Thứ ba 10/02/2026 20:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quảng cáo trên báo điện tử theo pháp luật Việt Nam - Một số vướng mắc và giải pháp hoàn thiện

Bài viết đề cập những nội dung cơ bản, đồng thời, phân tích một số vướng mắc, bất cập về quảng cáo trên báo điện tử theo quy định của Luật Quảng cáo năm 2012, từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo trên báo điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới.


Trong thời đại bùng nổ thông tin với nhiều phương tiện truyền thông như ngày nay, con người đang thực sự phải sống chung với quảng cáo. Các sản phẩm quảng cáo muốn tiếp cận được với khách hàng phải thông qua một phương tiện trung gian nhất định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự bùng nổ của ngành công nghiệp quảng cáo, ngày càng có nhiều loại phương tiện quảng cáo mới ra đời, tiếp cận tới mọi ngóc ngách của đời sống con người. Hiện nay, báo chí chỉ đứng sau truyền hình xét về phương diện doanh thu quảng cáo. Quảng cáo trên báo, đặc biệt là quảng cáo trên báo điện tử đã mang lại rất nhiều ưu điểm cho doanh nghiệp, từ các tập đoàn lớn cho đến những người bán hàng nhỏ. Trong đó, pháp luật về quảng cáo trên báo điện tử nói riêng và báo chí nói chung chính là cơ sở bảo đảm cho hoạt động quảng cáo được tiến hành hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 về quảng cáo trên báo điện tử vẫn còn một số bất cập, vướng mắc, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quảng cáo trên báo điện tử là rất cần thiết.

1. Những nội dung cơ bản về quảng cáo trên báo điện tử theo quy định của Luật Quảng cáo năm 2012

Quảng cáo trên báo điện tử có thể hiểu là hoạt động có trả tiền của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng... trên báo điện tử để người đọc biết đến hoạt động, hàng hóa, dịch vụ của người quảng cáo nhằm khuyến khích người đọc tham gia hoạt động, sử dụng hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo. Nội dung cơ bản về quảng cáo được thể hiện trong Luật Quảng cáo năm 2012 và những quy định này cũng áp dụng đối với hoạt động quảng cáo trên báo điện tử, cụ thể:

Thứ nhất, về sản phẩm quảng cáo trên báo điện tử: Bao gồm nội dung và hình thức quảng cáo được thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng và các hình thức tương tự (Điều 2). Các nhà quảng cáo lựa chọn sản phẩm quảng cáo phù hợp dựa vào tính chất, đặc điểm, mục đích, phương tiện quảng cáo, đối tượng tác động của hàng hóa, dịch vụ. Nếu sản phẩm quảng cáo tốt, mang tính tích cực thì hiệu quả thông tin sẽ cao và ngược lại.

Thứ hai, về nội dung quảng cáo trên báo điện tử: Nội dung phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo (Điều 19). Về điều kiện, quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; quảng cáo cho các loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải có các tài liệu chứng minh về sự hợp chuẩn, hợp quy của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật; quảng cáo tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng thì phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản; quảng cáo cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật (Điều 20).

Thứ ba, về các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo trên báo điện tử: Nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012 đã quy định rõ một số hành vi quảng cáo bị cấm như: Các quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, quảng cáo trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam, quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân; quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ… Bên cạnh đó, pháp luật về quảng cáo cũng nghiêm cấm các hành vi ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn; đối với quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự, bắt buộc phải có tài liệu hợp pháp kèm theo để chứng minh được bản chất “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” của sản phẩm.

Thứ tư, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động quảng cáo trên báo điện tử: Các chủ thể chủ yếu tham gia vào hoạt động quảng cáo trên báo điện tử được quy định tại Điều 2 Luật Quảng cáo năm 2012. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của những chủ thể này tại Chương 2, bao gồm: Người quảng cáo; người kinh doanh dịch vụ quảng cáo; người phát hành quảng cáo; người cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo và người tiếp nhận quảng cáo. Trong đó, Luật có những điều chỉnh, bổ sung so với Pháp lệnh về quảng cáo năm 2001 như:

- Người quảng cáo phải cung cấp các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo, đồng thời phải chịu trách nhiệm về các thông tin đó; người quảng cáo phải liên đới chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo trong trường hợp thuê người khác thực hiện.

- Người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo trước khi thực hiện hợp đồng phải kiểm tra các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo mà người quảng cáo cung cấp.

- Người cho thuê địa điểm quảng cáo phải chịu trách nhiệm về căn cứ pháp lý của việc cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo; về chất lượng và an toàn của phương tiện quảng cáo; thực hiện đúng các nghĩa vụ trong hợp đồng cho thuê địa điểm, phương tiện quảng cáo đã ký kết.

- Người tiếp nhận quảng cáo (chủ thể mới được quy định trong Luật Quảng cáo năm 2012) được yêu cầu người quảng cáo hoặc người phát hành quảng cáo bồi thường thiệt hại khi quảng cáo không đúng với chất lượng, giá cả… và được tố cáo khởi kiện dân sự theo quy định của pháp luật…

Thứ năm, về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo trên báo điện tử: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo trong phạm vi địa phương theo thẩm quyền.

2. Một số vướng mắc, bất cập của Luật Quảng cáo năm 2012 về quảng cáo trên báo điện tử

Luật Quảng cáo năm 2012 được ban hành đã tạo điều kiện pháp lý thúc đẩy ngành quảng cáo phát triển, tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả mà Luật mang lại thì một số quy định của Luật vẫn còn bộc lộc sự hạn chế hoặc không còn đáp ứng yêu cầu phát triển của hoạt động quảng cáo trên báo điện tử, cụ thể:

Thứ nhất, sự thiếu thống nhất, đồng bộ giữa Luật Quảng cáo năm 2012 và các luật chuyên ngành trong việc điều chỉnh hoạt động quảng cáo trên báo điện tử gây khó khăn trong việc áp dụng: Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật quảng cáo Việt Nam hiện nay là Luật Quảng cáo năm 2012, tuy nhiên, một số quy định về quảng cáo trong các lĩnh vực chuyên ngành vẫn chưa bị bãi bỏ, mà còn được quy định tại nhiều văn bản như: Luật Thương mại năm 2005; Luật Dược năm 2016; Luật Báo chí năm 2016; Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật An toàn thực phẩm năm 2010; Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010; Luật Xây dựng năm 2014; Luật Đầu tư năm 2014... Tình trạng các quy phạm pháp luật về quảng cáo trên báo điện tử nói riêng và quảng cáo nói chung bị phân tán trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật như vậy đã gây nên những khó khăn đáng kể cho các đơn vị, doanh nghiệp tham gia hoạt động quảng cáo và các nhà quản lý trong lĩnh vực này. Hơn thế, giữa Luật Quảng cáo năm 2012 với các luật chuyên ngành còn có một số điểm chưa thống nhất với nhau về hoạt động quảng cáo điện tử nói riêng và quảng cáo nói chung, cụ thể như:

- Khoản 3 Điều 7 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định cấm quảng cáo đối với rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên, trong khi đó, khoản 4 Điều 109 Luật Thương mại năm 2005 lại chỉ cấm quảng cáo rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên, không cấm hay hạn chế quảng cáo đối với rượu dưới 30 độ.

- Điều 12 Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo (Nghị định số 181/2013/NĐ-CP) không phù hợp với Điều 20 Luật Quảng cáo năm 2012 khi quy định: “Việc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt quy định từ Điều 3 đến Điều 11 Nghị định này chỉ thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo”. Điều này làm nảy sinh một loại giấy phép mới trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp… mà theo Luật thì chỉ cần thông báo là đủ. Đây là một bất cập trong cải cách hành chính, làm hạn chế tiến trình hội nhập quốc tế của ngành quảng cáo. Từ quy định nêu trên, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương tiếp tục ban hành thông tư hướng dẫn thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo với các quy định phức tạp, thiếu thống nhất, cán bộ hướng dẫn không rõ ràng… gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp. Như vậy, cùng một loại hàng hóa đặc biệt được quảng cáo lại được điều chỉnh bởi hai quy định trong hai văn bản luật khác nhau. Ngoài những hệ quả nêu trên, vấn đề này còn gây khó khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, một số quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 về quảng cáo trên báo điện tử chưa chính xác, thiếu cụ thể:

Một số quy định trong Luật Quảng cáo năm 2012 về những hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên báo điện tử nói riêng còn chung chung, khó áp dụng trong thực tiễn. Cụ thể:

- Khoản 3 Điều 8 quy định cấm “quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam”. Đây là quy định mang tính chất định tính gây những cách hiểu khác nhau trong quá trình quản lý của cơ quan quản lý và việc thực hiện của các tổ chức, cá nhân. Quy định này chưa thực sự cụ thể, dễ làm cho cơ quan quản lý, cấp phép có những quyết định cảm tính, thiếu khách quan. Không ít doanh nghiệp phàn nàn vì mẫu quảng cáo của họ được cấp phép ở địa phương này nhưng đem sang địa phương khác bị từ chối với lý do không phù hợp thuần phong mỹ tục, trong khi đó, chi phí cho thiết kế mẫu quảng cáo là rất tốn kém.

- Bên cạnh đó, các sản phẩm quảng cáo mặc dù cần đáp ứng yêu cầu về nội dung quảng cáo là “phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng” theo quy định tại Điều 19 Luật Quảng cáo năm 2012, tuy nhiên, để thu hút người tiếp nhận thì sản phẩm quảng cáo ngoài việc chuyển tải đúng thông tin về sản phẩm còn phải đảm bảo yêu cầu sáng tạo, ấn tượng, mới mẻ, nếu áp dụng quản lý một cách quá khắt khe, cứng nhắc sẽ hạn chế sự phát triển của hoạt động quảng cáo, không phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Do vậy, việc đánh giá, xác định những sai phạm trong quản lý hoạt động quảng cáo còn nhiều khó khăn.

- Khoản 2 Điều 16 Luật Quảng cáo năm 2012 quy định người tiếp nhận quảng cáo có quyền từ chối tiếp nhận quảng cáo, tuy nhiên, việc từ chối sẽ được thực hiện như thế nào? Nếu như việc quảng cáo thông qua tin nhắn, thư điện tử…, người tiếp nhận quảng cáo có thể từ chối tiếp nhận quảng cáo nhưng trong một số trường hợp khác thì từ chối bằng cách nào? Trên báo điện tử, hiện nay, người đọc có quyền được tắt, không xem quảng cáo nếu như không muốn và không có nhu cầu, tuy nhiên, trên thực tế người đọc vẫn phải xem quảng cáo từ 3 - 5 giây sau đó mới tắt được quảng cáo. Như vậy, dù muốn hay không, độc giả truy cập vào báo điện tử vẫn phải xem quảng cáo trong khoảng thời gian đó.

- Pháp luật quảng cáo của Việt Nam cũng còn thiếu quy định về trách nhiệm của báo điện tử về các trang liên kết. Sử dụng mạng quảng cáo tự động có thể mang lại rủi ro cho các báo điện tử bởi các báo không kiểm soát được nội dung quảng cáo trước khi nó xuất hiện trên báo mình. Theo quy định của pháp luật, cơ quan báo điện tử phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin trên báo của mình, kể cả nội dung quảng cáo. Do đặc thù của công nghệ thông tin, báo điện tử có thể liên kết với các báo khác qua các đường link. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan báo điện tử đối với nội dung các trang thông tin điện tử liên kết với báo mình; các báo chỉ chịu trách nhiệm về nội dung trên trang thông tin điện tử do báo đăng ký.

Thứ ba, quy định về cơ quan quản lý hoạt động quảng cáo trên báo điện tử chưa rõ ràng: Theo quy định tại Điều 5 Luật Quảng cáo năm 2012 thì nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo được giao trực tiếp cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý hoạt động quảng cáo trên báo điện tử do Cục Quản lý báo chí, Bộ Thông tin và Truyền thông (theo khoản 10 Điều 2 Quyết định số 1288/QĐ-BTTTT ngày 27/7/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Báo chí). Như vậy, có sự chồng chéo về thẩm quyền quản lý nhà nước đối với quảng cáo trên báo điện tử giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Thông tin và Truyền thông. Nguyên nhân của sự chồng chéo về thẩm quyền này xuất phát từ việc các nhà làm luật chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, từng ngành trong hoạt động quảng cáo trên báo điện tử.

Thứ tư, quy định về Hội đồng thẩm định sản phẩm chưa đầy đủ: Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo là tổ chức giúp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét và kết luận về sự phù hợp của sản phẩm quảng cáo với quy định của pháp luật khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là, Luật Quảng cáo năm 2012 chưa quy định cụ thể về việc nếu cá nhân, tổ chức có yêu cầu thẩm định không đồng ý với kết luận của Hội đồng thẩm định thì giải quyết thế nào? Khi đó cũng không có tổ chức nào đứng ra làm “trọng tài” cho hai bên. Đến Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL ngày 06/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo cũng chỉ quy định về thành lập, cơ chế hoạt động và quy trình thẩm định sản phẩm quảng cáo mà không quy định về cách giải quyết nếu có mâu thuẫn xảy ra.

3. Một số kiến nghị

Nhằm khắc phục một số vướng mắc, hạn chế trong các quy định của pháp luật và để ngành quảng cáo thực sự trở thành ngành công nghiệp văn hóa đạt được mục tiêu mà Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đề ra cho ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên báo điện tử nói riêng, tác giả có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, qua nghiên cứu pháp luật Việt Nam về quảng cáo cho thấy, trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quảng cáo, quảng cáo trên báo điện tử theo hướng:

- Thống nhất, đồng bộ về nội dung một số quy định của Luật Quảng cáo năm 2012 và các luật chuyên ngành nhằm tạo thuận lợi cho các chủ thể trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể:

(i) Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch cần phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành một văn bản hướng dẫn, điều chỉnh và thống nhất lại quy định về quảng cáo đối với các loại rượu. Trong đó, quy định rõ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sẽ bị cấm quảng cáo rượu có độ cồn là 15 độ trở lên hay 30 độ trở lên?

(ii) Loại bỏ quy định “việc quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt quy định từ Điều 3 đến Điều 11 Nghị định này chỉ thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo” trong Nghị định số 181/2013/NĐ-CP để thống nhất với Luật Quảng cáo năm 2012, tránh gây khó khăn, phiền hà cho người dân khi phải đối mặt với nhiều thủ tục, giấy tờ phức tạp mà thực tế là không cần thiết. Có như vậy, mới phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính, hội nhập quốc tế của ngành quảng cáo.

- Sửa đổi một số quy định chưa chính xác, thiếu cụ thể trong Luật Quảng cáo năm 2012 nhằm tạo sự thống nhất về cách hiểu trong quản lý và thực thi pháp luật. Cụ thể:

(i) Bộ Thông tin và Truyền thông cần có văn bản hướng dẫn cụ thể, thế nào là quảng cáo thiếu tính thẩm mỹ trên báo điện tử; thế nào là quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam trên báo điện tử. Từ đó, làm cơ sở xác thực cho các Sở Thông tin và Truyền thông trong việc đưa ra những quyết định khách quan, đúng đắn trong quản lý hoạt động quảng cáo trên báo điện tử ở địa phương mình.

(ii) Cần có sự sửa đổi theo hướng mềm dẻo, linh hoạt hơn về quy định nội dung quảng cáo là “phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng” để quảng cáo trên báo điện tử vừa chuyển tải đúng thông tin về sản phẩm, lại vừa có tính sáng tạo, ấn tượng, mới mẻ, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Từ đó, việc đánh giá, xác định những sai phạm trong quản lý hoạt động quảng cáo sẽ dễ dàng và đúng đắn hơn.

(iii) Quyền từ chối tiếp nhận quảng cáo trên báo điện tử của người tiếp nhận quảng cáo cần phải được quy định rõ ràng về cách thức thực hiện trong từng trường hợp khác nhau, loại quảng cáo khác nhau để quyền này được thực thi trên thực tế, khắc phục được tình trạng trên báo điện tử hiện nay, người đọc vẫn phải xem quảng cáo từ 3 - 5 giây sau đó mới tắt được quảng cáo.

(iv) Cần bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan báo điện tử đối với nội dung các trang thông tin điện tử liên kết trong Luật Quảng cáo năm 2012 nhằm tạo sự chặt chẽ trong kiểm soát nội dung quảng cáo trước khi quảng cáo xuất hiện trên báo điện tử.

- Luật Quảng cáo nước ta nên ban hành kèm theo các phụ lục, quy định cụ thể về từng loại hình quảng cáo (trong đó, có quảng cáo trên báo điện tử), hình thức quảng cáo, đối tượng quảng cáo... Việc đưa ra các phụ lục giúp cho cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận với các nội dung của luật một cách rõ ràng và dễ áp dụng. Khi cần sửa đổi, bổ sung cũng nhanh chóng vì vẫn giữ được nguyên tắc chung.

Thứ hai, cần bổ sung thêm quy định về giải quyết mâu thuẫn xảy ra liên quan đến việc thẩm định sản phẩm quảng cáo; nên có quy định nhằm tăng quyền hạn cho Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo theo hướng, kết luận của Hội đồng thẩm định có giá trị pháp luật, buộc tổ chức, cá nhân có yêu cầu thẩm định phải thực hiện.

Thứ ba, để khắc phục tình trạng chồng chéo thẩm quyền quản lý nhà nước về quảng cáo trên báo điện tử, theo tác giả, cần phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, từng sở trong từng khâu của hoạt động quản lý nhà nước về quảng cáo trên báo điện tử. Bên cạnh đó, pháp luật nên quy định giao việc quản lý hoạt động quảng cáo cho một cơ quan chuyên trách, chuyên về quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quảng cáo. Việc có một cơ quan chuyên trách quản lý, giám sát và xử lý các vi phạm về quảng cáo cho phép hoạt động giám sát và thực thi pháp luật trở nên đồng bộ, thống nhất, không bị tản mát.

Thứ tư, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam nhằm bảo đảm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của Hiệp hội trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp quảng cáo; đại diện trong việc đề xuất, kiến nghị và tham gia cùng với các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo nói chung và quảng cáo điện tử nói riêng; thực hiện nhiệm vụ phổ biến chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước tới các hội viên; hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp quảng cáo trong quá trình vươn lên phát triển cạnh tranh với các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài.

Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp luật, chấn chỉnh những vi phạm trong hoạt động quảng cáo, ngày 09/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chấn chỉnh hoạt động quảng cáo. Với Chỉ thị này, có thể nhận thấy sự nghiêm khắc và kiên quyết của Chính phủ trong lĩnh vực quảng cáo. Hy vọng rằng, với quyết tâm của các ngành, địa phương và qua hoạt động tuyên truyền ý thức tuân thủ pháp luật đến từng người dân, hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên báo điện tử nói riêng sẽ có những bước tiến mới, phù hợp với yêu cầu hiện đại, văn minh của xã hội phát triển.

Phạm Thu Hằng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật



Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tình hình 05 năm thực hiện Luật Quảng cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

2. Báo cáo tình hình thực hiện Luật Quảng cáo (ngày 29/6/2017) của Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: