Chủ nhật 11/10/2026 06:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản trị nội bộ công ty luật hợp danh – Góc nhìn từ thực tiễn

Tóm tắt: Một mô hình quản trị công ty luật hợp danh tốt cần được tạo bởi những thành tố tác động, được thiết kế trên cơ sở hệ thống các cơ quan và sự giám sát nhằm hướng tới mục tiêu phát triển của công ty cũng như của các thành viên công ty. Bởi công ty luật hợp danh không chỉ đơn thuần là một loại hình công ty thương mại thuần túy, mà nó còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ đặc biệt cho người tiêu dùng và xã hội. Tuy nhiên, thực tế vấn đề quản trị công ty luật hợp danh vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về quản trị công ty luật hợp danh là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.


Abstract: Model of good administration of legal partnership should be established by impacting factors, designed on the basis of the system of these organizations and the supervision directed towards the development of the company as well as company members. Because legal partnership is not merely a form of pure commercial company, it also provides special service products for consumers and the society. In the practice, however, administration of legal partnership still shows given limitations. Therefore, further study of the administration of legal partnership is an urgent need in the present.

1. Nhận diện về quản trị công ty luật hợp danh

Quản trị nội bộ công ty luật hợp danh được nhận diện bởi các dấu hiệu chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chủ thể quản trị là các luật sư. Chỉ những người là luật sư mới được tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Người muốn trở thành luật sư phải là những người có bằng cử nhân luật, đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, năng lực, phẩm chất theo quy định của pháp luật. Họ cần phải trải qua thời gian đào tạo nghiệp vụ luật sư với thời gian 12 tháng[1]. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư[2]. Các chủ thể này chính là các tác nhân tạo ra tác động quản trị. Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động từ các chủ thể là luật sư trong công ty luật. Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần, ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của công ty luật. Bản chất của quản trị công ty luật hợp danh thể hiện ở chính mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể (các luật sư) tạo ra các tác động. Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị được thực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động.

Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Thành viên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty; trung thành với lợi ích của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác...

Thứ hai, cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai thành viên (các luật sư) đồng thuận thành lập[3]. Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này[4]. Công ty luật hợp danh đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Giám đốc công ty luật là thành viên. Cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty luật hợp danh bao gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc[5]. Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty luật hợp danh chịu sự tác động của thành tố chính trong hoạt động quản trị, đó là Hội đồng thành viên và người quản lý công ty. Trong hoạt động quản trị công ty luật hợp danh thì yếu tố bình đẳng giữa các thành viên (luật sư) được coi trọng và là nền tảng của quản trị công ty. Sự bình đẳng này được coi là một đặc trưng rất rõ ràng của công ty hợp danh được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như: Bình đẳng trong quản lý, điều hành; bình đẳng trong phân chia quyền lực hay chịu rủi ro có thể không phân biệt và phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp vào công ty. Công ty luật hợp danh được hoạt động theo những nguyên tắc chung quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Bên cạnh đó, với tư cách là một tổ chức hành nghề luật sư, do đó, công ty luật hợp danh được tổ chức, quản lý và hoạt động theo những quy chế riêng.

Cơ cấu tổ chức, điều hành công ty luật hợp danh bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc). Đối với cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), Ban kiểm soát/Kiểm soát viên. Trong đó, Hội đồng thành viên do tất cả thành viên (luật sư) hợp lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất6. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả hoạt động kinh doanh của công ty. Nếu Điều lệ công ty không quy định thì các vấn đề như: Phương hướng phát triển công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới... phải được ít nhất 3/4 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận[7].

Giám đốc công ty (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Các luật sư thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty. Người giữ các chức vụ quản lý sẽ được hưởng thù lao từ việc thực hiện chức năng quản lý. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện quyền trong kiểm soát công ty, kiểm soát các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch lớn có nguy cơ phát sinh tư lợi thì mỗi thành viên công ty hợp danh đều có quyền góp ý và kiểm soát việc quản lý công ty. Về điểm này, khác với Văn phòng luật sư. Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập do đó việc tổ chức, quản lý văn phòng do Trưởng văn phòng quyết định (Văn phòng luật sư hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân). Đối với công ty luật trách nhiệm hai thành viên trở lên, việc quản trị sẽ phức tạp hơn vì những lý do chủ yếu sau: (i) Tính đồng thuận, thống nhất ý chí bị hạn chế do công ty có sự tham gia của nhiều người (các luật sư); (ii) Với tư cách là thành viên của công ty, các luật sư đều có quyền cơ bản liên quan tới tổ chức, quản lý công ty như: Được tiếp cận các thông tin về tình hình tài chính, được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính... Đối với Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư làm chủ sở hữu có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty[8].



Bên cạnh đó, cơ chế đại diện của công ty luật cũng được thực hiện qua tư cách của các luật sư. Các luật sư đều có quyền và trở thành người đại diện cho công ty trước pháp luật. Các thành viên phân công đảm nhiệm các chức danh quản lý, điều hành công ty tùy thuộc vào khả năng của từng người. Các quyết định của công ty phải được tất cả các luật sư thành viên nhất trí, mỗi người đều có quyền phủ quyết. Mỗi thành viên đều có quyền đại diện cho công ty. Họ có thể lựa chọn ra người quản lý công ty.

Thứ ba, cơ chế phân chia quyền lực. Sự phân chia quyền lực trong tổ chức, điều hành công ty luật hợp danh xuất phát từ bản chất mang tính đối nhân của công ty. Quyền lực trong hệ thống công ty được xác lập trên cơ sở tư cách pháp lý của thành viên, tỷ lệ vốn góp hay tuân thủ sự thỏa thuận, thống nhất giữa các luật sư thành viên hợp danh. Trong công ty luật hợp danh, các luật sư thành viên hợp danh không chỉ tham gia với tư cách là thành viên hợp danh - chủ sở hữu công ty mà bản thân họ còn mang tư cách là các luật sư sẽ bình đẳng với nhau trong quá trình hành nghề luật sư. Các luật sư trong công ty luật có thể thống nhất phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty. Điều đó thể hiện tính liên kết và chia sẻ rủi ro trong công ty được xác lập và đảm bảo không phải duy nhất vào tỷ lệ vốn góp mà gắn kết trên cơ sở niềm tin, danh dự và phẩm giá của luật sư. Nói cách khác, các luật sư cùng trên một thuyền, vì vậy có lẽ đây là yếu tố gắn kết mang tính bền vững trong công ty luật. Đây là điểm khác biệt với việc phân chia quyền lực trong Văn pòng luật sư hay công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Đối với văn phòng luật sư thì Trưởng Văn phòng là người đại diện và là người chịu trách nhiệm về mọi họat động của Văn phòng luật sư. Trong công ty luật trách nhiệm hữu hạn cơ chế phân chia quyền lực có thể được xác lập theo một số tiêu chí: (i) Loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu hay nhiều chủ sở hữu; (ii) Tỷ lệ vốn góp của thành viên vào công ty.

Thứ tư, nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quá trình quản trị. Nguồn lực đảm bảo công ty luật vận hành hiệu quả bao gồm nhiều vấn đề khác nhau, trong đó đặc biệt là các nguồn lực từ các luật sư - thành viên hợp danh công ty. Sự tham gia của luật sư trong các vụ việc, vụ án góp phần tạo nên nguồn tài sản đảm bảo cho công ty tồn tại và phát triển bền vững. Trong những năm gần đây, đội ngũ luật sư đã đảm nhận 100% việc bào chữa trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, tỷ lệ các vụ án hình sự có sự tham gia của luật sư do công dân mời ngày càng tăng. Việc bào chữa cho bị can, bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được các luật sư tích cực tham gia, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Bên cạnh đó, nguồn lực được hình thành từ tài sản vô hình như uy tín, kinh nghiệm hay năng lực làm việc của luật sư là những giá trị tài sản quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty. Tuy nhiên, hiện nay dưới góc độ luật thực định việc xác định hay quy định về loại tài sản và quyền sở hữu loại tài sản này của công ty cũng chưa thực sự minh bạch.

2. Hạn chế, bất cập trong quản trị công ty luật hợp danh

Quản trị công ty luật hợp danh đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên thực tế cũng chứng minh rằng: Quản trị công ty luật hợp danh vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Cụ thể:

Một là, cơ chế “bình quyền” giữa các luật sư thành viên công ty luật hợp danh. Cơ chế này cho phép bảo đảm mọi luật sư là thành viên đều có quyền tham gia việc tổ chức, quản lý và kiểm soát công ty. Mặt tích cực là phát huy được những lợi thế hay thế mạnh của tất cả các luật sư thành viên công ty, đặc biệt là các luật sư có trình độ chuyên sâu và kinh nghiệm trong các lĩnh vực đặc thù. Tuy nhiên, khi mà các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện cho công ty thì việc “phân quyền” trong tổ chức, quản lý công ty sẽ gặp khó khăn khi mà “chiếc bánh lợi ích” được chia không rõ ràng. Vì vậy, nếu không có sự minh bạch trong quy định thẩm quyền giữa những người đại diện thì có thể dẫn đến những hành động lạm quyền gây tổn hại cho công ty, thành viên và khách hàng. Thậm chí có minh bạch nhưng nếu có hành vi vi phạm thì chế tài cũng chủ yếu là do các thành viên xem xét quyết định. Do đó, giữa “lý và tình” trong góc độ này cũng bị ảnh hưởng hoặc lạm dụng. Thực tế cho thấy, có những luật sư không trực tiếp tham gia điều hành công ty nhưng khi thực hiện, khi ký kết các hợp đồng thì họ nhân danh công ty. Chính vì vậy, cần phải có cơ chế để dự phòng những tổn thất gây ra cho người thứ ba trong trường hợp giao kết hợp đồng với luật sư thành viên mà trong thời gian đó họ không nắm giữ chức năng quản lý và kiểm soát. Đặc biệt là đối với việc lạm quyền khi giao dịch ký kết các hợp đồng với khách hàng có thể mang lại bất lợi cho thành viên khác, cho công ty nhưng lại có lợi cho luật sư trực tiếp ký kết hợp đồng. Trong trường hợp đó, cần xem xét trách nhiệm của các luật sư này như thế nào? Mức độ áp dụng đến đâu?...

Hai là, về yêu cầu được cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của công ty luật. Thành viên hợp danh trong công ty có quyền yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty khi xét thấy cần thiết[9]. Việc minh bạch hóa thông tin trong quản trị công ty là một việc làm cần thiết trong việc bảo vệ lợi ích của công ty và thành viên công ty. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh đến trường hợp có thể lạm dụng việc yêu cầu cung cấp thông tin để trục lợi và/hoặc làm tổn hại đến bí mật kinh doanh của công ty, gây phương hại tới công ty và thành viên. Vì vậy, việc xác định yêu cầu được cung cấp các thông tin là quyền của thành viên hợp danh nhưng cũng cần chỉ rõ trường hợp nào là trường hợp được coi là “cần thiết”. Đồng thời quyền yêu cầu của thành viên nhưng xuất phát từ bản chất pháp lý của công ty luật hợp danh thì việc yêu cầu đó cần phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên còn lại. Thiết nghĩ điều đó vừa bảo đảm quyền của thành viên, vừa thực hiện được cơ chế tổ chức, quản lý của công ty .

Ba là, về vấn đề thừa kế trong công ty. Theo quy định của pháp luật[10], trường hợp thành viên hợp danh chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Như vậy, nếu công ty có hai thành viên, trong đó một thành viên bị chết, mất tích thì thành viên còn lại là người đại diện cho công ty trước pháp luật. Người thừa kế của luật sư - thành viên bị chết sẽ được hưởng phần giá trị còn lại theo quy định còn việc họ có trở thành thành viên hợp danh hay không thì lại phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thành thành viên. Tuy nhiên, Hội đồng thành viên lúc này chỉ còn một người và có thể thành viên đó không chấp thuận thì người thừa kế không thể trở thành thành viên hợp danh công ty. Thực chất công ty lúc này phụ thuộc vào quyết định của một người. Bên cạnh đó, muốn trở thành thành viên công ty luật hợp danh thì người đó phải là luật sư, tuy nhiên, trong trường hợp người hưởng di sản thừa kế không phải là luật sư thì giải quyết thế nào? Đây được xem là “lỗ hổng” trong quy định về điều kiện trở thành thành viên trong công ty luật hợp danh. Đồng thời, công ty không bảo đảm số thành viên tối thiểu thì phải liên tục ít nhất 06 tháng, công ty mới bị giải thể. Như vậy, việc quản lý điều hành công ty hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của luật sư còn lại. Nếu vị luật sư đó năng lực tổ chức, quản lý yếu hoặc đưa ra các quyết định không phù hợp có thể gây tổn hại đến lợi ích của công ty hoặc những quyết định có tính chất tư lợi cho cá nhân sẽ tác động đến hoạt động của công ty và quyền, lợi ích hợp pháp của những người khác hoặc người tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của thành viên có nguy cơ bị xâm hại. Phải chăng đây cũng là một “nguồn nguy hiểm” dẫn đến việc thâu tóm công ty?

Bốn là, về tư cách thành viên bị tuyên bố mất tích. Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt khi thành viên đó đã chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự[11]. Trong trường hợp một luật sư của công ty sau khi bị Tòa án tuyên bố là mất tích nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm luật sư bị tuyên bố mất tích thì đột nhiên lại trở về và yêu cầu giải quyết việc liên quan đến quyền, lợi ích của anh ta tại công ty. Về trách nhiệm, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên[12]. Theo quy định thì vị luật sư đó không còn là thành thành viên công ty, vậy việc luật sư khi trở về vẫn là một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và cũng mong muốn tiếp tục là thành viên công ty thì hướng giải quyết sẽ như thế nào? Trong đó liên quan đến các mối quan hệ giữa công ty với luật sư bị tuyên bố là mất tích; giữa người đó với người hưởng phần quyền, nghĩa vụ của luật sư bị tuyên bố là mất tích sẽ giải quyết ra sao? Như vậy, đây là một rủi ro có thể xảy ra trong quá trình vận hành quản trị công ty.

Có thể nói, cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, các cơ quan và tổ chức bổ trợ tư pháp nói riêng, trong đó, đổi mới tổ chức và hoạt động luật sư là vấn đề trung tâm và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Thực tế cho thấy, tổ chức và hoạt động luật sư trong thời gian qua không những đã đáp ứng kịp thời một phần nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần từng bước tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu, trên thực tế, sự phát triển của đội ngũ luật sư vẫn chưa phúc đáp được toàn diện các yêu cầu của xã hội và đất nước đang đặt ra. Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển này là do công tác quản trị công ty luật còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức, thực hiện chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách cơ bản về lý luận và chậm tổng kết thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu và xây dựng một nền quản trị công ty luật hợp danh minh bạch, hiệu quả là một yêu cầu cấp thiết ở Việt Nam hiện nay.

TS. Nguyễn Quý Trọng, Đại học Luật Hà Nội

& Luật sư Nguyễn Minh Đức, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định của Luật Luật sư năm 2012 thì việc đào tạo tại Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

[2]. Điều 12 Luật Luật sư năm 2012 (sửa đổi).

[3]. Điều 34 Luật Luật sư năm 2006.

[4]. Điều 32 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012.

[5]. Điều 14 Bản điều lệ công ty VILAF năm 2007.

[6]. Điều 15 Bản điều lệ công ty VILAF năm 2007.

[7]. Khoản 3 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[8]. Điều 34 Luật Luật sư năm 2006.

[9]. Khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[11]. Khoản 1 Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[12]. Khoản 5 Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: