Thứ ba 14/07/2026 22:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quá trình thực thi Hiệp định TRIPs về khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Bên cạnh việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN bao gồm việc ký kết Hiệp định khung ASEAN về hợp tác bảo hộ sở hữu trí tuệ đều diễn ra ở Việt Nam trong năm 1995[1], một số hình ảnh của Việt Nam trong những năm đầu đổi mới có thể được gắn với việc chúng ta liên tục ban hành các văn bản pháp luật thể hiện rõ chính sách hội nhập, thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

1. Giới thiệu chung

Các văn bản được nhắc đến ở đây gồm Luật Đầu tư nước ngoài 1987, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam 1988, Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1989 và Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả 1994. Tuy nhiên, tiến trình hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hoàn toàn có thể được tính từ năm 1995 với ba lý do chính. Thứ nhất, như đã được đề cập đến phần nào ở trên, chỉ vài ngày sau khi WTO chính thức đi vào hoạt động (01/01/1995), Việt Nam đã chính thức gửi yêu cầu gia nhập tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này (04/01/1995), qua đó cam kết thi hành các hiệp định thương mại đa phương của WTO, bao gồm Hiệp định TRIPs. Thứ hai, chỉ gần 10 tháng sau ngày yêu cầu gia nhập WTO được chính thức gửi đi (04/01/1995), Việt Nam đã lần đầu tiên ban hành Bộ luật Dân sự (28/10/1995) trong đó quy định về quyền sở hữu trí tuệ tại Phần thứ sáu được thừa nhận có sự tham chiếu nhất định đến các tiêu chuẩn ghi nhận tại Hiệp định TRIPs. Thứ ba, việc sử dụng thuật ngữ “quyền sở hữu trí tuệ” và quy định về quyền này tại Bộ luật Dân sự nhấn mạnh ý nghĩa đây là một “quyền dân sự”, điều này phù hợp với công bố nêu tại Đoạn thứ tư tuyên bố mở đầu (Introductory Statement) của Hiệp định TRIPs, theo đó các thành viên xác nhận quyền sở hữu trí tuệ là loại quyền tư (private rights).

Trong số các công ước và hiệp định quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPs thường được xem là hiệp định toàn diện, có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt[2]. Lý do trước hết là Hiệp định TRIPs được cấu trúc trên cả hai phương diện pháp luật nội dung (substantive law) và pháp luật hình thức hay thủ tục (procedural law) trong khi các công ước và hiệp định liên quan khác hầu như luôn chỉ được cấu trúc trên phương diện pháp luật nội dung. Điều này có nghĩa là nghĩa vụ thi hành Hiệp định TRIPs theo tư cách thành viên WTO tác động đến hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ ở tất cả các thành viên không chỉ trên phương diện pháp luật nội dung về các loại quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ, mà còn trên phương diện pháp luật thủ tục nhằm thực thi các quyền được bảo hộ theo các tiêu chuẩn tối thiểu đề ra bởi chính Hiệp định.

Trên phương diện pháp luật nội dung, Hiệp định TRIPs có phạm vi tác động rộng nhất so với tất cả các công ước hay hiệp định cùng loại, bao hàm tới bảy loại quyền tài sản trí tuệ với bốn thành tố chính của mỗi loại về đối tượng bảo hộ, các quyền được bảo hộ, ngoại lệ của hành vi xâm phạm quyền và thời hạn bảo hộ. Phù hợp với Điều 1:2 giải thích thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” theo cách dẫn chiếu đến tất cả các phạm trù sở hữu trí tuệ thuộc đối tượng được quy định tại các Mục từ 1 đến 7 của Phần II[3], các quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Hiệp định TRIPs gồm bản quyền và quyền liên quan (copyright and related rights), nhãn hiệu thương mại (trademarks), chỉ dẫn địa lý (geographical indications), kiểu dáng công nghiệp (industrial designs), sáng chế (patents) (bao gồm giống cây trồng), thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (layout-designs [topographies] of integrated circuits) và bí mật kinh doanh (undisclosed information). Bên cạnh các điều khoản riêng quy định về từng loại quyền sở hữu trí tuệ này, Hiệp định TRIPs còn dẫn hóa nhiều nội dung của bốn công ước, hiệp định khác thuộc thẩm quyền quản lý của WIPO (trừ Công ước Rome đồng quản lý bởi WIPO và hai tổ chức thuộc Liên Hợp quốc là Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục [UNESCO] và Tổ chức Lao động quốc tế [ILO]). Chúng gồm Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước Berne về bản quyền, Công ước Rome về quyền liên quan và Hiệp định Washington về mạch tích hợp bán dẫn[4]. Tính chất “cộng” này của Hiệp định TRIPs (Paris-plus, Berne-plus, Rome-plus, Washington-plus) đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp của Hiệp định Washington bởi cho đến nay Hiệp định Washington chưa bao giờ phát sinh hiệu lực giữa các bên tham gia ký kết.

Trên phương diện pháp luật thủ tục, trong khi thực thi quyền thường được xem là vấn đề khó khăn, nan giải nhất trong một hệ thống quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ[5], cấu trúc toàn văn chia làm 07 phần có tổng số 73 điều luật của Hiệp định TRIPs được thiết kế bao gồm một phần quan trọng (Phần III) hàm chứa tới 21 điều luật (các Điều 41 - 61) quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ở đây, thành viên được yêu cầu đảm bảo thi hành các tiêu chuẩn tối thiểu về thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua bốn thủ tục hay biện pháp là dân sự, hành chính, hình sự và kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thực hiện bởi cơ quan hải quan. Song song với yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời quy định riêng tại Điều 50, các yêu cầu thực thi quyền sở hữu trí tuệ khác trong Hiệp định TRIPs được thiết kế gồm yêu cầu tổng quát áp dụng cho tất cả các thủ tục và biện pháp thể hiện tại Điều 41 và yêu cầu riêng cho từng nhóm thủ tục dân sự và hành chính thể hiện tại các Điều 42 - Điều 49, biện pháp kiểm soát biên giới thể hiện tại các Điều 51 - Điều 60 và thủ tục hình sự thể hiện tại Điều 61.

Một đặc điểm quan trọng khác của Hiệp định TRIPs liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ giữa các thành viên trong khuôn khổ hoạt động của WTO được yêu cầu phải đảm bảo tuân thủ quy định của một trong các hiệp định đính kèm với Hiệp định thành lập WTO là Hiệp định về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp (DSU). Một cách cụ thể hơn, Điều 64:1 Hiệp định TRIPs tuyên bố quy định tại Điều XXII và Điều XXIII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), như được chi tiết hóa và vận dụng trong DSU, phải được áp dụng cho quá trình tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên về nội dung của Hiệp định TRIPs, trừ khi chính Hiệp định TRIPs có điều khoản quy định khác[6]. Tính đến ngày 10/11/2015 có 500 vụ tranh chấp giữa các thành viên sau 20 năm hoạt động của WTO[7], nhưng hơn năm năm về trước, tính đến ngày 01/01/2010 - sau tròn 15 năm hoạt động của WTO có 27 trong tổng số 402 vụ tranh chấp giữa các thành viên liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo các tiêu chuẩn đề ra bởi Hiệp định TRIPs (chiếm 6.7%)[8].

2. Khái quát các giai đoạn của tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam

Như đã được nhắc đến phần nào ở trên, quy định về quyền sở hữu trí tuệ tại Phần thứ sáu Bộ luật Dân sự 1995 là lát cắt quan trọng đầu tiên trong toàn bộ tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam. Trong thực tế, kế hoạch xây dựng Bộ luật Dân sự đã được khởi động 15 năm trước đó thông qua việc Ủy ban soạn thảo Bộ luật Dân sự được thành lập năm 1980 gồm đại diện của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đại diện của một số bộ, ngành có liên quan khác[9]. Bên cạnh những khó khăn khác để Bộ luật Dân sự khó có thể được ban hành sớm hơn, ví dụ, mâu thuẫn giữa tính chất bình đẳng, tự nguyện của quan hệ dân sự với tính chất mệnh lệnh, hành chính trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc Bộ luật Dân sự được ban hành chỉ gần 10 tháng sau khi yêu cầu gia nhập WTO được Chính phủ Việt Nam chính thức gửi đi, thông qua đó chúng ta cam kết thi hành các hiệp định thương mại đa phương của WTO, bao gồm Hiệp định TRIPs, đã chứng minh rằng Bộ luật Dân sự là cột mốc quan trọng, là thời điểm khởi đầu của toàn bộ tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam.

Căn cứ vào đặc điểm của sự phân khúc có thể phân biệt tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam thành ba giai đoạn. Giai đoạn một 1995 - 1998 mang tính khởi động hay thi hành tạm thời, mở đầu năm 1995 theo sự ra đời của Bộ luật Dân sự và kết thúc năm 1998 tương ứng với thời điểm diễn ra vòng đàm phán đa phương đầu tiên giữa Ban Công tác WTO về việc gia nhập của Việt Nam (Working Party on the Accesion to the WTO of Vietnam) và Phái đoàn Việt Nam về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam theo tiêu chuẩn ghi nhận tại Hiệp định TRIPs. Giai đoạn hai 1999 - 2004 mang tính thi hành chưa đầy đủ, hay chuyển tiếp, với các khiếm khuyết, hay sự chưa tương tích giữa quy định pháp luật quốc gia và yêu cầu quốc tế ở giai đoạn một được khẩn trương san bằng, chủ yếu thông qua việc Chính phủ ban hành các nghị định quy định về các vấn đề có liên quan hay được yêu cầu. Giai đoạn ba từ năm 2005 trở về sau mang tính thi hành đầy đủ, khắc dấu với việc Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, sửa đổi và bổ sung ngày 19/06/2009, tiếp sau là một hệ thống lớn các văn bản hướng dẫn thi hành.

2.1. Giai đoạn thi hành tạm thời Hiệp định TRIPs (1995 - 1998)

Toàn bộ quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong lịch sử đất nước đều cho thấy Việt Nam không phải là một quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt khi việc bảo hộ được xác lập trên cơ sở các tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPs. Tại Giác thư về chế độ thương mại nước ngoài ở Việt Nam (Memorandum on the Foreign Trade Regime) trình bày năm 1996 trước Ban Công tác WTO về việc gia nhập của Việt Nam, hệ thống văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia được viện dẫn gồm quy định về quyền sở hữu trí tuệ tại Phần thứ VI Bộ luật Dân sự năm 1995 và một số văn bản được ban hành trước đó như Bộ luật Hình sự năm 1985, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh Hải quan năm 1990[10]. Hơn hai năm sau, tại một thuyết trình của Phái đoàn Việt Nam thực hiện trong năm 1998, hệ thống văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia được trình bày đã bao gồm không chỉ Phần thứ VI Bộ luật Dân sự năm 1995 mà còn nhiều văn bản hướng dẫn thi hành quy định về sở hữu trí tuệ tại Phần thứ VI Bộ luật Dân sự[11].

Như vậy, khoảng thời gian 1995 - 1998 có thể được xem như cần và đủ cho giai đoạn thi hành tạm thời Hiệp định TRIPs ở Việt Nam, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Tính chất của quy định pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong giai đoạn này, theo nhận xét của chính phái đoàn Việt Nam trong “Kế hoạch hành động thi hành Hiệp định TRIPs”, là thể hiện rất nhiều bất cập so với các yêu cầu của Hiệp định TRIPs[12]. Cũng vậy, tại một báo cáo thực hiện khá công phu bởi Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường dưới sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam khi đó được đánh giá một cách rất khách quan là “chưa tương thích và chưa hiệu quả, còn tồn tại một khoảng cách xa so với yêu cầu của Hiệp định TRIPs”[13]. Hầu hết các bất cập và chưa tương thích này được khắc phục nhanh chóng ở giai đoạn hai 1999 - 2004 trong tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam, chủ yếu thông qua việc Chính phủ xây dựng và ban hành nhiều nghị định với ghi nhận tương ứng về các vấn đề được yêu cầu.

2.2. Giai đoạn thi hành chưa đầy đủ Hiệp định TRIPs (1999 - 2004)

Trong giai đoạn 1999 - 2004, hầu hết các điểm chưa tương thích trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia so với yêu cầu của Hiệp định TRIPs đều được Việt Nam nhanh chóng san bằng, cơ bản thông qua việc ban hành các nghị định của Chính phủ, bên cạnh một số đạo luật của Quốc hội và thông tư của các bộ hữu quan[14].

Đầu tiên, “khoảng trống” bảo hộ bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và một số nội dung khác liên quan đến các yêu cầu chủ yếu nêu tại các Điều 22 - 23, 39 Hiệp định TRIPs và các Điều 8, 10bis Công ước Paris được đảm bảo thi hành tại Việt Nam thông qua quy định tại Nghị định số 54/2000/CP-CP ngày 03/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp. Tương tự, yêu cầu bảo hộ giống cây trồng mới thể hiện tại Điều 27:3(b) Hiệp định TRIPs được đáp ứng thông qua Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/04/2001 và yêu cầu bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn nêu tại các Điều 35-38 Hiệp định TRIPs, bao gồm các điều khoản dẫn nhập từ Hiệp định Washington, được đảm bảo thông qua Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 02/05/2003. Trước đó, Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Dân sự về quyền sở hữu công nghiệp được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 01/2001/NĐ-CP ngày 01/01/2001 với các bất cập trong bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được khắc phục kịp thời bên cạnh nhiều sửa đổi, bổ sung khác[15].

Trong giai đoạn 1999-2004 này, công tác pháp lý giành được quan tâm đặc biệt của Quốc hội và Chính phủ liên quan đến việc xây dựng và ban hành văn bản pháp luật quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua các thủ tục hay biện pháp dân sự, hành chính, hình sự và biên giới nhằm đáp ứng các yêu cầu nêu tại các Điều 41-61 Hiệp định TRIPs.

Nhằm thi hành yêu cầu của Hiệp định TRIPs về thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua thủ tục hay biện pháp hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/03/1999 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/06/2001 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin, bao gồm vi phạm quyền tác giả. Về thủ tục dân sự áp dụng cho các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 với đầy đủ quy định về thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, tranh chấp sở hữu trí tuệ nói riêng, Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT đã được ban hành ngày 05/12/2001 hướng dẫn một số thủ tục áp dụng trong việc xét xử các tranh chấp về quyền tác giả ở tòa án[16]. Liên quan đến biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hóa xuất nhập khẩu có dấu hiệu xâm phạm hay bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Quốc hội đã thông qua Luật Hải quan ngày 29/06/2001 trong đó các Điều 57, 58, 59 xác định nguyên tắc chung cho việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ - xây dựng phù hợp với yêu cầu nêu tại các Điều 51-60 Hiệp định TRIPs. Liên quan đến yêu cầu thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua thủ tục hình sự, Bộ luật Hình sự 1985 bao hàm Điều 167 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả với mức hình phạt nặng nhất lên tới tử hình từng được thành viên Ban Công tác WTO về việc gia nhập của Việt Nam đề nghị giảm thiểu cho phù hợp[17] đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung ngày 21/12/1999 theo hướng bám sát nội dung yêu cầu thể hiện tại Điều 61 Hiệp định TRIPs, ở đó Điều 131 quy định về tội xâm phạm quyền tác giả và Điều 171 quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đều có hình phạt nặng nhất lên đến 03 năm tù giam.

2.3. Giai đoạn thi hành đầy đủ Hiệp định TRIPs (từ 2005 đến nay)

Tương ứng với các giai đoạn của tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam, chúng ta có Bộ luật Dân sự 1995 khắc dấu ở giai đoạn một 1995 - 1998 mang tính thi hành tạm thời, các Nghị định của Chính phủ tạo ấn tượng ở giai đoạn hai 1999 - 2004 mang tính chuyển tiếp và ở giai đoạn ba mang tính thi hành đầy đủ kể từ 2005 trở về sau cột mốc quan trọng nhất, bao trùm toàn bộ tiến trình thi hành Hiệp định TRIPs ở Việt Nam gắn với việc Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005.

Bên cạnh việc đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đưa ra bởi Hiệp định TRIPs, Luật Sở hữu trí tuệ ra đời đồng thời khắc phục điểm chưa tương thích kéo dài hầu như trong suốt quá trình thực thi Hiệp định TRIPs ở Việt Nam liên quan đến yêu cầu nêu tại Điều 34 Hiệp định TRIPs. Kèm theo các tình huống được xác định, nội dung cơ bản của Điều luật này yêu cầu thành viên quy định nghĩa vụ chứng minh (the burden of proof) trong một vụ kiện xâm phạm độc quyền đối với một sáng chế có đối tượng là quy trình sản xuất một sản phẩm (a patented process) thuộc về bị đơn ở một quốc gia nơi thủ tục tố tụng quy định nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh cho các yêu cầu của mình như Việt Nam. Cho tới khi quy định tại Điều 203:4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đáp ứng yêu cầu vừa nêu, đây là câu hỏi được đưa ra liên tục và kéo dài nhất trong toàn bộ các vấn đề cần được giải đáp bởi Phái đoàn Việt Nam trong quan hệ giữa quy định pháp luật quốc gia và yêu cầu quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, diễn ra trên cơ sở các bàn đàm phán đa phương giữa Ban Công tác WTO về việc gia nhập của Việt Nam và Phái đoàn Việt Nam, khởi đầu từ Giác thư về chế độ thương mại nước ngoài trình bày năm 1996[18].

Ở một quốc gia còn nhiều xa lạ với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt theo tiêu chuẩn của Hiệp định TRIPs như Việt Nam, việc soạn thảo một văn bản pháp luật như Luật Sở hữu trí tuệ đòi hỏi sự đầu tư lớn về công sức, trí tuệ, thời gian và tài chính. Qua nhiều dự thảo chính thức trình Quốc hội và rất nhiều dự thảo không chính thức thực hiện xung quanh trách nhiệm chính thuộc về Bộ Khoa học Công nghệ kết hợp với trách nhiệm của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch và Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005. Cùng với các quy định mang tính định hướng tại Phần thứ VI Bộ luật Dân sự 14/06/2005, Luật Sở hữu trí tuệ ra đời đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới, hay giai đoạn trưởng thành, của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam[19], Từ chỗ gần như hoàn toàn xa lạ với lĩnh vực pháp lý này[20] cùng với tư cách thành viên WTO của Việt Nam bên cạnh hơn 150 quốc gia hay vùng lãnh thổ hải quan khác, bao gồm các quốc gia có trình độ phát triển cao nhất, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh về chúng, được xây dựng phù hợp với các tiêu chuẩn ghi nhận tại Hiệp định TRIPs trong quan hệ với nhiều công ước, hiệp định quốc tế có liên quan khác.

Kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành (29/11/2005) cho đến thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật (01/07/2006) Việt Nam tiếp tục thực hiện đúng các lộ trình cam kết của mình trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, ghi nhận tại Báo cáo của Ban Công tác WTO về việc gia nhập của Việt Nam hoàn thành vào cuối năm 2006[21]. Trên cơ sở đó, nhiều điều khoản trong tổng số 222 điều luật của Luật Sở hữu trí tuệ có cấu trúc chia thành 6 phần, 18 chương, 29 mục đã nhanh chóng được hướng dẫn thi hành. Tính từ ngày ban hành cho đến ngày Việt Nam có tư cách thành viên đầy đủ và chính thức ở WTO (11/01/2007), chúng ta có khoảng 10 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ[22]. Cho đến nay, một số lượng đồ sộ các văn bản hướng dẫn thi hành khác tiếp tục tiếp tục được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm đảm bảo sự tương thích giữa văn bản hướng dẫn thi hành với các điều khoản đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010[23].

TS. Kiều Thị Thanh

Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội


[1] Hiệp định khung ASEAN về hợp tác bảo hộ sở hữu trí tuệ (ASEAN Framework Agreement on Intellectual Property Cooperation) được ký kết tại Bangkok, Thailand ngày 15/12/1995. Trên cơ sở đó, Nhóm công tác ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ (the ASEAN Working Group on Intellectual Property Cooperation) được thành lập năm 1996 nhằm mục tiêu phát triển, hợp tác và thi hành tất cả các chương trình và hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ trong phạm vi khu vực các quốc gia ASEAN. Cho đến nay, nhìn chung công việc của Nhóm công tác ASEAN về hợp tác sở hữu trí tuệ cơ bản dựa trên các kế hoạch hành động bao gồm Kế hoạch hành động ASEAN về sở hữu trí tuệ 2004-2010 (the ASEAN Intellectual Property Rights Action Plan 2004-2010), Kế hoạch công tác hợp tác ASEAN về bản quyền (the Work Plan for ASEAN Cooperation on Copyrights) và gần đây nhất là Kế hoạch hành động ASEAN về sở hữu trí tuệ 2011-2015 (ASEAN IPR Action Plan 2011-2015), tiếp đó là xây dựng kế hoạch hành động này trong các năm tiếp theo 2016-2020 (ASEAN IPR Action Plan 2016-2020).

[2] Về các hiệp định hay các điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ được ký kết giữa các nước trên thế giới cho tới nay xem: World Trade Organization, Uruguay Round Agreement: Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rghts (www.wto.org/english/docs_e/legal_e/27-trips_01_e.htm); World International Property Organization, WIPO-Administered Treaties (www.wipo.int/treaties/en/); International Union for the Protection of New Varieties of Plants, UPOV Lex (www.upov.int/upovlex/en/acts.html; United Nations Educational, Scientific and Culteral Organization (UNESCO), Universal Copyright Convention (www.unesco.org/new/en/culture/themes/creativity/creative-industries/copyright/universal-copyright-convention/).

[3] Nguyên văn Điều 1:2 Hiệp định TRIPs: “For the purpose of this Agreement, the term “intellectual property” refers to all categories of intellectual property that are the subject of Sections 1 through 7 of Part II.”

[4] Vì lý do này, Đoạn thứ tám tuyên bố mở đầu của Hiệp định TRIPs nhắc tới một quan hệ tương hỗ giữa WTO và WIPO, cũng như có một số điều khoản trong Hiệp định TRIPs, ví dụ, Điều 63:2 và Điều 68, bao hàm một số nội dung được quy định và thực hiện trong khuôn khổ hợp tác với WIPO. Trên tinh thần này, WTO và WIPO đã ký kết một văn bản thỏa thuận nhằm phối hợp và hợp tác hành động vào ngày 22/12/1995, có hiệu lực từ ngày 01/01/1996 (Agreement between the World Intellectual Property Organization and the World Trade Organization done in Geneva on 22 December 1995 coming into force on 1 January 1996).

[5] Xem thêm: Daniel Gervais, The TRIPs Agreement: Drafting History and Analysis, Second Edition, Sweet & Maxwell, London, 2003, 3; Peter K. Yu, ‘Four Common Misconceptions about Copyright Law’, Loyola of Los Angeles International and Comparative Law Review 26, 2003, 127-150, 127.

[6] Nguyên văn Điều 64:1 Hiệp định TRIPs: “The provisions of Articles XXII and XXIII of GATT 1994 as elaborated and applied by the Dispute Settlement Understanding shall apply to consultations and the settlement of disputes under this Agreement except as otherwise specifically provided herein.”

[7] Các vấn đề liên quan đến con số 500 vụ tranh chấp giữa các thành viên WTO và kinh nghiệm của Việt Nam trong hoạt động giải quyết tranh chấp ở WTO xin xem thêm: Kiều Thị Thanh, ‘Tranh chấp giữa các thành viên sau 20 năm hoạt động của WTO và kinh nghiệm của Việt Nam’, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật Online ngày 23/06/2016.

[8] Xem thêm: Joost Pauwelyn, ‘The Dog That Barked But Didn’t Bite: 15 Years of Intellectual Property Disputes at the WTO’, Graduate Institute, University of Geneva, Geneva, 2010, 5-6, (www.ssrn.com).

[9] Xem thêm: Số chuyên đề về Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, 11/1995, Hà Nội, 213 - 214.

[10] Xem thêm: Accesion of Vietnam: Memorandum on the Foreign Trade Regime, tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/2, 24 September 1996.

[11] Xem thêm: Working Party on the Accession of Vietnam: Questions and Replies to the Memorandum on the Foreign Trade Regime, tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/3/Add.2, 20 August 1998, Question 535. Theo đó, các văn bản thuộc hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia giai đoạn 1995-1998 trình bày trước Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam bao gồm:

- Bộ luật Dân sự năm 1995 (Phần thứ sáu);

- Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu công nghiệp;

- Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Dân sự về quyền tác giả;

- Thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996;

- Thông tư số 23/TT-TCT ngày 09/05/1997 hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý phí, lệ phí sở hữu công nghiệp; và

- Thông tư số 166/1998/TT-BTC ngày 19/12/1998 hướng dẫn chế độ thu lệ phí đăng ký bản quyền tác giả.

[12] Xem thêm: Working Party on the Accession of Vietnam: Action Plan for the Implementation of the TRIPs Agreement, tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/12, 26 June 2000.

[13] Xem thêm: Accession to the WTO and the Intellectual Property System in Vietnam, World Bank Studies, World Bank, Washington D. C, 2002, 13.

[14] Cụ thể, các văn bản pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam theo yêu cầu của Hiệp định TRIPs trong giai đoạn 1999-2004 cơ thể kể đến ở đây là:

- Bộ luật Tố tụng dân sự 15/06/2004;

- Bộ luật Hình sự (sửa đổi) 21/12/1999;

- Luật Hải quan 29/06/2001;

- Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/03/1999 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

- Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp;

- Nghị định số 01/2001/NĐ-CP ngày 01/01/2001 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996;

- Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/04/2001 về bảo hộ giống cây trồng mới;

- Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26/06/2001 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa thông tin (bao gồm vi phạm quyền tác giả);

- Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-VKSNDTC-BVHTT ngày 05/12/2001 hướng dẫn một số thủ tục áp dụng trong việc xét xử tranh chấp dân sự về quyền tác giả tại Tòa án;

- Thông tư số 119/2001/TT-BNN ngày 21/12/2001 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/04/2001;

- Nghị định số 101/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan (bao gồm thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ);

- Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11/06/2002 về chế độ nhuận bút;

- Thông tư số 92/2002/TT-BTC ngày 18/10/2002 quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí thẩm định, cung cấp thông tin, dịch vụ và lệ phí đăng ký, cấp, công bố, duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ giống cây trồng mới;

- Nghị định số 42/2003/NĐ-CP ngày 02/05/2003 về bảo hộ thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn;

- Thông tư liên tịch số 58/2003/TTLT-BVHTT-BTC ngày 17/10/2003 hướng dẫn bảo hộ quyền tác giả tại cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Thông tư số 29/2003/TT-BKHCN ngày 05/11/2003 hướng dẫn thực hiện các thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp;

- Thông tư liên tịch 129/2004/TTLT/BTC-BKHCN ngày 29/12/2004 hướng dẫn thi hành các biện pháp kiểm soát biên giới về sở hữu công nghiệp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; và

- Thông tư số 132/TT-BTC ngày 30/12/2004 hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý phí, lệ phí sở hữu công nghiệp.

[15] Tương tự, trong giai đoạn thi hành chưa đầy đủ Hiệp định TRIPs 1999-2004, ngày 30/12/2004 Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 132/2004/TT-BTC, thay thế Thông tư số 23/TT-BTC ngày 09/05/1997 với quy định áp dụng các loại phí và lệ phí sở hữu công nghiệp cơ bản chưa đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nêu tại Điều 3 Hiệp định TRIPs trong lĩnh vực này. Quy định tại Thông tư 132/2004/TT-BTC đã đảm bảo điều này khi các loại phí và lệ phí sở hữu công nghiệp được quy định như nhau giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài.

[16] Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được ban hành, phù hợp với quy định tại Điều 29 Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1989, Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Thông tư số 03/NCPL ngày 22/07/1989 hướng dẫn xét xử một số tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp, tuy nhiên chưa có văn bản hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền tác giả trên cơ sở quy định tương tự thể hiện tại các Điều 44-45 Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả 1994.

[17] Xem thêm: Working Party on the Accession of Vietnam: Questions and Replies to the Memorandum on the Foreign Trade Regime, tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/9, 26 June 2000, Question 211.

[18] Xem thêm: Working Party on the Accession of Vietnam: Questions and Replies to the Memorandum on the Foreign Trade Regime với các câu hỏi và trả lời được đánh số 405, 205, 98, 165, 128, 153, 175 và 194 lần lượt tại các tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/6, 20 April 1999; WT/ACC/VNM/9, 26 June 2000; WT/ACC/VNM/16, 6 August 2001; WT/ACC/VNM/23, 6 March 2003; WT/ACC/VNM/29, 30 October 2003; WT/ACC/VNM/33, 13 October 2004; WT/ACC/VNM/39, 2 September 2005 và WT/ACC/VNM/44, 9 June 2006.

[19] Thể hiện vị trí trung tâm của quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ trong quan hệ giữa Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến sở hữu trí tuệ, Điều 5:2 Luật Sở hữu trí tuệ khẳng định rõ trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định về sở hữu trí tuệ của Luật Sở hữu trí tuệ với quy định của luật khác thì quy định của Luật Sở hữu trí tuệ được áp dụng.

[20] Nói về tiến trình soạn thảo, ban hành Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả Phạm Duy Nghĩa đã viết: “Dựa trên những cam kết quốc tế, người soạn luật sở hữu trí tuệ nước ta đang gắng du nhập thứ âm nhạc thính phòng xa xôi ấy vào xã hội nông dân Việt Nam.” Xem thêm: Phạm Duy Nghĩa, ‘Tản mạn về dự luật Sở hữu trí tuệ’, Tạp chí Tia Sáng online 24/11/2005; ‘Cần thay đổi cách nhìn về tài sản trí tuệ’, in chung trong cuốn Một góc nhìn của trí thức, Tập 4, Nhà xuất bản Trẻ & Tạp chí Tia Sáng, TP Hồ Chí Minh, 2005.

[21] Xem thêm: Report of the Working Party on the Accession of Vietnam, tài liệu WTO số WT/ACC/VNM/48, 27 October 2006, 95-118.

[22] Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ trong khoảng thời gian này bao gồm:

- Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

- Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền sở hữu công nghiệp.

- Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng.

- Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

- Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

- Quyết định số 69/2006/QĐ-BNN ngày 13/09/2006 ban hành quy định bảo mật dữ liệu thử nghiệm nông hóa phẩm.

- Quyết định số 30/2006/QĐ-BYT ngày 30/09/2006 hướng dẫn thi hành việc bảo mật dữ liệu của sản phẩm thuốc chữa bệnh nộp tại cơ quan y tế có thẩm quyền trước khi được lưu hành trên thị trường.

[23] Cho đến nay văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29/11/2005 và các điều khoản được sửa đổi bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ ngày 19/06/2009 tạo thành một hệ thống rất lớn, liên tục ra đời trong suốt thời gian từ đó đến nay (09/2016), gần đây nhất là Thông tư liên tịch số 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN ngày 08/06/2016 hướng dẫn trình tự, thủ tục thay đổi, thu hồi tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ. Do khuôn khổ có hạn của một bài viết, ở đây, chúng tôi chỉ xin dẫn đến một số website của các cơ quan chính phủ đăng tải rất đầy đủ các văn bản đó để thuận tiện cho bạn đọc có thể theo dõi, tìm kiếm và tham khảo như website của Chính phủ (www.chinhphu.vn) nội dung “Hệ thống văn bản”; website của Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ (www.noip.gov.vn) nội dung “Văn bản pháp quy”; website của Cục Bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (www.cov.gov.vn) nội dung “Văn bản pháp luật Việt Nam” và trang “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” trên website của Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.

Theo dõi chúng tôi trên: