Thứ năm 15/01/2026 18:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quảng cáo thương mại trên mạng xã hội - Khoảng trống pháp lý và đề xuất hoàn thiện

Theo Luật Quảng cáo năm 2012 thì “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” (khoản 1 Điều 2). Có thể hiểu hoạt động quảng cáo có thể được nhà sản xuất, nhà kinh doanh, tổ chức, cá nhân sử dụng để quảng bá về hàng hóa, dịch vụ của họ hoặc giới thiệu về chính bản thân họ đến người tiếp nhận quảng cáo nhằm mục đích lợi nhuận hoặc quảng cáo được sử dụng chỉ nhằm mục đích thông tin đơn thuần không mang yếu tố lợi nhuận.

1. Chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo thương mại trên mạng xã hội

1.1. Người quảng cáo

Điều 102 Luật Thương mại năm 2005 quy định “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình”. Như vậy, quảng cáo có thể được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân khác nhau nhưng quảng cáo phải do thương nhân thực hiện mới được gọi là quảng cáo thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005.

“Người quảng cáo là tổ chức, cá nhân có yêu cầu quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc bản thân tổ chức cá nhân đó”[1]. Dựa vào những phân tích trên thì người quảng cáo trong hoạt động quảng cáo thương mại trên mạng xã hội là thương nhân như các loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ hộ kinh doanh sử dụng mạng xã hội như facebook, youtube… để giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của họ hoặc giới thiệu về chính bản thân họ với người tiêu dùng nhằm thu hút sự quan tâm và nhu cầu mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng.

Để thông tin về hàng hóa, dịch vụ của mình được đăng trên mạng xã hội nhằm mục đích quảng cáo thì người quảng cáo (không phải chủ trang mạng xã hội) sẽ phải xác lập hợp đồng phát hành quảng cáo với chủ trang mạng xã hội đó vì Luật Quảng cáo năm 2012 đã quy định “Việc hợp tác giữa các chủ thể trong hoạt động quảng cáo phải thông qua hợp đồng dịch vụ quảng cáo theo quy định của pháp luật”[2].

Tuy nhiên, vì mạng xã hội có tính năng mở nên nhiều cá nhân có tài khoản người dùng trên mạng xã hội điển hình như facebook đã sử dụng tính kết nối xuyên biên giới của trang này để kinh doanh online. Họ dễ dàng đưa thông tin hình ảnh về hàng hóa, dịch vụ mà họ kinh doanh lên tài khoản cá nhân để giới thiệu đến người dùng khác thậm chí là livestream giới thiệu trực tuyến và từ đó tiến hành luôn việc mua bán, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Thực tế hiện nay không chỉ những sản phẩm thông thường như quần áo, phụ kiện làm đẹp, thực phẩm… được giới thiệu rao bán phổ biến trên tài khoản cá nhân của người dùng facebook mà những hàng hóa đặc biệt như mỹ phẩm, thuốc chữa bệnh… (xuất xứ trong nước, xuất xứ nước ngoài) cũng được giới thiệu rao bán môt cách dễ dàng mà không qua bất cứ thủ tục gì trước đó. Trong khi đó, theo quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo được ban hành ngày 14/11/2013 (Nghị định số 181/2013/NĐ-CP) những sản phẩm đặc biệt như thuốc, mỹ phẩm khi quảng cáo phải thỏa mãn một số điều kiện cụ thể[3]. Vấn đề đặt ra là hành vi giới thiệu thông tin, hình ảnh của hàng hóa để kinh doanh online đã nêu có được xem là hành vi quảng cáo thương mại và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quảng cáo không?

Vì nội hàm quảng cáo trong luật quảng cáo chỉ ghi nhận mục đích của việc quảng cáo là “giới thiệu” về hàng hóa chứ không bao hàm hành vi “bán” hàng hóa nên hành vi bán hàng online có giới thiệu về hàng hóa vẫn không bị Luật Quảng cáo điều chỉnh. Ngược lại, nếu việc giới thiệu về hàng hóa dịch vụ được thực hiện trên phương tiện khác như: Báo chí, trang thông tin điện tử… thì phải tuân thủ thủ tục nghiêm ngặt. Nếu xét về mặt bản chất thì hành vi cung cấp thông tin về hình ảnh, chất lượng, công dụng, giá của hàng hóa lên môi trường mạng công khai mà nhiều người dùng khác dễ dàng thấy được, đọc được cũng chính là hình thức quảng cáo. Thiết nghĩ trong hoạt động kinh doanh online qua mạng xã hội có hành vi giới thiệu về sản phẩm nhằm thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng, kích cầu mua sắm thì ngoài việc điều chỉnh bằng pháp luật về hợp đồng mua bán cũng cần được điều chỉnh bởi pháp luật quảng cáo.

1.2. Người truyền tải thông điệp về hàng hóa, dịch vụ

Hiện nay, bên cạnh quảng cáo dưới dạng các bài viết, video mô phỏng giới thiệu sản phẩm, hàng hóa dịch vụ thì người quảng cáo, người phát hành quảng cáo còn hướng đến một hình thức quảng cáo mới mẻ đó là quảng cáo thông qua phát ngôn của người nổi tiếng. Người phát ngôn này có thể đã là “Đại sứ thương hiệu” của người quảng cáo hoặc là các chủ thể chỉ ký kết hợp đồng để tham gia quảng cáo cho hàng hóa, dịch vụ của người quảng cáo. Hình thức quảng cáo này được thấy rõ qua các video hay các livestream, các bài đăng trên tài khoản mạng xã hội của người nổi tiếng để giới thiệu, quảng bá sản phẩm mà họ nói là bản thân đã và đang sử dụng. Thông qua các hợp đồng dịch vụ quảng cáo, người quảng cáo sẽ yêu cầu người nổi tiếng nói về những trải nghiệm của họ khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, của người quảng cáo để tăng sự chú ý của khách hàng. Việc các ngôi sao nổi tiếng truyền tải thông điệp liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng sẽ tạo được niềm tin rất lớn với người tiêu dùng. Lúc này hình ảnh, tiếng nói của các gương mặt đại diện về hàng hóa, dịch vụ cũng như trách nhiệm về những thông điệp mà họ truyền tải về hàng hóa dịch vụ cần được điều chỉnh bởi pháp luật chứ không thể xem như những phát ngôn thông thường.

Những quy định về địa vị pháp lý của người phát ngôn về hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận trong hoạt động quảng cáo thương mại chưa được ghi nhận. Nếu pháp luật không quy định thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể này ra sao? khi thiết lập hợp đồng quảng cáo thì người truyền tải thông điệp về chất lượng hàng hóa dịch vụ có trách nhiệm kiểm tra chất lượng, nguồn gốc sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa hay không? tin tưởng vào chất lượng của sản phẩm do người truyền tải thông điệp đã trải nghiệm người tiêu dùng mua hàng hóa, sử dụng và xảy ra những thiệt hại nhất định thì người truyền tải thông điệp có chịu trách nhiệm hay không? Đó vẫn là những câu hỏi còn bỏ ngỏ của pháp luật quảng cáo Việt Nam đối với chủ thể có phát ngôn thương mại này trong hoạt động quảng cáo thương mại.

2. Hành vi đặt sản phẩm quảng cáo trên vị trí có nội dung vi phạm pháp luật

Trong thời gian gần đây đã có những trường hợp các sản phẩm quảng cáo thương mại hợp pháp của người quảng cáo thương mại Việt Nam như: Samsung Vina, Huawei Việt Nam, FPT Shop, VNG, Shopee trên Youtube bị chèn vào các video, clip có nội dung xấu, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, những nội dung thiếu thẩm mỹ, trái truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam, thậm chí là xâm phạm đến an ninh quốc phòng, làm ảnh hưởng đến uy tín của người quảng cáo thương mại và an ninh quốc gia[4].

Nếu căn cứ vào các quy định của pháp luật quảng cáo thì hành vi này không nằm trong các hành vi cấm quảng cáo và hiện tại cũng chưa có quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới trong kiểm duyệt vị trí đặt sản phẩm quảng cáo, trong khi đây lại là chủ thể quyết định việc đăng phát hay gỡ bỏ sản phẩm quảng cáo. Đó là lý do vì sao khi các sản phẩm quảng cáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm duyệt về nội dung bị Youtube hiển thị, đặt vào vị trí có nội dung xấu độc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể yêu cầu Youtube gỡ bỏ các video có nội dung độc xấu theo quy định của pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng mà không thể xử phạt vi phạm hành chính Youtube với hành vi đặt sản phẩm quảng cáo vào nội dung vi phạm pháp luật.

3. Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức cá nhân nước ngoài là chủ trang mạng xã hội kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam

Luật Quảng cáo năm 2012 và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP có điều chỉnh về hoạt động quảng cáo trên trang thông tin điện tử của tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới có phát sinh doanh thu tại Việt Nam[5].

Về phần xử lý vi phạm hành chính cũng chỉ quy định tại khoản 1 Điều 55 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP[6] xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm những nghĩa vụ được nêu tại Điều 13 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP.

Tuy nhiên, những quy định này chỉ mới điều chỉnh đối với quảng cáo thương mại trên trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài chứ không bao hàm quảng cáo thương mại trên mạng xã hội của tổ chức cá nhân nước ngoài. Rõ ràng hiện nay người quảng cáo khi muốn được phát hành quảng cáo trên facebook họ chỉ cần trực tiếp xác lập giao dịch phát quảng cáo cũng như trả phí cho facebook theo hướng dẫn của facebook mà không cần phải qua bất kỳ một đại diện nào của facebook tại Việt Nam. Việc xử lý vi phạm về quảng cáo tại Việt Nam trong trường hợp các trang mạng xã hội có máy chủ đặt ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ đó, việc nhanh chóng đặt hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội của chủ thể nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam dưới sự quản lý của Nhà nước Việt Nam là việc làm cần thiết.

Thêm vào đó, các quy định xử phạt hành chính về hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội có máy chủ tại nước ngoài cũng cần được bổ sung cho phù hợp với thực tiễn hiện nay, đảm bảo hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội nước ngoài cung cấp thông tin cho người sử dụng tại Việt Nam tuân thủ đúng pháp luật Việt Nam, bảo vệ được quyền lợi của người quảng cáo, người tiếp nhận quảng cáo tại Việt Nam

4. Kiến nghị

4.1. Hoàn thiện quy định về chủ thể tham gia hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội

Thứ nhất, đưa bán hàng online trên mạng xã hội là một nội dung chịu sự điều chỉnh của pháp luật quảng cáo. Bán hàng online thông qua tài khoản cá nhân trên mạng xã hội cũng chứa đựng hành vi giới thiệu hình ảnh, cung cấp thông tin về chất lượng, công dụng, giá cả của hàng hóa thì đó cũng là hành vi quảng cáo. Nhưng hiện nay việc giới thiệu thông tin này đang được các chủ tài khoản mạng xã hội thực hiên tự do, tự phát không thực hiện đúng quy định của pháp luật quảng cáo mà không có cơ sở xử lý vi phạm.

Thứ hai, cần đưa chủ thể truyền tải thông điệp về sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo vào nhóm chủ thể phải được điều chỉnh bởi pháp luật quảng cáo khi việc họ nói rằng bản thân đã và đang trải nghiệm sản phẩm để minh chứng cho chất lượng, công dụng của hàng hóa dịch vụ được quảng cáo là những phát ngôn mang tính thương mại. Họ nhận được thù lao từ hợp đồng dịch vụ quảng cáo với người quảng cáo để đưa ra những phát ngôn có sức lôi kéo việc mua sắm hàng hóa và sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng thì họ có nghĩa vụ cung cấp thông tin đúng sự thật và họ phải có trách nhiệm khi đưa ra những thông tin gian dối, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

4.2. Cần sửa đổi bổ sung hành vi đặt sản phẩm quảng cáo vào vị trí vi phạm pháp luật vào nhóm các hành vi quảng cáo bị cấm.

Ngoài các hành vi cấm quảng cáo nói chung theo Luật Quảng cáo thì hành vi cấm liên quan đến quảng cáo trên mạng xã hội hiện nay đươc ghi nhận trong Luật An ninh mạng 2018 “cấm quảng cáo hàng hóa dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật”[7] và xử phạt hành chính đối với hành vi “chủ động quảng cáo tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ bị cấm”[8]. Hành vi đặt sản phẩm quảng cáo vào các vị trí có nội dung vi phạm pháp luật trên phương tiện mạng xã hội đang diễn ra phổ biến nhưng chưa được điều chỉnh. Tác giả cho rằng, hành vi này cần được đưa vào nhóm các hành vi cấm trong pháp luật về quảng cáo vì mạng xã hội cũng được xem là một phương tiện quảng cáo và chịu sự điều chỉnh của Luật Quảng cáo.

4.3 Bổ sung quy định quản lý nhà nước và xử phạt đối với tổ chức cá nhân nước ngoài là chủ trang mạng xã hội kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam

Về quản lý nhà nước, quy định về quảng cáo trên trang thông tin điện tử của cá nhân, tổ chức nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới có phát sinh doanh thu tại Việt Nam tại Chương 3 Điều 13 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP không bao hàm phương tiện mạng xã hội nên dự thảo sửa đổi lần 1 Nghị định này đã thay đổi tên chương theo hướng bao quát hơn “Hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới tại Việt Nam”. Khoản 1 Điều 13 dự thảo cũng thể hiện rõ các phương tiện được điều chỉnh trong đó có mạng xã hội “tổ chức cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới trên môi trường mạng có phát sinh doanh thu tại Việt Nam thông qua trang thông tin điện tử, mạng xã hội…”.

Tuy nhiên, dự thảo nghị định đã không còn bắt buộc các tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới ký kết hợp đồng với thương nhân làm đại diện tại Việt Nam, cũng như không buộc người quảng cáo tại Việt Nam ký kết hợp đồng phát hành quảng cáo với bên đại diện của bên nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới. Thay vào đó có hai chủ thể mới được xuất hiện trong dự thảo là “Người phát hành quảng cáo tại Việt Nam”[9] và “đầu mối tại Việt Nam”[10] của tổ chức cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới”. Trong quan hệ quảng cáo thương mại trên mạng xã hội thì người phát hành quảng cáo là chủ trang mạng xã hội đó, vậy “Người phát hành quảng cáo tại Việt Nam” được hiểu là người đại diện cho chủ trang mạng xã hội nước ngoài tại Việt Nam. Nhưng Dự thảo lại không bắt buộc chủ trang mạng xã hội nước ngoài ký hợp đồng với thương nhân đại diện tại Việt Nam, vậy địa vị pháp lý của người phát hành quảng cáo tại Việt Nam được xác lập như thế nào? Và có thể hiểu “người phát hành quảng cáo tại Việt Nam” được đề cập ở Điều 13 chính là “đầu mối liên hệ” của chủ trang mạng xã hội nước ngoài ở Điều 14? Theo quan điểm của tác giả việc ràng buộc chủ trang mạng xã hội nước ngoài phải ký kết hợp đồng với thương nhân đại diện tại Việt Nam là cần thiết và người này sẽ được hiểu là Người phát hành quảng cáo tại Việt Nam. Lúc này sẽ bổ sung thêm quy định ràng buộc trách nhiệm của người phát hành quảng cáo tại Việt Nam đối với việc gỡ bỏ các sản phẩm quảng cáo vi phạm hoặc các clip độc hại mà sản phẩm quảng cáo được gắn vào đó. Vì hiện nay, các đại diện tại Việt Nam của chủ trang mạng xã hội như youtube nói rằng họ không có trách nhiệm đối với các sản phẩm quảng cáo gắn vào vị trí vi phạm pháp luật, mà các thao tác kỹ thuật đối với sản phẩm quảng cáo chủ trang ở nước ngoài mới có thẩm quyền, làm cho việc xử lý các quảng cáo vi phạm rất chậm và kém hiệu quả. Địa vị pháp lý của người phát hành quảng cáo tại Việt Nam được xác lập thông qua hợp đồng giữa họ và chủ trang mạng xã hội nước ngoài và đó cũng là cơ sở ghi nhận cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên đối với sản phẩm quảng cáo giúp cho trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quan hệ quảng cáo trên mạng xã hội được xác định rõ ràng khi có hành vi vi phạm pháp luật.

Dự thảo nghị định cũng cần làm rõ về chủ thể là “đầu mối liên hệ” được dự thảo để cập ở Điều 14. Chủ thể này có phải là người phát hành quảng cáo tại Việt Nam? Nếu không phải thì chủ thể này có quan hệ như thế nào với tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới? Địa vị pháp lý cũng như quyền và nghĩa vụ của chủ thể này ra sao? Những quy định cụ thể về chủ thể này sẽ giúp cho việc xác định chính xác chủ thể có liên quan từ đó nhanh chóng giải quyết các vi phạm phát sinh trong hoạt động quảng cáo trên mạng xã hội khi mà máy chủ lại đặt ở nước ngoài.

Về xử lý vi phạm hành chính, cần bổ sung thêm các hành vi vi phạm cũng như mức xử phạt đối với những hành vi vi phạm của chủ trang mạng xã hội nước ngoài và người phát hành quảng cáo tại Việt Nam. Chẳng hạn như: (1) hành vi đặt sản phẩm quảng cáo vào vị trí vi phạm pháp luật; (2) hành vi không bảo đảm người phát hành quảng cáo ở Việt Nam có khả năng kiểm soát, phát hiện và loại bỏ các sản phẩm quảng cáo xuyên biên giới vi phạm quy định pháp luật Việt Nam về quảng cáo; (3) hành vi không loại bỏ các sản phẩm quảng cáo xuyên biên giới vi phạm quy định pháp luật Việt Nam về quảng cáo./.

ThS. Nguyễn Thị Hoa Cúc & Lê Kim Lĩnh
Khoa Luật, Đại học Cần Thơ


[1] Khoản 5 điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012.

[2] Điều 6 Luật Quảng cáo năm 2012.

[3] Chương 2 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo được ban hành ngày 14/11/2013.

[4] Hàng loạt doanh nghiệp gỡ quảng cáo trong video độc hại trên youtube,

[5] Khoản 2 điều 13 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP.

[6] Được bổ sung bởi khoản 43 Điều 2 Nghị định số 28/2017/NĐ-CP.

[7] Điểm d, khoản 1, Điều 18 Luật An ninh mạng.

[8] Điểm h, khoản 3 Điều 100 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

[9] Khoản 3 Điều 13 Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 181/2013/NĐ-CP.

[10] Điều 14 Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 181/2013/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: