Thứ hai 21/09/2026 02:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng, chống tra tấn trong tố tụng hình sự Việt Nam và những vấn đề cần hoàn thiện

Trong bài viết này, tác giả bàn luận những vấn đề về phòng, chống tra tấn trong tố tụng hình sự cần được hoàn hiện nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất trên cơ sở đề cao quyền con người, quyền tự do của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả bàn luận những vấn đề về phòng, chống tra tấn trong tố tụng hình sự cần được hoàn hiện nhằm bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất trên cơ sở đề cao quyền con người, quyền tự do của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp.

Abstract: In this article, the author discusses the issues of preventing and combating torture in criminal proceedings that need to be completed in order to ensure coherence and consistency on the basis of upholding human rights, the freedom of people enshrined in the Constitution.

1. Dẫn nhập
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội Khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014). Kế thừa và tiếp tục phát huy những tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất với nhiều quy định tiến bộ. “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đề cao, đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong bản Hiến pháp năm 2013 (Chương II). Đó là kế thừa Hiến pháp năm 1946 do chủ tịch Hồ Chí Minh - Trưởng ban Soạn thảo; vừa thể hiện nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”[1]. Theo đó, “Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[2]; “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”[3]; “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật[4]”; “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật”[5].
Ngày 28/11/2014, Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Nghị quyết số 83/2014/QH13 phê chuẩn Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, 1984[6] (Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn năm 1984). Đây là một trong những Điều ước Quốc tế đa phương quan trọng về quyền con người, thể hiện ý chí của nhân loại yêu chuộng hòa bình, mong muốn sớm loại bỏ các hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo ra khỏi đời sống xã hội. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động bảo vệ nhân quyền, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Qua đó, góp phần triển khai, thi hành có hiệu quả Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đồng thời, đây là bước đi cụ thể trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế về vấn đề nhân quyền.
Xuất phát từ mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và người có hành vi phạm tội trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Vấn đề phòng ngừa tra tấn trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân là một nội dung quan trọng góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, không làm oan người vô tội. Đồng thời củng cố niềm tinh của nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.
2. Quy định về tra tấn theo pháp luật quốc tế
Sự kiện Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn năm 1984 thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động bảo vệ nhân quyền; thực hiện nhất quán chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam góp phần triển khai, thi hành có hiệu quả Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân và là bước đi cụ thể trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam; khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Theo quy định tại Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn thì: “Tra tấn có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức. Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp”[7]. Như vậy, có 03 yếu tố quan trọng cấu thành hành vi “tra tấn” và giúp phân biệt so với hành vi khác không phải tra tấn đó là: “Gây đau đớn về thể chất hoặc tinh thần nghiêm trọng; có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức Nhà nước hay một người khác có quyền lực như một quan chức; vì một mục đích cụ thể, thu thập thông tin, hình phạt hoặc đe dọa”[8]. Tra tấn thường được nói đến các hình thức ngược đãi, được sử dụng như một sự trừng phạt, đe dọa nhằm kiểm soát người khác để có thể có được thông tin hay chỉ để thỏa mãn các xung đột tàn bạo[9] có những hành vi nhất định được hiển nhiên xác định là tra tấn thể chất như: Sốc điện vào bộ phận sinh dục hoặc kéo móng tay ra khỏi bàn tay, dùng các hung khí hoặc tay không tác động vào cơ thể của nạn nhân[10], nhấn nước hoặc gây nghẹt thở, treo người trong một thời gian dài,...[11]. Tuy nhiên, tra tấn không chỉ bằng các hình thức gây tổn thương về thể chất nêu trên mà có thể được thực hiện bằng hình thức tinh thần. Tra tấn tinh thần, Công ước không quy định cụ thể mà để mở cho các quốc gia thành viên. Có thể kể đến một số hình thức như: Biệt giam nạn nhân trong phòng kín, không có ánh sáng; không tiếp xúc trong một thời gian dài; cho nạn nhân chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ; cho nạn nhân chịu đựng những âm thanh khó chịu khiến nạn nhân bị ám ảnh hay ức chế,…[12] các hành vi gây ra trạng thái quá mức chịu đựng của một con người, uy hiếp tinh thần dẫn đến nạn nhân sợ hãi, đau khổ, tuyệt vọng thông qua các mối đe dọa đối với gia đình hoặc những người thân yêu[13].
3. Quy định về phòng, chống tra tấn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực trạng thi hành
Khi tham gia Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm, 1984, đã đặt ra một yêu cầu đối với các nước thành viên là “phải thực hiện các biện pháp cụ thể về lập pháp, hành pháp, tư pháp hoặc các biện pháp hiệu quả khác nhằm phòng ngừa mọi hành vi tra tấn”[14]. Đồng thời, phải ghi nhận nội dung Điều 1 của Công ước về khái niệm tra tấn vào hệ thống pháp luật quốc gia. Với vai trò là thành viên Hội đồng Nhân quyền và là nước đã phê chuẩn Công ước cũng như gia nhập nhiều điều ước quốc tế về quyền con người[15]. Đồng thời, để tổ chức triển khai thực hiện Công ước trên phạm vi quốc gia ngày 17/03/2015, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 364/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước chống tra tấn năm 1984 trong đó nêu rõ: “Nghiên cứu hoàn thiện các quy định có liên quan trong Bộ luật Tố tụng Hình sự để bảo đảm tốt hơn quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam”[16]. Căn cứ vào kế hoạch này các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện như: Tổ chức tập huấn nội dung công ước chống tra tấn cho cán bộ, công chức; tuyên truyền công ước chống tra tấn rộng rãi ra ngoài quần chúng nhân dân, có các kế hoạch nghiên cứu lĩnh vực pháp lý để phòng ngừa tra tấn trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự.
Thực tế, Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam qua các thời kỳ mà cụ thể là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hiện nay đã được các nhà lập pháp nghiên cứu nội luật hóa những quan điểm tiến bộ nhằm bảo đảm quyền con người được thể hiện trong các văn kiện quốc tế cũng như quy định của Công ước chống tra tấn năm 1984 vào trong các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự để phòng ngừa tra tấn như: Nguyên tắt bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể; nguyên tắc bảo hộ, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cá nhân, pháp nhân[17]; quy định “ghi âm, ghi hình có âm thanh”[18]; những việc cần phải làm ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị bắt; thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp; các quyền của người bị buộc tội và một số chế định khác nhằm hỗ trợ cho người bị buộc tội có khả năng phòng ngừa hành vi dùng nhục hình từ những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng... Do đó, khi chính thức phê chuẩn Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn, Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 đã có những quy định thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của quốc gia thành viên.
Thời gian qua, mặc dù tình hình tội phạm vẫn còn tiếp tục diễn biến phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng số vụ, số người phạm tội[19]. Nhưng cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân đã nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, từng bước chấn chỉnh, khắc phục tồn tại, thiếu sót, vi phạm. Đồng thời, đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp tích cực để quán triệt và thực hiện nhiệm vụ chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước để phòng ngừa tra tấn trong tố tụng hình sự nhất là đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can. Bởi vì, đây là hoạt động có khả năng xảy ra tra tấn (dùng nhục hình cao nhất). Theo Báo cáo Quốc gia của Việt Nam về thực thi Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn năm 1984 gửi Ủy ban Chống tra tấn từ năm 2010 đến năm 2015, Tòa án nhân dân chưa thụ lý vụ án nào về tội bức cung và tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; đã thụ lý và xét xử 10 vụ án với tổng số 26 lượt bị cáo về tội dùng nhục hình (theo điều 373 Bộ luật Hình sự). Đồng thời, theo Báo cáo của Cục Thống kê Viện kiểm sát nhân dân tối cao từ năm 2016 đến năm 2020, Tòa án đã thụ lý, xét xử 10 vụ/25 bị cáo[20]. Có thể thấy rằng, với số lượng vụ án hình sự mỗi năm xảy ra là rất lớn và trước yêu cầu phải điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì đâu đó vẫn còn tồn tại những vụ án dùng nhục hình nhưng chiếm tỉ lệ rất ít[21]. Đồng thời, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học tại một số trại giam của Bộ Công an cho thấy, hiện nay, lực lượng điều tra viên nói chung đã tuân thủ các quy định tố tụng hình sự để bảo đảm quyền con người, phòng ngừa tra tấn trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can như: được phổ biến về quyền và nghĩa vụ cho người tham gia tố tụng, hỏi thăm tình trạng sức khỏe khi tiến hành làm việc; lấy lời khai, hỏi cung bị can thường được tiến hành phần lớn vào các khung giờ 07 - 11 giờ; 13 - 17 giờ; thời gian tổ chức lấy lời khai, hỏi cung bị can thường trung bình từ 2 - 3 giờ/1 lần; có sự hiện diện của người bào chữa khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tổ chức hỏi cung bị can và được đặt câu hỏi khi điều tra viên đồng ý (khi người bị buộc tội có nhờ người bào chữa); cho phép người bị buộc tội được thực hiện quyền im lặng; có sự tham gia của Viện kiểm sát khi tiến hành hỏi cung bị can,… Có thể đánh giá rằng, Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ này và đạt được những kết quả nhất định về phòng ngừa các hành vi tra tấn trong tố tụng hình sự khi cơ quan điều tra các cấp tiến hành lấy lời khai, hỏi cung bị can. Vấn đề này đã giúp cho Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế phòng ngừa các hành vi tra tấn trong tố tụng hình sự và góp phần khám phá nhanh các vụ án và giảm tỉ lệ án vụ án oan sai có thể xảy ra.
4. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện pháp luật phòng, chống tra tấn
4.1. Một số vấn đề đặt ra
Một là, xét về tổng thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định cụ thể về trình tự thủ tục tiến hành hỏi cung bị can nhưng lại không có quy định cụ thể về trình tự thủ tục tiến hành lấy lời khai đối với người bị tạm giữ, người bị bắt trong các trường hợp dẫn đến mỗi địa phương áp dụng mỗi kiểu: Có nơi tiến hành phổ biến quyền và nghĩa vụ khi lấy lời khai, nhưng cũng có nơi không hoặc không xác định trạng thái tinh thần của người được lấy lời khai (trong khi đó, đây là một nội dung quan trọng để những người tham gia tố tụng có thể tự phòng ngừa tra tấn khi đã nắm rõ các quy định của pháp luật). Đồng thời, hoạt động lấy lời khai cũng không bắt buộc phải ghi âm, ghi hình có âm thanh. Trong khi đó, thực tiễn khảo sát các vụ án dùng nhục hình cho thấy: Tỷ lệ dùng nhục hình trong quá trình lấy lời khai chiếm đa số so với hỏi cung bị can. Bởi vì, khi bị can đã bị khởi tố đã có một số cơ chế giám sát.
Hai là, tra tấn có thể được thực hiện bằng hình thức thể chất hoặc tinh thần. Do đó, việc kéo dài thời gian lấy lời khai, hỏi cung bị can liên tục trong nhiều giờ hoặc tiến hành xuyên đêm thì đây là một trong những biểu hiện hành vi tra tấn về tinh thần để có được lời nhận tội. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, mặc dù đã có quy định không tiến hành hỏi cung bị can vào ban đêm[22]. Tuy nhiên, lại có quy định mở là trừ những trường hợp không thể trì hoãn được nhưng lại không nêu rõ như thế nào là trường hợp không thể trì hoãn phải tiến hành hỏi cung bị can vào ban đêm. Thực tiễn cho thấy, tiến hành lấy lời khai, hỏi cung bị can vào ban đêm rất dễ dẫn đến dùng nhục hình. Bởi vì, cả điều tra viên và đối tượng đều trong trạng thái tinh thần mệt mỏi. Điều tra viên mong muốn có được lời nhận tội, đối tượng quanh co không nhận tội thì tra tấn là một cách làm nhanh nhất để có được lời khai, điển hình như: Vụ 07 thanh niên bị điều tra viên dùng nhục hình xảy ra tại tỉnh Sóc Trăng[23]; Vụ Lê Thanh Kiều ở Phú Yên[24]…
4.2. Một số kiến nghị, đề xuất
Một là, cần nghiên cứu để xây dựng quy định lấy lời khai. Trong quy định này cần thể hiện trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời gian cụ thể tiến hành lấy lời khai theo một số hướng cơ bản như: Không được tiến hành lấy lời khai vào ban đêm trừ trường hợp vụ việc xảy ra vào ban đêm cần phải truy bắt ngay đồng bọn, kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc các hành vi chuẩn bị phạm tội; thời gian lấy lời khai không quá 08 giờ/ngày. Cách 02 tiếng lấy lời khai sẽ được nghỉ ngơi; không tiến hành lấy lời khai vào các khung giờ nghỉ trưa hoặc tiến hành lấy lời khai liên tục 08 giờ/1 lần lấy lời khai; được ghi âm, ghi hình có âm thanh; người bị bắt, bị tạm giữ được quyền từ chối trả lời các câu hỏi nếu câu hỏi đó không liên quan đến nội dung vụ án; có sự tham gia của người bào chữa, kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai, lời khai có được do hành vi tra tấn sẽ không có giá trị làm chứng cứ chứng minh.
Hai là, đối với hỏi cung bị can, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định tương đối đầy đủ, nhưng cần bổ sung một số nội dung về những trường hợp đặc biệt được tiến hành hỏi cung bị can vào ban đêm hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể nội dung này. Đồng thời, tương tự như lấy lời khai cần ghi nhận một số nội dung như: Thời gian, tần xuất được tiến hành hỏi cung bị can, ghi nhận quyền từ chối khai nhận nếu câu hỏi không liên quan nội dung vụ án, thời gian nghỉ ngơi giữa các buổi hỏi cung bị can nếu kéo dài. Đồng thời, vấn đề quan trọng là kiểm sát viên trong mỗi vụ án phải có một bản phúc cung cuối cùng để ghi nhận lại nội dung vụ việc, qua đó, xem xét bị can có bị tra tấn dẫn đến khai sai sự thật hay không.
Ba là, nguyên nhân xảy ra các hành vi tra tấn trong thời gian qua là do còn một số điều tra viên quá nóng vội trong quá trình điều tra dưới áp lực của thời hạn tố tụng. Đồng thời, một điều tra viên hiện nay phải thụ lý rất nhiều vụ án. Đây chính là một trong những lý do có thể dẫn đến các vụ tra tấn, dùng nhục hình trong thời gian qua. Do đó, thời gian tới, cần tăng cường biên chế, nâng cao chất lượng đào tạo cho lực lượng này là một đòi hỏi cần thiết. Đồng thời, hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng đều có hệ thống các trường chuyên ngành. Lực lượng điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đều được đào tạo chính quy tại đây. Do đó, trong các chương trình học cần có các môn về nhân quyền, luật quốc tế, công pháp quốc tế để họ có thể nắm rõ về tầm quan trọng của quyền con người trong tư pháp hình sự. Từ đó, giáo dục và tự hình thành ý thức tôn trọng các quyền con người, quyền tự do dân chủ của nhân dân trong thực tiễn công tác sau này.

TS. Trịnh Duy Thuyên
Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân


[1]. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nền tảng Chính trị Pháp lý cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong thời kỳ mới, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2014, tr.19.
[2]. Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
[3]. Khoản 1, khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.
[4]. Điều 30 Hiến pháp năm 2013.
[5]. Điều 31 Hiến pháp năm 2013.
[6]. Vào ngày 07/11/2013, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn năm 1984 và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, ngày 05/02/2015, Việt Nam nộp văn kiện phê chuẩn cho Tổng thư ký Liên Hiệp quốc và chính thức trở là thành viên của Công ước này.
[7]. Xem Điều 1 Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn.
[8]. Camille Giffard, The torture reporting handbook, Human Rights Centre, University of Essex [https://www.ohchr.org/ EN/PublicationsResources/Pages/AnnualReportAppeal.aspx], p.13.
[9]. Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, pp.29-49.
[10]. Tlđd số 4, p.15.
[11]. Giải thích của Uỷ ban Chống tra tấn, Bình luận chung số 20, đoạn 6. Xem: Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, pp.29-49
[12]. Tlđd số 4, p.79.
[13]. Tlđd số 4, p.29 - 49.
[14]. Khoản 1 Điều 2 Công ước Liên Hiệp quốc về chống tra tấn.
[15]. Thủ tướng chính phủ (2015), Quyết định số 364/QĐ-TTg ngày 17/03/2015 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, tr.3.
[16]. Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 364/QĐ-TTg ngày 17/03/2015 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.
[17]. Xem Điều 10, Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[18]. Xem Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[19]. Bộ Công an: Báo cáo Tổng kết năm (từ 2012 đến năm 2019).
[20]. Cục thống kê, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
[21]. Ban nghiên cứu gia nhập Công ước Chống tra tấn: Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền con người giai đoạn (2000 - 2012), Hà Nội.
[22]. Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[23]. Trần Vũ, Vụ bảy bị can bị oan: Nhận tội vì khiếp sợ nhục hình, https://plo.vn/vu-an-bay-bi-can-bi-oan-nhan-toi-vi-khiep-so-nhuc-hinh-post293377.html, ngày truy cập 11/08/2014 | 02:55.
[24]. Hồng Ánh, Vụ nhục hình ở Phú Yên: “Em bị đánh bầm dập rồi, đừng đánh nữa!”, https://nld.com.vn/phap-luat/vu-nhuc-hinh-o-phu-yen-em-bi-danh-bam-dap-roi-dung-danh-nua-20150406213608792.htm, ngày truy cập 07/04/2015 - 09:40|Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: