.htm, truy cập ngày 10/7/2025.

  7. Thay thế Quy định số 32-QĐ/TW ngày 16/9/2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

  8. Xem thêm Phần Bối cảnh, Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng tiêu cực đến năm 2030 được ban hành kèm theo Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 11/10/2023 của Chính phủ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: