Thứ ba 10/02/2026 19:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản trị nội bộ công ty luật hợp danh – Góc nhìn từ thực tiễn

Tóm tắt: Một mô hình quản trị công ty luật hợp danh tốt cần được tạo bởi những thành tố tác động, được thiết kế trên cơ sở hệ thống các cơ quan và sự giám sát nhằm hướng tới mục tiêu phát triển của công ty cũng như của các thành viên công ty. Bởi công ty luật hợp danh không chỉ đơn thuần là một loại hình công ty thương mại thuần túy, mà nó còn cung cấp các sản phẩm dịch vụ đặc biệt cho người tiêu dùng và xã hội. Tuy nhiên, thực tế vấn đề quản trị công ty luật hợp danh vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về quản trị công ty luật hợp danh là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.


Abstract: Model of good administration of legal partnership should be established by impacting factors, designed on the basis of the system of these organizations and the supervision directed towards the development of the company as well as company members. Because legal partnership is not merely a form of pure commercial company, it also provides special service products for consumers and the society. In the practice, however, administration of legal partnership still shows given limitations. Therefore, further study of the administration of legal partnership is an urgent need in the present.

1. Nhận diện về quản trị công ty luật hợp danh

Quản trị nội bộ công ty luật hợp danh được nhận diện bởi các dấu hiệu chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chủ thể quản trị là các luật sư. Chỉ những người là luật sư mới được tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Người muốn trở thành luật sư phải là những người có bằng cử nhân luật, đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, năng lực, phẩm chất theo quy định của pháp luật. Họ cần phải trải qua thời gian đào tạo nghiệp vụ luật sư với thời gian 12 tháng[1]. Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư[2]. Các chủ thể này chính là các tác nhân tạo ra tác động quản trị. Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động từ các chủ thể là luật sư trong công ty luật. Tác động có thể chỉ một lần và cũng có thể nhiều lần, ảnh hưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của công ty luật. Bản chất của quản trị công ty luật hợp danh thể hiện ở chính mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể (các luật sư) tạo ra các tác động. Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị được thực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động.

Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. Thành viên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty; trung thành với lợi ích của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác...

Thứ hai, cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai thành viên (các luật sư) đồng thuận thành lập[3]. Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này[4]. Công ty luật hợp danh đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Giám đốc công ty luật là thành viên. Cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty luật hợp danh bao gồm Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc[5]. Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty luật hợp danh chịu sự tác động của thành tố chính trong hoạt động quản trị, đó là Hội đồng thành viên và người quản lý công ty. Trong hoạt động quản trị công ty luật hợp danh thì yếu tố bình đẳng giữa các thành viên (luật sư) được coi trọng và là nền tảng của quản trị công ty. Sự bình đẳng này được coi là một đặc trưng rất rõ ràng của công ty hợp danh được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như: Bình đẳng trong quản lý, điều hành; bình đẳng trong phân chia quyền lực hay chịu rủi ro có thể không phân biệt và phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp vào công ty. Công ty luật hợp danh được hoạt động theo những nguyên tắc chung quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Bên cạnh đó, với tư cách là một tổ chức hành nghề luật sư, do đó, công ty luật hợp danh được tổ chức, quản lý và hoạt động theo những quy chế riêng.

Cơ cấu tổ chức, điều hành công ty luật hợp danh bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc). Đối với cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc (Tổng giám đốc), Ban kiểm soát/Kiểm soát viên. Trong đó, Hội đồng thành viên do tất cả thành viên (luật sư) hợp lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất6. Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả hoạt động kinh doanh của công ty. Nếu Điều lệ công ty không quy định thì các vấn đề như: Phương hướng phát triển công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tiếp nhận thêm thành viên hợp danh mới... phải được ít nhất 3/4 tổng số thành viên hợp danh chấp thuận[7].

Giám đốc công ty (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng thành viên về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Các luật sư thỏa thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty. Người giữ các chức vụ quản lý sẽ được hưởng thù lao từ việc thực hiện chức năng quản lý. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện quyền trong kiểm soát công ty, kiểm soát các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch lớn có nguy cơ phát sinh tư lợi thì mỗi thành viên công ty hợp danh đều có quyền góp ý và kiểm soát việc quản lý công ty. Về điểm này, khác với Văn phòng luật sư. Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập do đó việc tổ chức, quản lý văn phòng do Trưởng văn phòng quyết định (Văn phòng luật sư hoạt động theo mô hình doanh nghiệp tư nhân). Đối với công ty luật trách nhiệm hai thành viên trở lên, việc quản trị sẽ phức tạp hơn vì những lý do chủ yếu sau: (i) Tính đồng thuận, thống nhất ý chí bị hạn chế do công ty có sự tham gia của nhiều người (các luật sư); (ii) Với tư cách là thành viên của công ty, các luật sư đều có quyền cơ bản liên quan tới tổ chức, quản lý công ty như: Được tiếp cận các thông tin về tình hình tài chính, được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính... Đối với Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư làm chủ sở hữu có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty[8].



Bên cạnh đó, cơ chế đại diện của công ty luật cũng được thực hiện qua tư cách của các luật sư. Các luật sư đều có quyền và trở thành người đại diện cho công ty trước pháp luật. Các thành viên phân công đảm nhiệm các chức danh quản lý, điều hành công ty tùy thuộc vào khả năng của từng người. Các quyết định của công ty phải được tất cả các luật sư thành viên nhất trí, mỗi người đều có quyền phủ quyết. Mỗi thành viên đều có quyền đại diện cho công ty. Họ có thể lựa chọn ra người quản lý công ty.

Thứ ba, cơ chế phân chia quyền lực. Sự phân chia quyền lực trong tổ chức, điều hành công ty luật hợp danh xuất phát từ bản chất mang tính đối nhân của công ty. Quyền lực trong hệ thống công ty được xác lập trên cơ sở tư cách pháp lý của thành viên, tỷ lệ vốn góp hay tuân thủ sự thỏa thuận, thống nhất giữa các luật sư thành viên hợp danh. Trong công ty luật hợp danh, các luật sư thành viên hợp danh không chỉ tham gia với tư cách là thành viên hợp danh - chủ sở hữu công ty mà bản thân họ còn mang tư cách là các luật sư sẽ bình đẳng với nhau trong quá trình hành nghề luật sư. Các luật sư trong công ty luật có thể thống nhất phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty. Điều đó thể hiện tính liên kết và chia sẻ rủi ro trong công ty được xác lập và đảm bảo không phải duy nhất vào tỷ lệ vốn góp mà gắn kết trên cơ sở niềm tin, danh dự và phẩm giá của luật sư. Nói cách khác, các luật sư cùng trên một thuyền, vì vậy có lẽ đây là yếu tố gắn kết mang tính bền vững trong công ty luật. Đây là điểm khác biệt với việc phân chia quyền lực trong Văn pòng luật sư hay công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Đối với văn phòng luật sư thì Trưởng Văn phòng là người đại diện và là người chịu trách nhiệm về mọi họat động của Văn phòng luật sư. Trong công ty luật trách nhiệm hữu hạn cơ chế phân chia quyền lực có thể được xác lập theo một số tiêu chí: (i) Loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu hay nhiều chủ sở hữu; (ii) Tỷ lệ vốn góp của thành viên vào công ty.

Thứ tư, nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quá trình quản trị. Nguồn lực đảm bảo công ty luật vận hành hiệu quả bao gồm nhiều vấn đề khác nhau, trong đó đặc biệt là các nguồn lực từ các luật sư - thành viên hợp danh công ty. Sự tham gia của luật sư trong các vụ việc, vụ án góp phần tạo nên nguồn tài sản đảm bảo cho công ty tồn tại và phát triển bền vững. Trong những năm gần đây, đội ngũ luật sư đã đảm nhận 100% việc bào chữa trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, tỷ lệ các vụ án hình sự có sự tham gia của luật sư do công dân mời ngày càng tăng. Việc bào chữa cho bị can, bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng được các luật sư tích cực tham gia, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Bên cạnh đó, nguồn lực được hình thành từ tài sản vô hình như uy tín, kinh nghiệm hay năng lực làm việc của luật sư là những giá trị tài sản quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động của công ty. Tuy nhiên, hiện nay dưới góc độ luật thực định việc xác định hay quy định về loại tài sản và quyền sở hữu loại tài sản này của công ty cũng chưa thực sự minh bạch.

2. Hạn chế, bất cập trong quản trị công ty luật hợp danh

Quản trị công ty luật hợp danh đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên thực tế cũng chứng minh rằng: Quản trị công ty luật hợp danh vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Cụ thể:

Một là, cơ chế “bình quyền” giữa các luật sư thành viên công ty luật hợp danh. Cơ chế này cho phép bảo đảm mọi luật sư là thành viên đều có quyền tham gia việc tổ chức, quản lý và kiểm soát công ty. Mặt tích cực là phát huy được những lợi thế hay thế mạnh của tất cả các luật sư thành viên công ty, đặc biệt là các luật sư có trình độ chuyên sâu và kinh nghiệm trong các lĩnh vực đặc thù. Tuy nhiên, khi mà các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện cho công ty thì việc “phân quyền” trong tổ chức, quản lý công ty sẽ gặp khó khăn khi mà “chiếc bánh lợi ích” được chia không rõ ràng. Vì vậy, nếu không có sự minh bạch trong quy định thẩm quyền giữa những người đại diện thì có thể dẫn đến những hành động lạm quyền gây tổn hại cho công ty, thành viên và khách hàng. Thậm chí có minh bạch nhưng nếu có hành vi vi phạm thì chế tài cũng chủ yếu là do các thành viên xem xét quyết định. Do đó, giữa “lý và tình” trong góc độ này cũng bị ảnh hưởng hoặc lạm dụng. Thực tế cho thấy, có những luật sư không trực tiếp tham gia điều hành công ty nhưng khi thực hiện, khi ký kết các hợp đồng thì họ nhân danh công ty. Chính vì vậy, cần phải có cơ chế để dự phòng những tổn thất gây ra cho người thứ ba trong trường hợp giao kết hợp đồng với luật sư thành viên mà trong thời gian đó họ không nắm giữ chức năng quản lý và kiểm soát. Đặc biệt là đối với việc lạm quyền khi giao dịch ký kết các hợp đồng với khách hàng có thể mang lại bất lợi cho thành viên khác, cho công ty nhưng lại có lợi cho luật sư trực tiếp ký kết hợp đồng. Trong trường hợp đó, cần xem xét trách nhiệm của các luật sư này như thế nào? Mức độ áp dụng đến đâu?...

Hai là, về yêu cầu được cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của công ty luật. Thành viên hợp danh trong công ty có quyền yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty khi xét thấy cần thiết[9]. Việc minh bạch hóa thông tin trong quản trị công ty là một việc làm cần thiết trong việc bảo vệ lợi ích của công ty và thành viên công ty. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh đến trường hợp có thể lạm dụng việc yêu cầu cung cấp thông tin để trục lợi và/hoặc làm tổn hại đến bí mật kinh doanh của công ty, gây phương hại tới công ty và thành viên. Vì vậy, việc xác định yêu cầu được cung cấp các thông tin là quyền của thành viên hợp danh nhưng cũng cần chỉ rõ trường hợp nào là trường hợp được coi là “cần thiết”. Đồng thời quyền yêu cầu của thành viên nhưng xuất phát từ bản chất pháp lý của công ty luật hợp danh thì việc yêu cầu đó cần phải được sự đồng ý của tất cả các thành viên còn lại. Thiết nghĩ điều đó vừa bảo đảm quyền của thành viên, vừa thực hiện được cơ chế tổ chức, quản lý của công ty .

Ba là, về vấn đề thừa kế trong công ty. Theo quy định của pháp luật[10], trường hợp thành viên hợp danh chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ thuộc trách nhiệm của thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận. Như vậy, nếu công ty có hai thành viên, trong đó một thành viên bị chết, mất tích thì thành viên còn lại là người đại diện cho công ty trước pháp luật. Người thừa kế của luật sư - thành viên bị chết sẽ được hưởng phần giá trị còn lại theo quy định còn việc họ có trở thành thành viên hợp danh hay không thì lại phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thành thành viên. Tuy nhiên, Hội đồng thành viên lúc này chỉ còn một người và có thể thành viên đó không chấp thuận thì người thừa kế không thể trở thành thành viên hợp danh công ty. Thực chất công ty lúc này phụ thuộc vào quyết định của một người. Bên cạnh đó, muốn trở thành thành viên công ty luật hợp danh thì người đó phải là luật sư, tuy nhiên, trong trường hợp người hưởng di sản thừa kế không phải là luật sư thì giải quyết thế nào? Đây được xem là “lỗ hổng” trong quy định về điều kiện trở thành thành viên trong công ty luật hợp danh. Đồng thời, công ty không bảo đảm số thành viên tối thiểu thì phải liên tục ít nhất 06 tháng, công ty mới bị giải thể. Như vậy, việc quản lý điều hành công ty hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của luật sư còn lại. Nếu vị luật sư đó năng lực tổ chức, quản lý yếu hoặc đưa ra các quyết định không phù hợp có thể gây tổn hại đến lợi ích của công ty hoặc những quyết định có tính chất tư lợi cho cá nhân sẽ tác động đến hoạt động của công ty và quyền, lợi ích hợp pháp của những người khác hoặc người tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của thành viên có nguy cơ bị xâm hại. Phải chăng đây cũng là một “nguồn nguy hiểm” dẫn đến việc thâu tóm công ty?

Bốn là, về tư cách thành viên bị tuyên bố mất tích. Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt khi thành viên đó đã chết, bị Tòa án tuyên bố là mất tích, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự[11]. Trong trường hợp một luật sư của công ty sau khi bị Tòa án tuyên bố là mất tích nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm luật sư bị tuyên bố mất tích thì đột nhiên lại trở về và yêu cầu giải quyết việc liên quan đến quyền, lợi ích của anh ta tại công ty. Về trách nhiệm, trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh thì người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên[12]. Theo quy định thì vị luật sư đó không còn là thành thành viên công ty, vậy việc luật sư khi trở về vẫn là một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và cũng mong muốn tiếp tục là thành viên công ty thì hướng giải quyết sẽ như thế nào? Trong đó liên quan đến các mối quan hệ giữa công ty với luật sư bị tuyên bố là mất tích; giữa người đó với người hưởng phần quyền, nghĩa vụ của luật sư bị tuyên bố là mất tích sẽ giải quyết ra sao? Như vậy, đây là một rủi ro có thể xảy ra trong quá trình vận hành quản trị công ty.

Có thể nói, cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung, các cơ quan và tổ chức bổ trợ tư pháp nói riêng, trong đó, đổi mới tổ chức và hoạt động luật sư là vấn đề trung tâm và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Thực tế cho thấy, tổ chức và hoạt động luật sư trong thời gian qua không những đã đáp ứng kịp thời một phần nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức; góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần từng bước tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu, trên thực tế, sự phát triển của đội ngũ luật sư vẫn chưa phúc đáp được toàn diện các yêu cầu của xã hội và đất nước đang đặt ra. Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển này là do công tác quản trị công ty luật còn nhiều bất cập, chưa được quan tâm đúng mức, thực hiện chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách cơ bản về lý luận và chậm tổng kết thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu và xây dựng một nền quản trị công ty luật hợp danh minh bạch, hiệu quả là một yêu cầu cấp thiết ở Việt Nam hiện nay.

TS. Nguyễn Quý Trọng, Đại học Luật Hà Nội

& Luật sư Nguyễn Minh Đức, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo quy định của Luật Luật sư năm 2012 thì việc đào tạo tại Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

[2]. Điều 12 Luật Luật sư năm 2012 (sửa đổi).

[3]. Điều 34 Luật Luật sư năm 2006.

[4]. Điều 32 Luật Luật sư sửa đổi năm 2012.

[5]. Điều 14 Bản điều lệ công ty VILAF năm 2007.

[6]. Điều 15 Bản điều lệ công ty VILAF năm 2007.

[7]. Khoản 3 Điều 177 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[8]. Điều 34 Luật Luật sư năm 2006.

[9]. Khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Khoản 1 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[11]. Khoản 1 Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[12]. Khoản 5 Điều 180 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: