Thứ ba 10/03/2026 11:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm của một số quốc gia

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể, song vẫn còn có những hạn chế nhất định. Trong bài viết này, tác giả trình bày về thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam và tham khảo bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới.

Abstract: Administration of state-owned enterprises is an important economic part of every nation. State-owned enterprise administration in Vietnam has achieved substantial progress in recent years, but still has certain insufficiencies. In this article, the author presents the real situation of state-owned enterprise administration of Vietnam and refers to experience from some nations in the world.

1. Doanh nghiệp nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước không phải là khái niệm chỉ xuất hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa mà tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, theo quan điểm của các nước, khái niệm doanh nghiệp nhà nước không giống nhau. Ví dụ, tiêu chí về quyền sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước là khác nhau, ở Úc là trên 50%, ở Tây Ban Nha là trên 50%, ở Italia là 25%, Malaysia là 20%, Hàn Quốc là 10%. Trong khi đó, theo Luật Công ty của Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần khống chế từ 35% trở lên.

Ở nước ta, quan điểm về doanh nghiệp nhà nước qua các thời kỳ cũng đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Đến Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”[1]. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định lại tỉ lệ vốn điều lệ khi xác định doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, “doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”[2].

Quản trị doanh nghiệp nhà nước về cơ bản không có gì khác biệt nhiều so với quản trị doanh nghiệp nói chung. Theo đó, quản trị doanh nghiệp nhà nước chính là quá trình điều hành, kiểm soát và tác động liên tục để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp nhà nước theo đúng quy định của pháp luật. Quản trị doanh nghiệp nhà nước là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của người chủ doanh nghiệp làm tập thể những người lao động trong doanh nghiệp “được tạo ra bởi Chính phủ để thực hiện các hoạt động thương mại thay mặt chính phủ”[3] sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội.

2. Quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.1. Quản trị chiến lược

Trong môi trường hội nhập với nhiều biến đổi, quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp nhà nước có thể nhanh chóng thích nghi với sự thay đổi để tồn tại và phát triển. Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đã thành lập các phòng nghiên cứu chiến lược, các bộ phận tham mưu chiến lược, cùng với sự tham gia hoạch định của nhiều cơ quan, bộ phận trong doanh nghiệp. Ví dụ, Tập đoàn Bảo Việt đã thành lập Ủy ban Chiến lược và Đầu tư trực thuộc Hội đồng quản trị, có chức năng hoạch định chiến lược phát triển, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược kinh doanh và đề xuất thay đổi về chiến lược kinh doanh của toàn tập đoàn… Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã xây dựng được những chiến lược tốt, chọn lựa những sản phẩm mà doanh nghiệp có thế mạnh, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường. Ví dụ tiêu biểu là việc xây dựng chiến lược ở Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quân đội (Viettel). Viettel đã tạo ra áp lực giảm giá đối với các hãng điện thoại, đưa điện thoại gần hơn với người dân và vươn xa hơn tới mọi miền tổ quốc. Sau khi thành công ở thị trường trong nước, Viettel chuyển hướng sang thị trường nước ngoài.

Bên cạnh những điểm tích cực, quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục, các chiến lược mới chủ yếu xác định mục tiêu, lĩnh vực kinh doanh, chứ chưa có sự phân tích sâu sắc những yếu tố nội tại của doanh nghiệp, cũng như dự báo các tác động bên ngoài để bảo đảm thành công. Các cấp lãnh đạo cần thay đổi tư duy dựa dẫm vào những ưu đãi mà Nhà nước dành cho thì mới thực sự cạnh tranh công bằng với những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

2.2. Quản trị nguồn nhân lực

Một trong những đòi hỏi quan trọng nhất để các doanh nghiệp nhà nước phát triển trong giai đoạn hội nhập là nhân lực có trình độ. Tuy nhiên, hiện nay, nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhà nước không chỉ thiếu mà đang bị dần mất đi do sức hút từ bộ phận doanh nghiệp ngoài nhà nước. Nếu xét theo loại hình kinh doanh, năm 2014, doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ lớn nhất với khoảng 96,4% giải quyết được 59,5% trong tổng số gần 12 triệu lao động. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm 0,8% tổng số lượng và tạo việc làm cho khoảng 11,9% lao động[4].

Công tác tuyển dụng được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, bao gồm những phương pháp và kỹ thuật khác nhau tùy lĩnh vực hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Việc tuyển dụng thường tiến hành dựa trên chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, để phục vụ và chuẩn bị cho chương trình phát triển điện hạt nhân của quốc gia đến năm 2020, Tập đoàn Điện lực đã tiến hành tuyển dụng, đào tạo nhân lực cho chiến lược phát triển mới này. Theo đó, hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với tập đoàn và các đơn vị liên quan tuyển sinh cán bộ, sinh viên đi đào tạo kỹ sư, thạc sỹ các chuyên ngành điện hạt nhân tại Đại học Nghiên cứu hạt nhân Quốc gia Nga. Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác này vẫn còn tồn tại những mặt chưa tích cực. Cụ thể, việc tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ ở một số doanh nghiệp nhà nước còn tùy tiện, thậm chí mang tính gia đình…, trong tổ chức quản lý, sử dụng nhân sự còn thiếu rõ ràng, công khai, minh bạch, cơ chế kiểm tra, giám sát chậm; việc kiểm tra nội bộ kém, thiếu cơ chế dân chủ trong công tác cán bộ.

Về đào tạo và phát triển, các doanh nghiệp nhà nước đều đưa ra nhiều giải pháp và hình thức đào tạo khác nhau theo hướng đẩy mạnh đào tạo ngành nghề theo mũi nhọn, ngành công nghệ cao có tính quyết định đến sản xuất, kinh doanh của mình. Ví dụ, tại Viettel, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên được đẩy mạnh ở các cấp, bằng nhiều hình thức, cả đào tạo ở trong nước và nước ngoài. Tập đoàn có chính sách hỗ trợ về tài chính để khuyến khích, động viên cán bộ, nhân viên tự học nâng cao trình độ, tay nghề.

Về chính sách đãi ngộ, hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước vẫn trả lương theo hệ thống thang, bảng lương và chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định. Ngoài lương cơ bản được tính theo hệ số, người lao động còn được hưởng lương kinh doanh. Tuy nhiên, chính sách đãi ngộ tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tồn tại một số vấn đề. Chính sách lương thưởng vẫn nặng tính bình quân chủ nghĩa, tiền lương còn cào bằng giữa lao động quản lý và nhân viên, giữa công việc phức tạp và đơn giản, chưa phản ánh đúng quan hệ công việc là nguyên nhân của hiện tượng chảy máu chất xám.

2.3. Quản trị chất lượng

Trước sức ép cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã tìm cách tổ chức việc quản trị chất lượng theo hướng tìm hiểu nhu cầu thị trường, tìm hiểu tâm lý khách hàng, tìm những phương thức thích hợp để quản lý chất lượng như TQM, ISO, HACCP, 5S… nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng đến đổi mới công nghệ và các giải pháp quan trọng khác liên quan trực tiếp đến đảm bảo chất lượng sản phẩm. Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đều triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000.

2.4. Quản trị tài chính

Về vấn đề huy động vốn, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp đã giúp cho các doanh nghiệp chủ động trong việc huy động vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cơ chế huy động và sử dụng vốn chưa phát huy được hết tính chủ động, sáng tạo của các công ty con. Việc phân cấp, phân quyền, nhất là quyền đầu tư, mua sắm, nhượng bán, cho thuê hoặc thế chấp, cầm cố tài sản để đi vay hoặc cho vay, cho nợ... vẫn chưa được thiết lập cụ thể từ thủ trưởng đơn vị quyết định thành lập cho đến Hội đồng thành viên và giám đốc các công ty con. Cơ chế điều hòa vốn trong toàn doanh nghiệp nhà nước chưa được xác định một cách rõ ràng, đầy đủ. Cơ chế hoạt động huy động vốn từ nội bộ còn ít, trong khi khả năng có thể huy động được nhiều hơn nữa cho sản xuất, kinh doanh, do thủ tục rườm rà, cứng nhắc, hạn mức cho vay thấp, không đảm bảo vốn cho các dự án đúng tiến độ, thời hạn thanh toán ngắn, đôi khi các khoản vay giữa các công ty không thực sự tự nguyện mà do sức ép của công ty mẹ.

Về phân phối và tái đầu tư, doanh nghiệp nhà nước gần như có toàn quyền trong các quyết định đầu tư mới của mình, song với tư cách là chủ đầu tư, vai trò và thể chế điều tiết liên quan đến các chính sách tài trợ, phân phối vẫn chưa rõ. Đối với việc chia sẻ lợi ích bên trong, doanh nghiệp nhà nước mới hướng vào sản xuất, kinh doanh mà chưa chú trọng xây dựng cơ chế rõ ràng về chia sẻ lợi ích từ kết quả và lợi nhuận phát sinh từ liên kết trong doanh nghiệp nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty và các công ty theo mô hình công ty mẹ - con, vì vậy, báo cáo tài chính hợp nhất có ý nghĩa hết sức quan trọng, song hiện nay còn nhiều thiếu sót, việc loại trừ các giao dịch nội bộ thể hiện qua các khoản công nợ, doanh thu, chi phí, lãi lỗ chưa triệt để nên báo cáo tài chính hợp nhất không chính xác, không thể hiện một cách trung thực thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho một số đối tượng liên quan như các nhà đầu tư, các tổ chức ngân hàng, tín dụng, chứng khoán… khi đánh giá và đưa ra quyết định chính xác.

3. Tham khảo bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc[5]

Doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc là thành phần kinh tế quan trọng, chủ đạo của nền kinh tế Trung quốc. Về quản trị tài chính, Chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện để da dạng hóa hơn các hình thức huy động vốn cho các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cấu trúc nhằm giải quyết vấn đề vốn và giảm sự phụ thuộc vào các ngân hàng nhà nước, tập trung đẩy mạnh cổ phần hóa và khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước nhanh chóng tiến hành niêm yết cổ phiếu của mình trên sàn chứng khoán ở cả trong nước và ngoài nước nhằm tăng cường thu hút vốn. Ngoài ra, Trung Quốc đã tiến hành xác định những ngành nghề không cần có sự tham gia của Nhà nước và thực hiện thoái vốn thông qua một số hình thức như chào bán, đấu giá, đấu thầu công khai.

Về cấu trúc quản trị doanh nghiệp, quá trình cải cách, đổi mới cơ cấu quản trị doanh nghiệp là một trong ba trọng tâm của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc. Một là, hội đồng quản trị có vai trò giám sát nội bộ chấp hành nghị quyết của Đại hội cổ đông, phụ trách xây dựng phương án, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Hai là, sử dụng chế độ quản trị bên ngoài chuyên trách trong quá trình xây dựng hội đồng quản trị cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các thành viên bên ngoài này do Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước tuyển chọn. Ba là, các doanh nghiệp tăng cường công khai, minh bạch của các hoạt động thông qua hội đồng giám sát.

Về tái cấu trúc nguồn nhân lực, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hơn 10 bộ văn bản pháp quy liên quan đến lao động để hỗ trợ cho quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, các bộ luật chú trọng và đi sâu vào đầu ra của chi phí nguồn nhân lực, hướng đến hiệu quả và thưởng phạt rõ ràng, loại bỏ chế độ kế hoạch hóa trong sử dụng lao động. Các doanh nghiệp nhà nước đã có được một tỷ trọng đáng kể đội ngũ cán bộ có thể nắm bắt được các kỹ năng quản lý hiện đại. Về giải quyết vấn đề lao động dôi dư trong quá trình tái cấu trúc, Trung Quốc đã áp dụng rất nhiều biện pháp như: Bán bớt tài sản, bổ sung nguồn bồi thường đối với các lao động nghỉ việc hoặc lưu chuyển, biến những người lao động của mình trở thành những cổ đông của công ty.

Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc đối với các nền kinh tế chuyển đổi là kinh tế nhà nước phải chiếm vị trí chi phối đối với những ngành nghề quan trọng hoặc lĩnh vực then chốt có liên quan đến nền kinh tế quốc dân, giảm bớt tỷ trọng kinh tế nhà nước nhưng vẫn đảm bảo chi phối của kinh tế nhà nước.

3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc[6]

Quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước của Hàn Quốc được thực hiện theo mô hình ba cấp: Ở cấp độ doanh nghiệp, Chính phủ thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạn chế mâu thuẫn trong đại diện và phát huy tối đa tính sáng tạo, chủ động trong kinh doanh. Nhà nước thực hiện tư nhân dần dần theo quá trình tái cơ cấu liên tục để đảm bảo tính chắc chắn trong hiệu quả của quá trình cải cách. Ở cấp ngành, Chính phủ khuyến khích phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh nhằm hạn chế tính tổ chức và độc quyền tự nhiên của các doanh nghiệp nhà nước. Ở cấp độ quốc gia, Hàn Quốc thực thi và tăng tính hiệu quả của các áp lực thị trường, sở hữu tư nhân, giải quyết bài toán khủng hoảng kinh tế vĩ mô, vấn đề chất lượng của các thể chế hỗ trợ thị trường.

Bài học kinh nghiệm về cải cách doanh nghiệp nhà nước tại Hàn Quốc được rút ra là: (i) Phải giảm thiểu sự can thiệp chính trị, đặc biệt là trong các quyết định về giá cả và nhân sự; (ii) Xác định các mục tiêu của doanh nghiệp thông qua các chỉ số kết quả hoạt động; (iii) Tăng quyền tự chủ quản lý để đạt được các mục tiêu này; (iv) Đánh giá hiệu quả quản lý; (v) Chế độ lương thưởng phải gắn với kết quả hoạt động. Việc hạn chế đến mức tối thiểu sự ảnh hưởng của Nhà nước tới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc cổ phần hóa tài sản doanh nghiệp cho tư nhân sẽ làm thay đổi toàn bộ cơ cấu tổ chức và hệ tư tưởng của cả doanh nghiệp.

3.3. Kinh nghiệm của Singapore[7]

Về cơ cấu tổ chức, theo quy định của Đạo luật Công ty Singapore, doanh nghiệp nhà nước tại Singapore có thể tồn tại dưới 2 hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên trong đó Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất nắm 100% vốn điều lệ hoặc công ty cổ phần trong đó Nhà nước sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên với 100% vốn điều lệ của Nhà nước, chủ sở hữu Nhà nước là cơ quan quyền lực cao nhất. Đại diện sở hữu nhà nước là Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước. Đối với công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, thì các cổ đông gộp với nhau tạo thành Đại hội đồng cổ đông (ít nhất 3 cổ đông). Đại hội đồng cổ đông tiến hành bầu ra Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị tiến hành bầu ra Ban giám đốc/Tổng giám đốc và các phòng ban.

Về quản trị tài chính, các doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính quan trọng về doanh nghiệp phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao được quốc tế công nhận trong công ty, bao gồm cả các lĩnh vực đang được chú trọng cho Nhà nước như là một chủ sở hữu và công chúng. Điều này bao gồm trong các hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện vì lợi ích công cộng. Các báo cáo tài chính hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước phải được kiểm toán độc lập dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng cao và các thủ tục kiểm soát cụ thể của Nhà nước không thay thế cho một cuộc kiểm toán độc lập.

Tóm lại, đổi mới quản trị để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là một vấn đề có tính thời sự cấp bách, có ý nghĩa lý luận lâu dài đối với việc đổi mới, phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập hiện nay. Từ bài học đổi mới của các quốc gia phát triển trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam vừa phải nâng cao, giữ vững được vai trò chủ đạo của mình vừa tạo ra động lực để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, góp phần tạo nên sự tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế, thực hiện được các mục tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đề ra.

Lê Quốc Khanh





[1]. Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

[2]. Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3]. Boundless, 2013, Government Cooperations. https://www.boundless.com/political-science/bureaucracy/the-organization-ofbureaucracy/government-corporations/.

[4]. Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2017.

[5]. Dương Hoàng Oanh, 2002, Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc từ 1978 đến nay, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội.

[6]. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2002), Cải cách doanh nghiệp nhà nước - Tình hình ở Việt Nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới, Hà Nội.

[7]. Christopher Chen (2016), Solving the Puzzle of Corporate Governance of State-Owned Enterprises: The Path of the Temasek Model in Singapore and Lessons for China, Northwestern Journal of International Law & Business.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: