Thứ hai 16/03/2026 04:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công ở Việt Nam hiện nay

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công ở Việt Nam hiện nay

Đấu giá quyền sử dụng đất công tại một số địa phương trong thời gian qua đã góp phần rất lớn trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, phát huy hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai cho việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị hóa đất nước. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất công trong thời gian qua đã trở thành mối lo ngại và bức xúc trong xã hội. Do vậy, việc tìm ra giải pháp để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công ở Việt Nam hiện nay là cấp thiết. Bài viết khái quát thực trạng đấu giá quyền sử dụng đất công và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Lý luận về quyền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất

Qua nghiên cứu cho thấy, khái niệm quyền sử dụng đất đã được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX với tên gọi ban đầu là “quyền quản lý và sử dụng ruộng đất”[1]. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, pháp luật thực định của Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính thức về nội hàm của khái niệm quyền sử dụng đất.

Theo Từ điển Luật học năm 2006 thì “quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho...”[2].

Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Khoản 1 Điều 198 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân”.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 thì “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Điều này có nghĩa là chỉ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới được thực hiện quyền của người sử dụng đất (quyền sử dụng đất).

Có thể lý giải thêm về quyền sử dụng đất như sau: Quyền sử dụng đất phát sinh dựa trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế; còn quyền sử dụng đất của người sử dụng đất chỉ có được khi đ­ược Nhà nư­ớc giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất (phụ thuộc vào ý chí của Nhà nư­ớc). Vì vậy, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất bị Nhà nư­ớc hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng.

Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 quy định “Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó... Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ. Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v... ruộng đất được chia”, Điều 1 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai” và Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Tuy không đồng nhất về quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất nhưng Luật Cải cách ruộng đất năm 1953, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản, ví dụ như: Trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế bằng quyền sử dụng đất. Do vậy, nếu nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì sẽ dễ dàng nhận thấy, quyền sử dụng đất thực chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài sản, trong đó bao gồm cả quyền định đoạt và quyền sử dụng đất phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy định.

Quyền sử dụng đất là quyền mà Nhà nước giao cho người sử dụng đất và đây là một quyền đặc biệt, vì quyền này được xem là một loại tài sản, là tài sản đặc biệt so với các tài sản khác. Quyền sử dụng đất với tư cách là một loại “quyền tài sản” thì theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản được chia làm 02 loại là bất động sản và động sản. Theo Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì bất động sản bao gồm: Đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật và động sản là những tài sản không phải là bất động sản. Như vậy, quyền sử dụng đất là một loại tài sản và tài sản này gắn liền với đất đai, cho nên nó là tài sản đặc biệt.

Từ nghiên cứu của tác giả có thể dễ nhận ra, quyền sử dụng đất ở Việt Nam được hình thành không dựa trên học thuyết về các quyền tự nhiên, đây là sản phẩm của sáng tạo pháp luật Việt Nam, sự sáng tạo này dự trên cơ sở điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và sự phân chia giới hạn kiểm soát đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bởi vậy, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa cho rằng “sáng tạo ra khái niệm quyền sử dụng đất, ngư­ời Việt Nam dường nh­ư đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức”[3].

Do vậy, khi cá nhân, tổ chức, hộ gia đình được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất từ việc chuyển nhượng của các chủ thể sử dụng đất khác thì các chủ thể này có những quyền được pháp luật quy định đối với tài sản là quyền sử dụng đất của mình, các quyền đó bao gồm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh; quyền được khai thác các lợi ích, công năng của đất; quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao; quyền được hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước từ việc cải tạo, bảo vệ đất mang lại và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Từ các cơ sở nêu trên, quyền sử dụng đất có thể hiểu là quyền của các chủ thể sử dụng đất bao gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn, tặng cho quyền sử dụng đất và chủ thể sử dụng đất có quyền được khai thác các thuộc tính, công dụng của đất, quyền được hưởng những thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Đấu giá quyền sử dụng đất là phương thức phân phối đất đai đặc biệt của Nhà nước. Khác với giao đất theo cách thức thông thường, với hình thức đấu giá, các chủ thể có nhu cầu sử dụng đất phải tham gia đấu giá công khai với những người khác và người nào trả giá cao nhất là người được nhận quyền sử dụng đất. Nếu xét về bản chất, đấu giá quyền sử dụng đất cũng là một quan hệ mua bán tài sản. Đối tượng đem ra để “mua”, “bán” trong quan hệ này là quyền sử dụng đất. Chủ thể tham gia quan hệ một bên bao gồm cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng đất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất là “bên bán”; một bên là cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng đất để làm nhà ở hoặc sản xuất, kinh doanh là “bên mua”. Còn nếu xét về khía cạnh luật pháp, khi tham gia đấu giá quyền sử dụng đất, ngoài các quy định chung của Luật Đấu giá tài sản, người tham gia đấu giá còn cần phải đáp ứng các điều kiện, yêu cầu của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Trong quan hệ này, những người tham gia “mua” quyền sử dụng đất phải cạnh tranh với nhau về giá. Cuộc mua bán diễn ra công khai tại một nơi nhất định, ở đó, người có quyền sử dụng đất đưa ra giá bán với mức giá khởi điểm, còn những người mua tham gia đấu giá tự do để đưa ra giá trong sự cạnh tranh với những người khác nhằm mục đích “mua” được quyền sử dụng đất để phục vụ nhu cầu của mình. Người chiến thắng trong cuộc đấu giá là người “mua” được quyền sử dụng đất với điều kiện là người trả giá cao nhất, ít nhất bằng giá khởi điểm.

Như vậy, đấu giá quyền sử dụng đất có thể hiểu là một hình thức mua bán tài sản đặc biệt, được tổ chức công khai giữa một bên là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức có quyền sử dụng đất hoặc cơ quan đại diện cho Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đất đai với một bên là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng đất. Theo đó, người muốn có được quyền sử dụng đất phải tham gia cạnh tranh với nhau về giá bằng cách thức trả giá từ thấp lên cao theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm là người nhận được quyền sử dụng đất đấu giá.

Hiện nay, chưa có khái niệm “đất công”, tuy nhiên, điểm e khoản 2 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 có quy định đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm: “Đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác”. Từ thực tiễn, có thể hiểu “đất công” là đất ngoài mục đích là “đất công cộng” còn bao gồm các mục đích khác như: Đất xây dựng các công trình nhà nước, đất quốc phòng, đất an ninh, nghĩa trang, đất chưa sử dụng, các quỹ đất được nhà nước xác lập quản lý bằng văn bản... Thực tiễn cho thấy, tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi nói chung và tại Việt Nam nói riêng, việc sắp xếp lại quỹ nhà đất sử dụng trong khu vực công là một nhu cầu cần thiết. Trong kinh tế bao cấp, các cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước chiếm giữ một khối lượng lớn bất động sản, trong đó có nhiều nhà đất nằm tại các vị trí đất có giá trị cao. Khi chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, nhu cầu sử dụng nhà đất của khu vực công giảm đi mạnh, nhà đất tại các vị trí có giá trị cao cần được chuyển từ khu vực nhà nước sang khu vực sản xuất, kinh doanh mà chủ yếu do các doanh nghiệp tư nhân thực hiện. Các tổ chức, cơ quan của Nhà nước có thể chuyển tới vị trí đất không có giá trị cao, miễn là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình và thuận tiện cho người dân liên hệ khi cần thiết. Nếu thu xếp lại bất động sản thuộc khu vực công thật hiệu quả thì đây là nguồn thu ngân sách cho Nhà nước cực kỳ lớn.

Qua nghiên cứu, phân tích các vụ án tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất công trong thời gian qua cho thấy, pháp lý về quyền sử dụng đất công còn chưa rõ, đây có thể là khoảng trống cho tham nhũng, tiêu cực; bởi lẽ, nói đến quyền sử dụng đất công ai cũng hiểu nhưng giải thích thuật ngữ quyền sử dụng đất công trong pháp luật đất đai tại Việt Nam hiện nay thì chưa rõ, thậm chí chưa có quy định rõ ràng. Do vậy, việc bổ sung thuật ngữ “quyền sử dụng đất” và “quyền sử dụng đất công” trong các văn bản, quy định pháp luật tại Việt Nam hiện nay là rất cần thiết.

2. Thực trạng tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công tại Việt Nam trong thời gian qua

Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp năm 2013, đất đai luôn được khẳng định là tài nguyên quốc gia quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn vốn nội lực phục vụ phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật[4]; đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý[5] và do vậy, chỉ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mới được thực hiện quyền của người sử dụng đất. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt được pháp luật bảo hộ.

Từ các số liệu thống kê cho thấy, công tác đấu giá quyền sử dụng đất đã giúp Nhà nước khai thác hợp lý quỹ đất, đồng thời huy động được nhiều nguồn vốn cùng tham gia đầu tư xây dựng và giúp tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Mặt khác, hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, đấu giá quyền sử dụng đất còn mang lại hiệu quả trong việc quản lý sử dụng đất đai. Kết quả kinh tế thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất đã khẳng định vai trò của đất đai trong nền kinh tế thị trường[6]. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất, tình trạng tham nhũng, tiêu cực đất đai nói chung, trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất công nói riêng còn diễn biến phức tạp. Thực tiễn có những vụ án điển hình tiêu biểu cho sai phạm trong đấu giá quyền sử dụng đất công tại Việt Nam thời gian qua cho thấy, sự cấu kết tinh vi giữa doanh nghiệp, tư nhân với những người có chức vụ, quyền hạn trong việc đấu thầu, chỉ định thầu trái quy định; giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá quyền sử dụng đất công… gây thất thoát tài sản nhà nước hàng trăm tỷ đồng, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng. Đó là những vụ án tham nhũng, tiêu cực mà các đối tượng vi phạm đã “lách”, “lợi dụng” những bất cập, chưa phù hợp thực tế của pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất của Việt Nam hiện nay và nguyên nhân chính dẫn đến sai phạm có thể kể đến như:

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 34 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về tài sản góp vốn “Tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam” và tại khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2020 về định giá tài sản góp vốn quy định “Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam”, tức là theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì tài sản góp vốn là “giá trị quyền sử dụng đất” còn theo khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất”. Do vậy, vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến doanh nghiệp nhà nước góp vốn bằng hình thức giao “đất vàng”. Tuy nhiên, giá trị đất được định giá rất thấp nhưng sau khi góp vốn, quyền sử dụng đất nhanh chóng được chuyển cho đơn vị thứ ba để hợp thức hóa tài sản và “giá trị quyền sử dụng đất công” biến thành “giá trị quyền sử dụng đất” theo giá thị trường, cao gấp nhiều lần so với giá trị góp vốn lúc ban đầu.

Thứ hai, đang tồn tại một khoảng trống pháp lý về dự án BT (xây dựng – chuyển giao) tại Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn Luật này, trong khi nhiều văn bản khác về dự án BT lại quy chiếu về việc thực hiện theo quy định của Luật Đất đai. Bên cạnh đó, quy định về thời điểm giao đất để thanh toán dự án BT và thời điểm giao dự án BT còn bất cập, chưa rõ ràng khiến việc thanh toán dự án bằng quỹ đất không bảo đảm nguyên tắc ngang giá; một số quy định hiện hành chưa chặt chẽ, tạo khe hở cho việc “lách luật”, tình trạng “sân sau”, “chân gỗ” hoặc dàn dựng “chỉ định thầu”…

Thứ ba, việc tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất công không nghiêm túc, không thực hiện đúng các quy định pháp luật về đấu giá quyền sử dụng đất. Chẳng hạn như: Thực hiện việc niêm yết, công khai thông báo đấu giá còn sơ sài, không bảo đảm đầy đủ các thông tin theo quy định (thời gian, địa điểm đấu giá, nơi đăng ký tham gia đấu giá,…); không thực hiện thông báo rộng rãi nhằm mục đích khép kín thông tin... Từ thực tiễn, có thể thấy, dù nắm rõ quy định pháp luật về việc xác định giá đất khi giao đất phải bảo đảm nguyên tắc định giá đất theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá; theo thời hạn sử dụng đất; phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường… (Điều 112 Luật Đất đai năm 2013) và thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất (khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013), tuy nhiên, khi giao đất cho doanh nghiệp, thay vì xác định giá đất tại thời điểm giao đất để áp giá tính tiền sử dụng đất cho doanh nghiệp, các đối tượng lại sử dụng giá được xác định từ nhiều năm trước, tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận được đất đai với giá rẻ hơn nhiều lần so với giá thực tế tại thời điểm được giao đất, gây thất thoát tài sản nhà nước.

Các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai nói chung và trong đấu giá quyền sử dụng đất công nói riêng cho thấy, hành vi tham nhũng được thực hiện tinh vi, có tổ chức và “lợi ích nhóm” với sự bao che, thông đồng giữa các chủ thể trong và ngoài cơ quan nhà nước liên quan đến quyền sử dụng đất công được đấu giá hay dự án có sử dụng đất được đấu thầu... những hành vi này đều xuất phát vì lợi ích chung giữa hai bên mà bên giao tìm mọi cách để nhận được lợi ích từ giá quyền sử dụng đất trúng đấu giá hay thắng đấu thầu thấp hơn giá thị trường. Thực chất nạn tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công tại Việt Nam thời gian qua đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và xác định rõ chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước, mà cả người dân bình thường, nếu “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế” cũng là chủ thể của hành vi tham ô: “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư. Đục khoét của nhân dân. Ăn bớt của bộ đội. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế[7].

3. Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đấu giá quyền sử dụng đất công tại Việt Nam

Có thể khẳng định, đấu giá quyền sử dụng đất nói chung và đấu giá quyền sử dụng đất công nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đối với hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai cho việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, thúc đẩy phát triển hệ thống hạ tầng, đô thị hóa và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước. Do vậy, tác giả có một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả trong đấu giá quyền sử dụng đất công và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác này như sau:

Thứ nhất, cần có khái niệm hoặc giải thích thuật ngữ “quyền sử dụng đất” và “quyền sử dụng đất công” trong các văn bản pháp luật, để phân định rõ vai trò, chức năng của các cơ quan nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước và chủ thể sử dụng đất. Cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có thẩm quyền chiếm hữu đất đai phải độc lập với cơ quan có thẩm quyền định đoạt đất đai (giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất…). Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin điện tử quốc gia về đất đai công khai, minh bạch, tin cậy nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận, quản lý, sử dụng đất đai; thực hiện chuyển đổi số trong quản lý đất đai.

Thứ hai, cần mở rộng các trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất. Bổ sung các trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất: Doanh nghiệp nhà nước sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn, liên doanh; xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp khi cổ phần hóa; chuyển mục đích sử dụng đất của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Sửa đổi khoản 3 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng, trường hợp đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất mà không có người tham gia đấu giá hoặc đấu giá ít nhất 02 lần không thành thì Nhà nước ngừng việc giao đất, cho thuê đất.

Thứ ba, bổ sung quy định pháp luật liên quan đến việc đấu giá quyền sử dụng đất công, cụ thể: Bổ sung vào điểm c khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013 nội dung “ nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất (trừ trường hợp nhận chuyển nhượng thông qua hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước)”. Bởi lẽ, tình trạng chuyển quyền sử dụng đất công sang tư nhân không thông qua đấu giá, đấu thầu mà chỉ định giá trực tiếp khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua khá phổ biến. Pháp luật đất đai hiện hành chỉ quy định việc đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất mà chưa quy định chặt chẽ, bắt buộc phải đấu giá đối với đất do doanh nghiệp nhà nước đang quản lý, sử dụng khi chuyển mục đích sử dụng. Việc quy định về đối tượng được giao đất, cho thuê đất không qua đấu giá tại khoản 2 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 còn khá rộng, chưa cụ thể dễ tạo kẽ hở cho tham nhũng, tiêu cực, gây thất thoát ngân sách nhà nước khi chuyển quyền sử dụng đất từ doanh nghiệp nhà nước sang tư nhân thông qua cổ phần hóa, sau đó chuyển mục đích sử dụng đất mà không phải đấu giá trong điều kiện nguồn đất đai có hạn, nhu cầu sử dụng ngày càng cao, nhất là tại đô thị với các khu đất có giá trị sử dụng trên thị trường rất cao.

Thứ tư, cần xây dựng khung pháp lý riêng đối với các dự án BT theo hướng quy định về chuyển mục đích sử dụng đất của doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải thông qua hình thức đấu giá, để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong đấu giá quyền sử dụng đất công được minh bạch, bình đẳng trước pháp luật. Bởi vì, trong thời gian qua nhiều dự án BT đã phát sinh các vấn đề như trục lợi, không minh bạch, xác định giá trị chưa rõ ràng, gây ra thiệt hại cho ngân sách nhà nước, thậm chí phát sinh tình trạng lợi ích nhóm.

Thứ năm, cần có phân cấp thẩm quyền cho các địa phương trong quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn, đồng thời thiết lập các cơ chế quản lý thống nhất của trung ương thông qua quy định về hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu về đất đai thống nhất tập trung quản lý mọi biến động của từng thửa đất; các cơ chế kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền về phân cấp như thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, yêu cầu cập nhật các biến động về quản lý của địa phương về trung ương, các cơ chế giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong tổ chức thực thi chính sách, pháp luật ở từng cấp.

NCS. Lê Quang Kiệm

Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh


[1] Trần Quang Huy và Nguyễn Quang Tuyến chủ biên (2009), Pháp luật về kinh doanh bất động sản, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[2] Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa và Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 655.

[3] Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 169.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội.

[5] Điều 53 Hiến pháp năm 2013.

[6] Lê Quang Kiệm (2023), Đấu giá quyền sử dụng đất theo giá đất thị trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Mở Hà Nội.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 355.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: