Thứ năm 27/08/2026 02:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan hệ phối hợp trong công tác đấu tranh phòng ngừa tái phạm tội

Tóm tắt: Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tái phạm tội hiện nay đang ngày càng đa dạng, phức tạp, trong đó, phòng ngừa tái phạm tội là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả làm rõ quan hệ phối hợp trong đấu tranh phòng chống tái phạm tội đối với người chấp hành xong hình phạt tù trở về nơi cư trú, từ đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tái phạm tội.


Abstract: The work of prevention and fight against crime and crime re-committing has been today more and more persified and complicated, among them, prevention of crime re-committing is an important duty. This paper clearly makes the co-ordination relationship in prevention and fight against those who have served their sentence returning to residence, and from this, puts forward solutions for improving effect of preventing crime re-committing.

Những năm gần đây, dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế và mặt trái của kinh tế thị trường, tình hình hoạt động của tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp. Trong tình hình đó, đấu tranh phòng chống tội phạm và tái phạm tội sẽ càng đa dạng, phức tạp, khó khăn hơn. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Phòng ngừa các loại tội phạm có ý nghĩa hàng đầu, làm cơ sở nền tảng cho quá trình đấu tranh chống tội phạm, đồng thời là nhiệm vụ không thể thiếu đang được toàn xã hội quan tâm. Hiện nay, tình hình người chấp hành xong hình phạt tù trở về nơi cư trú tái phạm tội ngày càng gia tăng, chiếm tỷ lệ không nhỏ. Trong số đó, các loại tội phạm có tỷ lệ tái phạm cao như: Cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, mê tín dị đoan…; tỷ lệ tái phạm cao nhất tập trung ở lứa tuổi từ 18 đến 30 tuổi, người tái phạm tội ở lứa tuổi từ 40 trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng thường tỏ ra nguy hiểm hơn… Tình hình này đã và đang làm bức xúc dư luận xã hội và tác động nhiều mặt về an sinh xã hội.

1. Sự cần thiết phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù

Việc phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù là một hoạt động phối hợp bởi nhiều ngành, nhiều cấp, từng lực lượng, ban ngành, tùy theo chức năng của mình có những trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể. Mục tiêu hướng tới là không để cho người chấp hành xong án phạt tù có hành vi tái phạm tội, cảm hóa, giáo dục những người có án tích tại cộng đồng dân cư… giúp họ từ bỏ con đường phạm tội, trở thành con người lương thiện, cùng vun đắp trách nhiệm với xã hội.

Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội nói chung và các lực lượng khác nói riêng đã chủ động tham mưu cho chính quyền phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức đoàn thể và quần chúng cộng đồng dân cư làm tốt công tác phòng ngừa tái phạm tội, chủ động, kịp thời có kế hoạch, biện pháp phòng ngừa đối với từng loại đối tượng cụ thể và đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phối hợp giữa lực lượng này và các lực lượng khác còn nhiều bất cập trong thực thi nhiệm vụ, cụ thể như thông tin về đối tượng sau khi chấp hành bản án trở về địa phương chưa kịp thời phản ánh, đặc biệt là các đối tượng ở địa phương khác đến. Việc phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù những năm qua còn dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm, hoạt động phòng ngừa còn mang tính hành chính theo diện rộng. Khi xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương của các lực lượng chưa chặt chẽ, mang nặng tính hình thức và chưa gắn với việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật để giám sát, nắm bắt tình hình, di biến động và những biểu hiện của hoạt động của những người chấp hành xong án phạt tù chưa được xóa án tích để phòng ngừa, ngăn chặn tái phạm tội còn hạn chế, thiếu sót và có những lỗ hổng. Chưa phát huy hết được vai trò nòng cốt của các ngành, các tổ chức, đoàn thể xã hội và cộng đồng dân cư trong giáo dục cảm hóa đối tượng này. Các biện pháp giáo dục, cảm hóa, cải tạo những người có án tích, có quá khứ phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt về địa phương còn hạn chế, chưa đồng bộ, vẫn chủ yếu tập trung ở vai trò của lực lượng nòng cốt ở cơ sở. Nhận thức của một bộ phận quần chúng và một bộ phận thành viên trong các ban ngành, tổ chức, đoàn thể xã hội chưa đồng đều, còn định kiến, mặc cảm về quá khứ phạm tội của những người có án tích; coi công tác quản lý, giáo dục, cảm hóa những đối tượng này là việc của công an, của chính quyền và gia đình đối tượng tái phạm tội.

2. Những biện pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp

Để nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp trong thực hiện công tác phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt phạt tù, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như sau:

Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền cho các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, tập thể, cá nhân và mọi tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ, thống nhất việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án tái hòa nhập cộng đồng. Xây dựng ý thức trách nhiệm trong việc giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương về nhận thức xã hội, trách nhiệm của họ đối với bản thân và đối với xã hội, giúp họ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ý thức nghĩa vụ công dân khi tham gia vào cuộc sống xã hội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục để người chấp hành xong án nhận thức rõ chính sách của Nhà nước, sự chia sẻ, giúp đỡ của xã hội, cộng đồng… để họ trở lại là một công dân tốt.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, gia đình trong tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù. Phối hợp hiệu quả trong việc xây dựng cơ sở vật chất, lập quỹ hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ cho người chấp hành xong án phạt tù có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không nơi cư trú nhất định tái hòa nhập cộng đồng. Có biện pháp trợ giúp cả về vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho những người gặp khó khăn được vay vốn để sản xuất kinh doanh, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm, tự tin phấn đấu trở thành công dân tốt[1].

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội với lực lượng công an cơ sở, chính quyền, cơ quan, tổ chức xã hội… tham gia vào công tác quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù tại địa bàn cư trú.

Thứ tư, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng công an đóng vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, giúp đỡ và phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù ở địa bàn cơ sở như: Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề cho người chấp hành án phạt tù trong trại giam để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng; tiến hành tốt công tác nghiệp vụ để quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, chiến sĩ, bố trí hợp lý cán bộ trong tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù[2].

Thứ năm, cần xây dựng mô hình: “Vận động, giáo dục đối tượng tù tha về không tái phạm tội”[3]. Việc làm này cần có sự phối hợp của các lực lượng Công an cấp xã, phường chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh... trực tiếp đến gặp gỡ, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và tuyên truyền, giáo dục, động viên người chấp hành xong án phạt tù trong việc tự giác chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước, hạn chế ngăn ngừa tái phạm tội.

ThS. Nguyễn Đức Tâm

Tài liệu tham khảo:

[1]. Web: csnd.vn/.../Cong-tac-quan-ly-giao-duc-nguoi-chap-hanh-xong-an-... ngày 5/5/2015.

[2]. Vũ Văn Hòa (2012), “Tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

[3]. http://congankontum.gov.vn/hdccat/quy-an-ninh-trat-tu/53743-ket-qua-3-nam-thu, ngày 12/3/2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: