Thứ bảy 06/12/2025 07:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm của một số quốc gia

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, hoạt động quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có sự tiến bộ đáng kể, song vẫn còn có những hạn chế nhất định. Trong bài viết này, tác giả trình bày về thực trạng quản trị doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam và tham khảo bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới.

Abstract: Administration of state-owned enterprises is an important economic part of every nation. State-owned enterprise administration in Vietnam has achieved substantial progress in recent years, but still has certain insufficiencies. In this article, the author presents the real situation of state-owned enterprise administration of Vietnam and refers to experience from some nations in the world.

1. Doanh nghiệp nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước không phải là khái niệm chỉ xuất hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa mà tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, theo quan điểm của các nước, khái niệm doanh nghiệp nhà nước không giống nhau. Ví dụ, tiêu chí về quyền sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước là khác nhau, ở Úc là trên 50%, ở Tây Ban Nha là trên 50%, ở Italia là 25%, Malaysia là 20%, Hàn Quốc là 10%. Trong khi đó, theo Luật Công ty của Trung Quốc, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần khống chế từ 35% trở lên.

Ở nước ta, quan điểm về doanh nghiệp nhà nước qua các thời kỳ cũng đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Đến Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”[1]. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định lại tỉ lệ vốn điều lệ khi xác định doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, “doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”[2].

Quản trị doanh nghiệp nhà nước về cơ bản không có gì khác biệt nhiều so với quản trị doanh nghiệp nói chung. Theo đó, quản trị doanh nghiệp nhà nước chính là quá trình điều hành, kiểm soát và tác động liên tục để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp nhà nước theo đúng quy định của pháp luật. Quản trị doanh nghiệp nhà nước là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của người chủ doanh nghiệp làm tập thể những người lao động trong doanh nghiệp “được tạo ra bởi Chính phủ để thực hiện các hoạt động thương mại thay mặt chính phủ”[3] sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội.

2. Quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.1. Quản trị chiến lược

Trong môi trường hội nhập với nhiều biến đổi, quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp nhà nước có thể nhanh chóng thích nghi với sự thay đổi để tồn tại và phát triển. Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đã thành lập các phòng nghiên cứu chiến lược, các bộ phận tham mưu chiến lược, cùng với sự tham gia hoạch định của nhiều cơ quan, bộ phận trong doanh nghiệp. Ví dụ, Tập đoàn Bảo Việt đã thành lập Ủy ban Chiến lược và Đầu tư trực thuộc Hội đồng quản trị, có chức năng hoạch định chiến lược phát triển, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược kinh doanh và đề xuất thay đổi về chiến lược kinh doanh của toàn tập đoàn… Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã xây dựng được những chiến lược tốt, chọn lựa những sản phẩm mà doanh nghiệp có thế mạnh, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường. Ví dụ tiêu biểu là việc xây dựng chiến lược ở Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quân đội (Viettel). Viettel đã tạo ra áp lực giảm giá đối với các hãng điện thoại, đưa điện thoại gần hơn với người dân và vươn xa hơn tới mọi miền tổ quốc. Sau khi thành công ở thị trường trong nước, Viettel chuyển hướng sang thị trường nước ngoài.

Bên cạnh những điểm tích cực, quản trị chiến lược tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục, các chiến lược mới chủ yếu xác định mục tiêu, lĩnh vực kinh doanh, chứ chưa có sự phân tích sâu sắc những yếu tố nội tại của doanh nghiệp, cũng như dự báo các tác động bên ngoài để bảo đảm thành công. Các cấp lãnh đạo cần thay đổi tư duy dựa dẫm vào những ưu đãi mà Nhà nước dành cho thì mới thực sự cạnh tranh công bằng với những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác.

2.2. Quản trị nguồn nhân lực

Một trong những đòi hỏi quan trọng nhất để các doanh nghiệp nhà nước phát triển trong giai đoạn hội nhập là nhân lực có trình độ. Tuy nhiên, hiện nay, nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp nhà nước không chỉ thiếu mà đang bị dần mất đi do sức hút từ bộ phận doanh nghiệp ngoài nhà nước. Nếu xét theo loại hình kinh doanh, năm 2014, doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ lệ lớn nhất với khoảng 96,4% giải quyết được 59,5% trong tổng số gần 12 triệu lao động. Các doanh nghiệp nhà nước chiếm 0,8% tổng số lượng và tạo việc làm cho khoảng 11,9% lao động[4].

Công tác tuyển dụng được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, bao gồm những phương pháp và kỹ thuật khác nhau tùy lĩnh vực hoạt động của mỗi doanh nghiệp. Việc tuyển dụng thường tiến hành dựa trên chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ, để phục vụ và chuẩn bị cho chương trình phát triển điện hạt nhân của quốc gia đến năm 2020, Tập đoàn Điện lực đã tiến hành tuyển dụng, đào tạo nhân lực cho chiến lược phát triển mới này. Theo đó, hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với tập đoàn và các đơn vị liên quan tuyển sinh cán bộ, sinh viên đi đào tạo kỹ sư, thạc sỹ các chuyên ngành điện hạt nhân tại Đại học Nghiên cứu hạt nhân Quốc gia Nga. Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác này vẫn còn tồn tại những mặt chưa tích cực. Cụ thể, việc tuyển chọn, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ ở một số doanh nghiệp nhà nước còn tùy tiện, thậm chí mang tính gia đình…, trong tổ chức quản lý, sử dụng nhân sự còn thiếu rõ ràng, công khai, minh bạch, cơ chế kiểm tra, giám sát chậm; việc kiểm tra nội bộ kém, thiếu cơ chế dân chủ trong công tác cán bộ.

Về đào tạo và phát triển, các doanh nghiệp nhà nước đều đưa ra nhiều giải pháp và hình thức đào tạo khác nhau theo hướng đẩy mạnh đào tạo ngành nghề theo mũi nhọn, ngành công nghệ cao có tính quyết định đến sản xuất, kinh doanh của mình. Ví dụ, tại Viettel, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên được đẩy mạnh ở các cấp, bằng nhiều hình thức, cả đào tạo ở trong nước và nước ngoài. Tập đoàn có chính sách hỗ trợ về tài chính để khuyến khích, động viên cán bộ, nhân viên tự học nâng cao trình độ, tay nghề.

Về chính sách đãi ngộ, hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước vẫn trả lương theo hệ thống thang, bảng lương và chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định. Ngoài lương cơ bản được tính theo hệ số, người lao động còn được hưởng lương kinh doanh. Tuy nhiên, chính sách đãi ngộ tại các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tồn tại một số vấn đề. Chính sách lương thưởng vẫn nặng tính bình quân chủ nghĩa, tiền lương còn cào bằng giữa lao động quản lý và nhân viên, giữa công việc phức tạp và đơn giản, chưa phản ánh đúng quan hệ công việc là nguyên nhân của hiện tượng chảy máu chất xám.

2.3. Quản trị chất lượng

Trước sức ép cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã tìm cách tổ chức việc quản trị chất lượng theo hướng tìm hiểu nhu cầu thị trường, tìm hiểu tâm lý khách hàng, tìm những phương thức thích hợp để quản lý chất lượng như TQM, ISO, HACCP, 5S… nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chú trọng đến đổi mới công nghệ và các giải pháp quan trọng khác liên quan trực tiếp đến đảm bảo chất lượng sản phẩm. Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đều triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000.

2.4. Quản trị tài chính

Về vấn đề huy động vốn, Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp đã giúp cho các doanh nghiệp chủ động trong việc huy động vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cơ chế huy động và sử dụng vốn chưa phát huy được hết tính chủ động, sáng tạo của các công ty con. Việc phân cấp, phân quyền, nhất là quyền đầu tư, mua sắm, nhượng bán, cho thuê hoặc thế chấp, cầm cố tài sản để đi vay hoặc cho vay, cho nợ... vẫn chưa được thiết lập cụ thể từ thủ trưởng đơn vị quyết định thành lập cho đến Hội đồng thành viên và giám đốc các công ty con. Cơ chế điều hòa vốn trong toàn doanh nghiệp nhà nước chưa được xác định một cách rõ ràng, đầy đủ. Cơ chế hoạt động huy động vốn từ nội bộ còn ít, trong khi khả năng có thể huy động được nhiều hơn nữa cho sản xuất, kinh doanh, do thủ tục rườm rà, cứng nhắc, hạn mức cho vay thấp, không đảm bảo vốn cho các dự án đúng tiến độ, thời hạn thanh toán ngắn, đôi khi các khoản vay giữa các công ty không thực sự tự nguyện mà do sức ép của công ty mẹ.

Về phân phối và tái đầu tư, doanh nghiệp nhà nước gần như có toàn quyền trong các quyết định đầu tư mới của mình, song với tư cách là chủ đầu tư, vai trò và thể chế điều tiết liên quan đến các chính sách tài trợ, phân phối vẫn chưa rõ. Đối với việc chia sẻ lợi ích bên trong, doanh nghiệp nhà nước mới hướng vào sản xuất, kinh doanh mà chưa chú trọng xây dựng cơ chế rõ ràng về chia sẻ lợi ích từ kết quả và lợi nhuận phát sinh từ liên kết trong doanh nghiệp nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là các tập đoàn, tổng công ty và các công ty theo mô hình công ty mẹ - con, vì vậy, báo cáo tài chính hợp nhất có ý nghĩa hết sức quan trọng, song hiện nay còn nhiều thiếu sót, việc loại trừ các giao dịch nội bộ thể hiện qua các khoản công nợ, doanh thu, chi phí, lãi lỗ chưa triệt để nên báo cáo tài chính hợp nhất không chính xác, không thể hiện một cách trung thực thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho một số đối tượng liên quan như các nhà đầu tư, các tổ chức ngân hàng, tín dụng, chứng khoán… khi đánh giá và đưa ra quyết định chính xác.

3. Tham khảo bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc[5]

Doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc là thành phần kinh tế quan trọng, chủ đạo của nền kinh tế Trung quốc. Về quản trị tài chính, Chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện để da dạng hóa hơn các hình thức huy động vốn cho các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình tái cấu trúc nhằm giải quyết vấn đề vốn và giảm sự phụ thuộc vào các ngân hàng nhà nước, tập trung đẩy mạnh cổ phần hóa và khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước nhanh chóng tiến hành niêm yết cổ phiếu của mình trên sàn chứng khoán ở cả trong nước và ngoài nước nhằm tăng cường thu hút vốn. Ngoài ra, Trung Quốc đã tiến hành xác định những ngành nghề không cần có sự tham gia của Nhà nước và thực hiện thoái vốn thông qua một số hình thức như chào bán, đấu giá, đấu thầu công khai.

Về cấu trúc quản trị doanh nghiệp, quá trình cải cách, đổi mới cơ cấu quản trị doanh nghiệp là một trong ba trọng tâm của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc. Một là, hội đồng quản trị có vai trò giám sát nội bộ chấp hành nghị quyết của Đại hội cổ đông, phụ trách xây dựng phương án, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Hai là, sử dụng chế độ quản trị bên ngoài chuyên trách trong quá trình xây dựng hội đồng quản trị cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các thành viên bên ngoài này do Ủy ban Quản lý và Giám sát tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước tuyển chọn. Ba là, các doanh nghiệp tăng cường công khai, minh bạch của các hoạt động thông qua hội đồng giám sát.

Về tái cấu trúc nguồn nhân lực, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hơn 10 bộ văn bản pháp quy liên quan đến lao động để hỗ trợ cho quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, các bộ luật chú trọng và đi sâu vào đầu ra của chi phí nguồn nhân lực, hướng đến hiệu quả và thưởng phạt rõ ràng, loại bỏ chế độ kế hoạch hóa trong sử dụng lao động. Các doanh nghiệp nhà nước đã có được một tỷ trọng đáng kể đội ngũ cán bộ có thể nắm bắt được các kỹ năng quản lý hiện đại. Về giải quyết vấn đề lao động dôi dư trong quá trình tái cấu trúc, Trung Quốc đã áp dụng rất nhiều biện pháp như: Bán bớt tài sản, bổ sung nguồn bồi thường đối với các lao động nghỉ việc hoặc lưu chuyển, biến những người lao động của mình trở thành những cổ đông của công ty.

Bài học kinh nghiệm của Trung Quốc đối với các nền kinh tế chuyển đổi là kinh tế nhà nước phải chiếm vị trí chi phối đối với những ngành nghề quan trọng hoặc lĩnh vực then chốt có liên quan đến nền kinh tế quốc dân, giảm bớt tỷ trọng kinh tế nhà nước nhưng vẫn đảm bảo chi phối của kinh tế nhà nước.

3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc[6]

Quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước của Hàn Quốc được thực hiện theo mô hình ba cấp: Ở cấp độ doanh nghiệp, Chính phủ thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạn chế mâu thuẫn trong đại diện và phát huy tối đa tính sáng tạo, chủ động trong kinh doanh. Nhà nước thực hiện tư nhân dần dần theo quá trình tái cơ cấu liên tục để đảm bảo tính chắc chắn trong hiệu quả của quá trình cải cách. Ở cấp ngành, Chính phủ khuyến khích phát triển môi trường kinh doanh cạnh tranh nhằm hạn chế tính tổ chức và độc quyền tự nhiên của các doanh nghiệp nhà nước. Ở cấp độ quốc gia, Hàn Quốc thực thi và tăng tính hiệu quả của các áp lực thị trường, sở hữu tư nhân, giải quyết bài toán khủng hoảng kinh tế vĩ mô, vấn đề chất lượng của các thể chế hỗ trợ thị trường.

Bài học kinh nghiệm về cải cách doanh nghiệp nhà nước tại Hàn Quốc được rút ra là: (i) Phải giảm thiểu sự can thiệp chính trị, đặc biệt là trong các quyết định về giá cả và nhân sự; (ii) Xác định các mục tiêu của doanh nghiệp thông qua các chỉ số kết quả hoạt động; (iii) Tăng quyền tự chủ quản lý để đạt được các mục tiêu này; (iv) Đánh giá hiệu quả quản lý; (v) Chế độ lương thưởng phải gắn với kết quả hoạt động. Việc hạn chế đến mức tối thiểu sự ảnh hưởng của Nhà nước tới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thông qua việc cổ phần hóa tài sản doanh nghiệp cho tư nhân sẽ làm thay đổi toàn bộ cơ cấu tổ chức và hệ tư tưởng của cả doanh nghiệp.

3.3. Kinh nghiệm của Singapore[7]

Về cơ cấu tổ chức, theo quy định của Đạo luật Công ty Singapore, doanh nghiệp nhà nước tại Singapore có thể tồn tại dưới 2 hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên trong đó Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất nắm 100% vốn điều lệ hoặc công ty cổ phần trong đó Nhà nước sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên với 100% vốn điều lệ của Nhà nước, chủ sở hữu Nhà nước là cơ quan quyền lực cao nhất. Đại diện sở hữu nhà nước là Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước. Đối với công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, thì các cổ đông gộp với nhau tạo thành Đại hội đồng cổ đông (ít nhất 3 cổ đông). Đại hội đồng cổ đông tiến hành bầu ra Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị tiến hành bầu ra Ban giám đốc/Tổng giám đốc và các phòng ban.

Về quản trị tài chính, các doanh nghiệp nhà nước phải báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính quan trọng về doanh nghiệp phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng cao được quốc tế công nhận trong công ty, bao gồm cả các lĩnh vực đang được chú trọng cho Nhà nước như là một chủ sở hữu và công chúng. Điều này bao gồm trong các hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện vì lợi ích công cộng. Các báo cáo tài chính hàng năm của các doanh nghiệp nhà nước phải được kiểm toán độc lập dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng cao và các thủ tục kiểm soát cụ thể của Nhà nước không thay thế cho một cuộc kiểm toán độc lập.

Tóm lại, đổi mới quản trị để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng là một vấn đề có tính thời sự cấp bách, có ý nghĩa lý luận lâu dài đối với việc đổi mới, phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập hiện nay. Từ bài học đổi mới của các quốc gia phát triển trên thế giới, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam vừa phải nâng cao, giữ vững được vai trò chủ đạo của mình vừa tạo ra động lực để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, góp phần tạo nên sự tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế, thực hiện được các mục tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đề ra.

Lê Quốc Khanh





[1]. Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

[2]. Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[3]. Boundless, 2013, Government Cooperations. https://www.boundless.com/political-science/bureaucracy/the-organization-ofbureaucracy/government-corporations/.

[4]. Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2017.

[5]. Dương Hoàng Oanh, 2002, Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc từ 1978 đến nay, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội.

[6]. Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2002), Cải cách doanh nghiệp nhà nước - Tình hình ở Việt Nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới, Hà Nội.

[7]. Christopher Chen (2016), Solving the Puzzle of Corporate Governance of State-Owned Enterprises: The Path of the Temasek Model in Singapore and Lessons for China, Northwestern Journal of International Law & Business.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: