Thứ hai 20/04/2026 07:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan hệ phối hợp trong công tác đấu tranh phòng ngừa tái phạm tội

Tóm tắt: Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và tái phạm tội hiện nay đang ngày càng đa dạng, phức tạp, trong đó, phòng ngừa tái phạm tội là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả làm rõ quan hệ phối hợp trong đấu tranh phòng chống tái phạm tội đối với người chấp hành xong hình phạt tù trở về nơi cư trú, từ đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tái phạm tội.


Abstract: The work of prevention and fight against crime and crime re-committing has been today more and more persified and complicated, among them, prevention of crime re-committing is an important duty. This paper clearly makes the co-ordination relationship in prevention and fight against those who have served their sentence returning to residence, and from this, puts forward solutions for improving effect of preventing crime re-committing.

Những năm gần đây, dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế và mặt trái của kinh tế thị trường, tình hình hoạt động của tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng và có diễn biến phức tạp. Trong tình hình đó, đấu tranh phòng chống tội phạm và tái phạm tội sẽ càng đa dạng, phức tạp, khó khăn hơn. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. Phòng ngừa các loại tội phạm có ý nghĩa hàng đầu, làm cơ sở nền tảng cho quá trình đấu tranh chống tội phạm, đồng thời là nhiệm vụ không thể thiếu đang được toàn xã hội quan tâm. Hiện nay, tình hình người chấp hành xong hình phạt tù trở về nơi cư trú tái phạm tội ngày càng gia tăng, chiếm tỷ lệ không nhỏ. Trong số đó, các loại tội phạm có tỷ lệ tái phạm cao như: Cướp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, mê tín dị đoan…; tỷ lệ tái phạm cao nhất tập trung ở lứa tuổi từ 18 đến 30 tuổi, người tái phạm tội ở lứa tuổi từ 40 trở lên chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng thường tỏ ra nguy hiểm hơn… Tình hình này đã và đang làm bức xúc dư luận xã hội và tác động nhiều mặt về an sinh xã hội.

1. Sự cần thiết phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù

Việc phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù là một hoạt động phối hợp bởi nhiều ngành, nhiều cấp, từng lực lượng, ban ngành, tùy theo chức năng của mình có những trách nhiệm và nhiệm vụ cụ thể. Mục tiêu hướng tới là không để cho người chấp hành xong án phạt tù có hành vi tái phạm tội, cảm hóa, giáo dục những người có án tích tại cộng đồng dân cư… giúp họ từ bỏ con đường phạm tội, trở thành con người lương thiện, cùng vun đắp trách nhiệm với xã hội.

Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội nói chung và các lực lượng khác nói riêng đã chủ động tham mưu cho chính quyền phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức đoàn thể và quần chúng cộng đồng dân cư làm tốt công tác phòng ngừa tái phạm tội, chủ động, kịp thời có kế hoạch, biện pháp phòng ngừa đối với từng loại đối tượng cụ thể và đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phối hợp giữa lực lượng này và các lực lượng khác còn nhiều bất cập trong thực thi nhiệm vụ, cụ thể như thông tin về đối tượng sau khi chấp hành bản án trở về địa phương chưa kịp thời phản ánh, đặc biệt là các đối tượng ở địa phương khác đến. Việc phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù những năm qua còn dàn trải, chưa có trọng tâm, trọng điểm, hoạt động phòng ngừa còn mang tính hành chính theo diện rộng. Khi xây dựng và thực hiện các biện pháp phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương của các lực lượng chưa chặt chẽ, mang nặng tính hình thức và chưa gắn với việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật để giám sát, nắm bắt tình hình, di biến động và những biểu hiện của hoạt động của những người chấp hành xong án phạt tù chưa được xóa án tích để phòng ngừa, ngăn chặn tái phạm tội còn hạn chế, thiếu sót và có những lỗ hổng. Chưa phát huy hết được vai trò nòng cốt của các ngành, các tổ chức, đoàn thể xã hội và cộng đồng dân cư trong giáo dục cảm hóa đối tượng này. Các biện pháp giáo dục, cảm hóa, cải tạo những người có án tích, có quá khứ phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt về địa phương còn hạn chế, chưa đồng bộ, vẫn chủ yếu tập trung ở vai trò của lực lượng nòng cốt ở cơ sở. Nhận thức của một bộ phận quần chúng và một bộ phận thành viên trong các ban ngành, tổ chức, đoàn thể xã hội chưa đồng đều, còn định kiến, mặc cảm về quá khứ phạm tội của những người có án tích; coi công tác quản lý, giáo dục, cảm hóa những đối tượng này là việc của công an, của chính quyền và gia đình đối tượng tái phạm tội.

2. Những biện pháp nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp

Để nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp trong thực hiện công tác phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt phạt tù, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như sau:

Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền cho các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, tập thể, cá nhân và mọi tầng lớp nhân dân nhận thức đầy đủ, thống nhất việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án tái hòa nhập cộng đồng. Xây dựng ý thức trách nhiệm trong việc giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương về nhận thức xã hội, trách nhiệm của họ đối với bản thân và đối với xã hội, giúp họ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ý thức nghĩa vụ công dân khi tham gia vào cuộc sống xã hội. Đồng thời, tuyên truyền, giáo dục để người chấp hành xong án nhận thức rõ chính sách của Nhà nước, sự chia sẻ, giúp đỡ của xã hội, cộng đồng… để họ trở lại là một công dân tốt.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác phối hợp với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, gia đình trong tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù. Phối hợp hiệu quả trong việc xây dựng cơ sở vật chất, lập quỹ hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ cho người chấp hành xong án phạt tù có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không nơi cư trú nhất định tái hòa nhập cộng đồng. Có biện pháp trợ giúp cả về vật chất và tinh thần, tạo điều kiện cho những người gặp khó khăn được vay vốn để sản xuất kinh doanh, có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm, tự tin phấn đấu trở thành công dân tốt[1].

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội với lực lượng công an cơ sở, chính quyền, cơ quan, tổ chức xã hội… tham gia vào công tác quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù tại địa bàn cư trú.

Thứ tư, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng công an đóng vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, giúp đỡ và phòng ngừa tái phạm tội đối với người chấp hành xong án phạt tù ở địa bàn cơ sở như: Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề cho người chấp hành án phạt tù trong trại giam để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng; tiến hành tốt công tác nghiệp vụ để quản lý, giáo dục người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, chiến sĩ, bố trí hợp lý cán bộ trong tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù[2].

Thứ năm, cần xây dựng mô hình: “Vận động, giáo dục đối tượng tù tha về không tái phạm tội”[3]. Việc làm này cần có sự phối hợp của các lực lượng Công an cấp xã, phường chủ trì phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh... trực tiếp đến gặp gỡ, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng và tuyên truyền, giáo dục, động viên người chấp hành xong án phạt tù trong việc tự giác chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước, hạn chế ngăn ngừa tái phạm tội.

ThS. Nguyễn Đức Tâm

Tài liệu tham khảo:

[1]. Web: csnd.vn/.../Cong-tac-quan-ly-giao-duc-nguoi-chap-hanh-xong-an-... ngày 5/5/2015.

[2]. Vũ Văn Hòa (2012), “Tổ chức tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

[3]. http://congankontum.gov.vn/hdccat/quy-an-ninh-trat-tu/53743-ket-qua-3-nam-thu, ngày 12/3/2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: