Thứ sáu 16/01/2026 10:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phương thức kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Phương thức kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và đánh giá các phương thức kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2018, từ đó, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về vấn đề này.

Abstract: The article researches and evaluates the methods of controlling economic concentration under the Competition Law of 2018, from there, proposes some solutions to contribute to the improvement of the provisions of Vietnam's Competition Law on this issue.

1. Đặt vấn đề

Trong nền kinh tế thị trường, hành vi tập trung kinh tế (TTKT) là hợp pháp theo quy định của pháp luật, bởi đó là quyền tự do kinh doanh của các chủ sở hữu doanh nghiệp khi họ quyết định thay đổi cơ cấu tổ chức doanh nghiệp của mình. Trong thời gian qua, làn sóng mua bán, sáp nhập (M&A) tại Việt Nam ngày càng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt giá trị M&A đã đạt đỉnh vào năm 2017 với quy mô 10 tỷ USD. Tuy nhiên, đầu năm 2020, đại dịch Covid-19 lan rộng trên toàn cầu đã tác động rất lớn đến nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như hoạt động TTKT nói riêng, hoạt động M&A tại Việt Nam đã giảm xuống chỉ còn 3,5 tỷ USD. Tuy nhiên, khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát, tính đến 10 tháng đầu năm 2022, tổng giá trị M&A đã tăng lên đáng kể và đạt 5,7 tỷ USD. Những số liệu này cho thấy, hoạt động TTKT tại Việt Nam đã và đang diễn ra tương đối sôi nổi.

Tập trung kinh tế với bản chất là quá trình tích tụ và tập trung tư bản, tạo ra các doanh nghiệp có quy mô kinh doanh lớn và giúp giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động; thúc đẩy sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ… Tuy nhiên, TTKT cũng có nguy cơ gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Bởi vì, việc một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và sức mạnh thị trường nếu mua lại hoặc kết hợp với doanh nghiệp khác để trở thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường, có khả năng lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền sau TTKT và thực hiện những hành vi gây hạn chế cạnh tranh, tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Do đó, để bảo đảm TTKT không tạo ra cạnh tranh không lành mạnh và gây bất lợi đối với nền kinh tế, pháp luật đã đặt ra những quy định để kiểm soát hành vi này.

2. Các phương thức kiểm soát tập trung kinh tế

Theo Luật Cạnh tranh năm 2018, các phương thức kiểm soát TTKT được chia ra 03 mức độ như sau:

2.1. Tập trung kinh tế phải thông báo

Để kiểm soát tốt hành vi TTKT của các doanh nghiệp, pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã sử dụng cơ chế tiền kiểm, tức là cơ quan quản lý cạnh tranh đưa ra “ngưỡng thông báo TTKT”, trường hợp các bên tham gia giao dịch chạm đến ngưỡng đó, thì phải làm thủ tục thông báo TTKT và cơ quan quản lý cạnh tranh thông qua việc thẩm định hồ sơ thông báo để xem xét liệu một hành vi TTKT có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hay không. Như vậy, Luật Cạnh tranh năm 2018 không quy định tất cả các doanh nghiệp thực hiện TTKT đều phải nộp hồ sơ thông báo TTKT đến cơ quan quản lý cạnh tranh mà chỉ khi nào các doanh nghiệp thuộc ngưỡng thông báo theo quy định của pháp luật thì mới phải thực hiện thủ tục này.

Theo khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018, ngưỡng thông báo TTKT được xác định dựa vào 04 tiêu chí sau:

Thứ nhất, về tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT:

Đây là tiêu chí đánh giá tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT, hay nói cách khác, đây là tiêu chí đánh giá dựa trên quy mô của doanh nghiệp. Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/3/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh (Nghị định số 35/2020/NĐ-CP) hướng dẫn về việc xác định các tiêu chí về ngưỡng thông báo TTKT. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định các doanh nghiệp dự định tham gia tập trung kinh tế (trừ các doanh nghiệp quy định tại khoản 2 Điều này), theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật Cạnh tranh năm 2018, phải thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước khi thực hiện tập trung kinh tế nếu thuộc trường hợp sau đây: “Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết mà doanh nghiệp đó là thành viên đạt 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm dự kiến thực hiện tập trung kinh tế”.

Quy định trên về tiêu chí tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT có thể được hiểu theo 03 cách: (i) Tiêu chí tổng tài sản được áp dụng với bất kỳ bên nào tham gia TTKT, tức là, chỉ cần một bên tham gia giao dịch chạm tới ngưỡng này thì tất cả các bên đều phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT; (ii) Tiêu chí tổng tài sản được áp dụng với từng bên tham gia TTKT, tức là, mỗi bên tham gia giao dịch đều phải chạm ngưỡng này thì mới phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT; (iii) Tiêu chí tổng tài sản được hiểu là tổng tài sản kết hợp tất cả các bên tham gia TTKT, tức là, tổng tài sản của tất cả các bên tham gia giao dịch chạm tới ngưỡng được quy định thì phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT.

Trên thực tế, cơ quan quản lý cạnh tranh đang áp dụng theo cách hiểu (i), tức là chỉ cần một bên tham gia TTKT có tài sản lớn hơn 3.000 tỷ đồng thì tất cả các bên tham gia TTKT đều phải nộp hồ sơ thông báo. Tuy nhiên, cách hiểu này có thể dẫn đến việc bỏ lọt một số trường hợp TTKT mà tài sản của mỗi bên đều dưới ngưỡng thông báo nhưng tổng tài sản kết hợp của họ lại lớn hơn 3.000 tỷ đồng và có khả năng gây hạn chế cạnh tranh đáng kể. Ví dụ:

Trường hợp 1: Doanh nghiệp A có tài sản là 2.900 tỷ đồng TTKT với doanh nghiệp B có tài sản là 2.950 tỷ đồng. Vậy, tổng tài sản của hai doanh nghiệp này là 5.850 tỷ nhưng tài sản của từng bên A và B lại nhỏ hơn 3.000 tỷ đồng.

Trường hợp 2: Doanh nghiệp C có tài sản là 50 tỷ TTKT với doanh nghiệp D có tài sản là 3.000 tỷ đồng. Vậy, tổng tài sản của hai doanh nghiệp này là 3.050 tỷ đồng.

Như vậy, có thể thấy, việc TTKT của A và B trong trường hợp 1 có khả năng tác động tới thị trường lớn hơn nhiều so với việc TTKT của hai doanh nghiệp C và D trong trường hợp 2. Bởi vì, tổng tài sản của A và B lớn hơn gần gấp đôi so với tổng tài sản của C và D, mặc dù, tài sản riêng lẻ của A và B đều nhỏ hơn 3.000 tỷ đồng. Hơn nữa, do tài sản của C là rất nhỏ nên việc C biến mất trên thị trường sau khi TTKT với D cũng không ảnh hưởng quá lớn đến thị trường và không làm tăng sức mạnh thị trường của D.

Do vậy, theo quan điểm của tác giả, nên xác định tiêu chí tổng tài sản là tổng tài sản kết hợp của tất cả các bên tham gia giao dịch, nếu chạm tới ngưỡng được quy định thì các bên phải làm thủ tục thông báo TTKT. Cách hiểu (iii) giúp đánh giá được ngưỡng thông báo TTKT dựa trên tiêu chí tổng tài sản một cách bao quát và chính xác nhất.

Ngoài ra, cách hiểu (ii) cũng không phù hợp với thực tiễn, bởi nếu xác định như vậy thì chỉ khi nào tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT đạt từ ít nhất 6.000 tỷ đồng trở lên các doanh nghiệp mới phải thực hiện thủ tục thông báo TTKT. Trong khi đó, 6.000 tỷ đồng là một con số lớn, nếu xác định như vậy sẽ bỏ sót nhiều trường hợp tổng tài sản của các doanh nghiệp tham gia TTKT nhỏ hơn 6.000 tỷ đồng (tức là tài sản của mỗi doanh nghiệp nhỏ hơn 3.000 tỷ đồng) nhưng vụ việc TTKT đó vẫn có khả năng gây tác động mạnh tới thị trường như trong ví dụ tại trường hợp 1 nêu trên.

Thứ hai, về tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT:

Việc sử dụng tiêu chí tổng doanh thu là một căn cứ để xác định ngưỡng thông báo TTKT là hoàn toàn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay, vì doanh thu là yếu tố có thể phản ánh được quy mô của doanh nghiệp một cách chính xác nhất. Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia TTKT cũng có thể dễ dàng cung cấp số liệu về doanh thu của mình. Có thể nói, việc sử dụng tiêu chí tổng doanh thu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam kiểm soát được những hành vi TTKT xuyên biên giới trong khi việc xác định thị phần trên thị trường liên quan tại Việt Nam đối với các bên là doanh nghiệp nước ngoài khá khó khăn.

Tương tự với tiêu chí tổng tài sản, quy định về tiêu chí tổng doanh thu cũng có thể được hiểu theo 03 cách: (i) Tiêu chí tổng doanh thu được áp dụng với bất kỳ bên nào tham gia TTKT, tức là, chỉ cần một bên tham gia giao dịch chạm tới ngưỡng này thì tất cả các bên đều phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT; (ii) Tiêu chí tổng doanh thu được áp dụng với từng bên tham gia TTKT, tức là, mỗi bên tham gia giao dịch đều phải chạm ngưỡng này thì mới phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT; (iii) Tiêu chí tổng doanh thu được hiểu là tổng doanh thu kết hợp tất cả các bên tham gia TTKT, tức là, tổng doanh thu của tất cả các bên tham gia giao dịch chạm tới ngưỡng được quy định thì phải thực hiện nghĩa vụ thông báo TTKT.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của pháp luật Liên minh châu Âu (cũng xác định ngưỡng thông báo TTKT là tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia TTKT[1]) và cũng tương tự với cách giải thích nêu trên, tác giả cho rằng, nên xác định tiêu chí tổng doanh thu là tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia TTKT.

Thứ ba, về giá trị giao dịch của TTKT:

Có thể nói, tiêu chí về giá trị giao dịch sẽ thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp sau khi thực hiện giao dịch TTKT, nếu giá trị giao dịch TTKT lớn thì khả năng cao sẽ xuất hiện các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền và các doanh nghiệp này thường có xu hướng lạm dụng vị thế này để thực hiện các hành vi phản cạnh tranh nhằm củng cố sức mạnh của mình trên thị trường.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định hướng dẫn cụ thể cách tính giá trị giao dịch, điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực thi quy định về thông báo TTKT. Điều 13 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP quy định, nếu giá trị giao dịch của TTKT đạt từ 1.000 tỷ đồng trở lên, thì giao dịch đó sẽ phải được thông báo tới cơ quan quản lý cạnh tranh. Theo đó, không rõ liệu giá trị giao dịch này sẽ được xác định là tổng giá trị hợp đồng giữa các bên trong giao dịch hay khối lượng tài sản mà bên tiếp nhận nắm giữ trong bên bị tiếp nhận sau giao dịch hay có cách xác định nào khác?

Đồng thời, theo quan điểm của tác giả, việc pháp luật quy định giá trị giao dịch là tiêu chí riêng biệt để xác định ngưỡng thông báo TTKT là chưa hợp lý, vì giá trị giao dịch đôi khi không phản ánh chính xác khả năng gây hạn chế cạnh tranh của giao dịch. Bởi lẽ, trên thực tế có những giao dịch tuy có giá trị nhỏ nhưng lại tác động lớn tới thị trường do quy mô về vốn của thị trường liên quan nhỏ (ngành, lĩnh vực mới), ngược lại, cũng có nhiều trường hợp giá trị giao dịch lớn nhưng lại có tác động nhỏ do quy mô về vốn của thị trường liên quan quá lớn (thị trường vận tải hàng không).

Thứ tư, về thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia TTKT:

Trên thực tế, việc để các doanh nghiệp tự xác định thị phần làm căn cứ thông báo TTKT là khá khó khăn. Bởi vì, các doanh nghiệp chỉ có thể biết về doanh số của mình chứ không nắm được doanh số của các doanh nghiệp khác trên thị trường liên quan. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp không xác định được hoặc xác định không chính xác thị phần kết hợp nên không làm thủ tục thông báo tới cơ quan quản lý cạnh tranh. Tuy nhiên, dù khó xác định nhưng không thể phủ nhận rằng, thị phần vẫn là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá và phản ánh chính xác nhất cấu trúc thị trường, tương quan sức mạnh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng, việc xác định ngưỡng thị phần kết hợp chỉ được sử dụng trong các giao dịch TTKT theo chiều ngang (là TTKT diễn ra giữa các doanh nghiệp hoạt động trên cùng thị trường liên quan) bởi điểm d khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về ngưỡng thị phần kết hợp trên thị trường liên quan mà không phải là thị phần đối với từng thị trường riêng lẻ của TTKT theo chiều dọc (là TTKT diễn ra giữa các doanh nghiệp ở những cấp độ khác nhau của chuỗi sản xuất) hay TTKT hỗn hợp (là TTKT diễn ra giữa các doanh nghiệp không phải là đối thủ của nhau và cũng không có những mối quan hệ mua bán thực sự hoặc tiềm năng).

Như vậy, để kiểm soát tốt hành vi TTKT của các doanh nghiệp, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định thủ tục thông báo TTKT trước khi thực hiện giao dịch. Đây là thủ tục để cơ quan quản lý cạnh tranh đánh giá giao dịch TTKT có bị cấm hay được phép thực hiện với những điều kiện nhất định. Trường hợp các doanh nghiệp tham gia TTKT không thuộc ngưỡng thông báo TTKT, nghĩa là giao dịch đó không nằm trong ngưỡng có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường thì hành vi TTKT đó được phép thực hiện mà không cần thực hiện thủ tục thông báo. Có thể thấy, nếu so sánh với Luật Cạnh tranh năm 2004, thì Luật Cạnh tranh năm 2018 đã có sự thay đổi khi quy định về ngưỡng thông báo TTKT. Theo đó, nếu Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ căn cứ duy nhất vào tiêu chí “định tính” là ngưỡng thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT để kiểm soát TTKT, thì Luật Cạnh tranh năm 2018 đã đưa ra ngưỡng thông báo theo tiêu chí “định lượng” dựa trên 04 tiêu chí chủ yếu đó là, tổng tài sản, tổng doanh thu, giá trị giao dịch và thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia TTKT. Đồng thời, những tiêu chí này còn được hướng dẫn chi tiết bằng những con số cụ thể tại Nghị định số 35/2020/NĐ-CP giúp cơ quan quản lý cạnh tranh và các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực thi các quy định này. Đồng thời, sự thay đổi đó của Luật Cạnh tranh năm 2018 sẽ giúp kiểm soát được tất cả các loại hình TTKT bao gồm: TTKT theo chiều ngang, TTKT theo chiều dọc và TTKT dạng hỗn hợp thay vì chỉ kiểm soát được loại hình TTKT theo chiều ngang như cách quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004.

Ngoài ra, nếu giao dịch TTKT thuộc ngưỡng phải thông báo theo quy định của pháp luật, thì các doanh nghiệp tham gia giao dịch phải chuẩn bị hồ sơ thông báo TTKT gồm các giấy tờ được liệt kê tại Điều 34 Luật Cạnh tranh năm 2018 và nộp tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ thông báo TTKT đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải ra thông báo kết quả thẩm định sơ bộ việc TTKT về một trong 02 nội dung là: TTKT được thực hiện và TTKT phải thẩm định chính thức. Trường hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia không thông báo kết quả thẩm định sơ bộ trong thời gian nêu trên thì TTKT được phép thực hiện. Có thể nói, quy định này gây áp lực khá lớn cho cơ quan quản lý cạnh tranh về mặt thời gian nhưng lại giúp bảo đảm quyền lợi cho các doanh nghiệp và hạn chế được những thiệt hại có thể phát sinh do quá trình thẩm định bị kéo dài. Sau khi kết thúc thẩm định sơ bộ, việc TTKT được cho phép thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP, ngược lại, nếu việc TTKT không thuộc các trường hợp đó, thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ tiến hành thẩm định chính thức. Sau khi kết thúc thẩm định chính thức việc TTKT, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽ ra quyết định về một trong ba nội dung: (i) TTKT được thực hiện; (ii) TTKT bị cấm quy định tại Điều 30 Luật Cạnh tranh năm 2018; (iii) TTKT có điều kiện theo quy định tại Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018. Với cách quy định về nội dung thẩm định sơ bộ và thẩm định chính thức việc TTKT nêu trên cho thấy, pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã có sự tương đồng với pháp luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới.

Trong 06 tháng đầu năm 2022[2], đã có 62 hồ sơ thông báo TTKT gửi đến Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, xấp xỉ số hồ sơ thông báo TTKT trong cả năm 2020 và bằng 50% số hồ sơ trong năm 2021. Trong khi đó, theo báo cáo kết quả 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam, từ năm 2005 đến năm 2015, chỉ có 28 vụ việc TTKT được thông báo chính thức đến cơ quan quản lý cạnh tranh. Qua số liệu thống kê này, có thể thấy, kể từ khi Luật Cạnh tranh năm 2018 được ban hành thay thế Luật Cạnh tranh năm 2004, quy định về thông báo TTKT đã được thực thi hiệu quả hơn. Có thể thấy, thời gian gần đây, các doanh nghiệp đã nắm tương đối rõ quy định về kiểm soát TTKT tại giai đoạn đầu tiên là giai đoạn thông báo và đã tuân thủ khá tốt nghĩa vụ này. Như vậy, lợi ích thông qua việc kiểm soát TTKT và mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp đối với Luật Cạnh tranh là khá cao, điều này đã giúp ích rất nhiều cho cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc kiểm soát thị trường.

2.2. Tập trung kinh tế có điều kiện

Theo Điều 41 Luật Cạnh tranh năm 2018, sau khi kết thúc thẩm định chính thức việc TTKT, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ra quyết định về một trong 03 nội dung sau: TTKT được thực hiện; TTKT có điều kiện quy định tại Điều 42 Luật Cạnh tranh; TTKT thuộc trường hợp bị cấm.

Theo đó, Điều 42 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, TTKT có điều kiện là TTKT được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây: (i) Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia TTKT; (ii) Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau TTKT; (iii) Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của TTKT. Như vậy, theo quy định nêu trên, có thể thấy các nhà làm luật đã đưa ra hai dạng điều kiện, gồm:

- Điều kiện khắc phục về mặt cấu trúc: Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia TTKT. Đây là biện pháp nhằm duy trì cấu trúc cạnh tranh trên thị trường, ngăn cản hình thành thị trường tập trung ở mức độ cao hoặc thị trường có các doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.

- Điều kiện khắc phục về mặt hành vi, gồm: Kiểm soát về hành vi liên quan tới giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ hoặc điều kiện giao dịch của doanh nghiệp hình thành sau TTKT; biện pháp nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường; biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của TTKT. Mục đích của các biện pháp này là nhằm kiểm soát các ứng xử của các doanh nghiệp, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, không gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc nâng cao tác động tích cực của việc TTKT giúp giảm thiểu tác động hạn chế cạnh tranh của cách đáng kể của việc TTKT đó.

2.3. Tập trung kinh tế bị cấm

So với Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã sửa đổi theo hướng hoàn toàn mới khi quy định về TTKT bị cấm. Theo đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 không quy định cấm hành vi TTKT một cách cứng nhắc dựa trên mức thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT chiếm trên 50% trên thị trường liên quan như trong Luật Cạnh tranh năm 2004, mà thay vào đó chỉ quy định cấm dựa trên bản chất gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của giao dịch TTKT. Cụ thể, Điều 30 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định TTKT bị cấm là: Doanh nghiệp thực hiện TTKT gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường liên quan. Đồng thời, cơ quan cạnh tranh sẽ căn cứ vào một hoặc một số yếu tố được quy định tại Điều 15 Nghị định số 35/2020/NĐ-CP như thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT, mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi TTKT… để đánh giá mức độ gây tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.

Với cách quy định như vậy, Luật Cạnh tranh năm 2018 đã thể hiện điểm tiến bộ là luôn tôn trọng và cho phép các doanh nghiệp được quyền thực hiện hoạt động TTKT để phát triển doanh nghiệp. Nhà nước sẽ chỉ can thiệp nếu hành vi TTKT có nguy cơ gây tổn tại cho môi trường cạnh tranh.

3. Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế

Nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam về các phương thức kiểm soát TTKT, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần có quy định hướng dẫn cụ thể cách hiểu về tiêu chí tổng tài sản và tiêu chí tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT để tránh gây nhầm lẫn cho các doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xác định ngưỡng thông báo TTKT trên thực tế. Tác giả cho rằng, nên xác định 02 tiêu chí này là tổng tài sản và tổng doanh thu của các doanh nghiệp tham gia TTKT.

Thứ hai, cần có quy định hướng dẫn về cách tính giá trị giao dịch để bảo đảm thống nhất về mặt thực thi bởi sự không rõ ràng trong cách tính giá trị giao dịch này có thể dẫn đến sự mâu thuẫn trong việc áp dụng quy định trên thực tế.

Thứ ba, nên tham khảo mô hình chủ thể kết hợp với giá trị giao dịch được áp dụng tại Hoa Kỳ, theo đó, không nên quy định giá trị giao dịch là một tiêu chí riêng biệt, mà nên được sử dụng kết hợp với tiêu chí tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia TTKT, nói cách khác là tiêu chí quy mô của doanh nghiệp. Bởi vì, việc quy định như vậy sẽ đánh giá chính xác hơn về khả năng gây hạn chế cạnh tranh của giao dịch đối với thị trường.

ThS. Nguyễn Thị Việt Hà

Khoa Pháp luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Theo Quy định số 139/2004 của Cộng đồng châu Âu (EC) về kiểm soát tập trung kinh tế giữa các vụ mua lại.

[2]. Báo cáo hoạt động tập trung kinh tế 06 tháng đầu năm 2022, Cục Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Bộ Công Thương.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 379), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: