Thứ sáu 13/03/2026 03:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội phạm về môi trường đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và hội nhập quốc tế

Bảo vệ môi trường đã và đang là vấn đề cấp bách, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm trong việc thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội.

Thực tế trong nhiều năm vừa qua, hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường dần được phát hiện và xử lý. Thực tế xử lý các vụ việc cho thấy vai trò rất quan trọng của các quy định pháp luật trong việc xử lý hành vi vi phạm, nhất là pháp luật hình sự - công cụ pháp lý sắc bén của Nhà nước trong quản lý xã hội.

Qua tổng kết Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho thấy các quy định về tội phạm môi trường chứa đựng nhiều vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường như: (i) Các quy định về cấu thành tội phạm còn chung chung và khó áp dụng như quy định cấu thành vật chất (đòi hỏi phải có yếu tố hậu quả xảy ra thì mới xử lý trách nhiệm hình sự, trong khi hậu quả của các hành vi vi phạm về môi trường không xảy ra ngay lập tức mà có thể xảy ra sau một thời gian dài); (ii) Hầu hết các điều luật quy định tội phạm về môi trường chỉ quy định rất chung chung về "gây hậu quả nghiêm trọng”, "gây hậu quả rất nghiêm trọng” hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà chưa có một văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành hướng dẫn phân biệt các mức độ vi phạm, gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc xử lý các hành vi phạm tội; (iii) Về chủ thể vi phạm các tội phạm về môi trường, BLHS năm 1999 chỉ quy định các chủ thể là các cá nhân mà chưa quy định chủ thể của tội phạm là các pháp nhân, trong khi đó thực tiễn thời gian qua cho thấy các pháp nhân mới là chủ thể gây ra các vụ việc ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng. Việc không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm về môi trường cùng với những hạn chế của các chế tài hành chính, dân sự đã làm giảm đáng kể hiệu quả của công tác phòng, chống tội phạm về môi trường. Từ những bất cập đó, đòi hỏi phải xây dựng các quy định mang tính khả thi, theo hướng có thể xử lý ngay dựa trên hành vi vi phạm, không phải đợi đến khi hậu quả xẩy ra; các vi phạm phải được định lượng cụ thể, trên cơ sở so sánh với các hành vi đang được quy định trong các văn bản xử lý vi phạm hành chính các vi phạm về môi trường. Các quy định cũng được sửa đổi để phù hợp với các văn bản chuyên ngành và với các chuẩn mực quốc tế quy định về vấn đề này.

BLHS năm 2015 đã cơ bản khắc phục được những bất cập của các quy định về tội phạm môi trường trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chương XIX BLHS năm 2015 gồm có 12 điều (từ Điều 235 đến Điều 246) quy định các tội phạm xâm phạm đến môi trường và hệ sinh thái. BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, góp phần tăng cường hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường, cụ thể:

1. Các nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản góp phần tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường

So với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLHS năm 2015 có những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây: (i) Sửa đổi cấu thành các tội phạm về môi trường; (ii) Bổ sung 01 tội danh mới; (iii) Mở rộng phạm vi áp dụng và nâng mức phạt tiền; (iv) Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số loại tội phạm về môi trường.

Thứ nhất, về việc sửa đổi cấu thành các tội phạm về môi trường theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể

Một số tội phạm về môi trường đã được sửa đổi về cấu thành tội phạm theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý nhằm đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, khả thi và thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thay cho quy định mang tính chung chung trước đây. Tại cấu thành một số tội phạm đã bỏ quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” và thay vào đó là quy định về hành vi vi phạm cụ thể.

Ví dụ: Nếu như Điều 182a BLHS năm 1999 về tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại quy định “người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” thì Điều 235 BLHS năm 2015 quy định các hành vi vi phạm với các mức định lượng cụ thể như: Người nào có thẩm quyền mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép.

Tại một số điều luật khác, các dấu hiệu định tội mang tính định tính như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “diện tích lớn” trước đây đều được định lượng hóa.

Ví dụ 1: Điều 189 BLHS năm 1999 về tội hủy hoại rừng quy định “người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng”, “hủy hoại diện tích rừng rất lớn”, “ hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn”. Tại BLHS năm 2015, những quy định này đã được thay thế bằng những định lượng cụ thể với các loại rừng như rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng sản xuất, rừng đặc dụng. Ví dụ, khoản 1 Điều 243 quy định hành vi hủy hoại cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ trên 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); rừng sản xuất có diện tích từ trên 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2); rừng phòng hộ có diện tích từ trên 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2); rừng đặc dụng có diện tích từ trên 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2), thì bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại rừng.

Điều 243 đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại BLHS năm 1999 bằng các định lượng cụ thể như gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ trên 30.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên; từ trên 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích rừng bị đốt, bị phá hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng không tập trung mà phân tán, rải rác trong cùng một tiểu khu hoặc nhiều tiểu khu.

Ví dụ 2: Điều 246 BLHS năm 2015 về tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại đã bỏ quy định mang tính không cụ thể “người nào cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 191a BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và thay vào đó là các hành vi vi phạm cụ thể như “nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới 250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”, “phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Tương tự, tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” cũng được thay bằng các định lượng cụ thể.

Ở lần sửa đổi lần này, đối với các tội phạm quy định cấu thành hình thức (tức là việc xử lý về hình sự sẽ căn cứ vào hành vi phạm tội, mà không cần phải đợi hậu quả của hành vi) thì việc quy định mức độ nghiêm trọng của hành vi để xử lý về hình sự được quy định dựa trên cơ sở tham khảo quy định của các văn bản về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, đồng thời căn cứ vào tính hợp lý, khả thi của quy định. Ví dụ: Đối với tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS năm 2015), hành vi xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải có độ pH từ 0 đến dưới 02 hoặc từ 12,5 đến 14 trong trường hợp lượng nước thải từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)/ngày thì bị xử lý hình sự, trong khi theo quy định của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử phạt cao nhất là từ 950 triệu đến một tỷ đồng trong trường hợp lưu lượng nước thải từ 10.000 m3/ngày trở lên. Như vậy, trong thời gian tới cần nghiên cứu sửa đổi các văn bản quy định các mức xử lý vi phạm hành chính cho phù hợp với quy định của BLHS vừa được ban hành.

Ngoài ra, BLHS năm 2015 cũng thể hiện đường lối, chính sách xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường, các trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý với mức phạt tiền rất cao, các cá nhân vi phạm có thể bị phạt tiền đến 3 tỷ đồng hoặc phạt tù đến 07 năm.

Thứ hai, BLHS năm 2015 đã bổ sung 01 tội danh mới: “Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông” (Điều 238)

Tội danh này được bổ sung nhằm xử lý các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; bảo vệ bờ, bãi sông; các hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; không tuân thủ quy trình, quy chuẩn vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, công trình phân lũ, làm chậm lũ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành gây hậu quả nghiêm trọng.

Thực tiễn vừa qua cho thấy nhiều vụ việc các cơ sở thủy điện xả lũ không đảm bảo thời gian thông báo cho các vùng dân cư ở khu vực hạ lưu gây ngập lụt, thiệt hại về vật chất nặng nề cho một số khu vực dân cư đó; các hành vi khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép diễn ra phổ biến, gây hậu quả sạt lở nghiêm trọng cho các bờ, bãi sông… trong khi các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực này không đủ tính răn đe và phòng ngừa hành vi vi phạm.

Tội phạm có cấu thành vật chất, các hành vi phạm tội chỉ bị xử lý hình sự khi gây ra các thiệt hại về sức khỏe của con người hoặc thiệt hại về tài sản. Hình phạt đối với các hành vi quy định tại khoản 1 bao gồm phạt tiền với mức phạt từ 50 triệu đến 300 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Khoản 2, 3 quy định chế tài đối với các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự (phạm tội có tổ chức, phạm tội từ 2 lần trở lên, làm chết người, gây thiệt hại về tài sản) với mức phạt tiền cao nhất lên đến 2 tỷ đồng và phạt tù lên đến 10 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 đến 05 năm.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung các điều luật theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng và nâng mức phạt tiền

Do tính chất nghiêm trọng của các tội phạm môi trường và xét mục đích chủ yếu của các hành vi phạm tội là nhằm vào lợi ích kinh tế nên phạm vi áp dụng của hình phạt tiền được mở rộng, mức phạt tiền được nâng lên đảm bảo tính răn đe, trừng trị đối với các hành vi vi phạm. Trước hết, về việc mở rộng phạm vi áp dụng của hình phạt tiền: Hình phạt tiền đã được bổ sung tại khung cơ bản (khoản 1) tại khoản 1 Điều 241 về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (đây là điều luật duy nhất không quy định hình phạt tiền tại khung cơ bản tại BLHS năm 1999). Hình phạt tiền đã được quy định tại khung tăng nặng của một số tội (ví dụ: Tội gây ô nhiễm môi trường; tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; tội vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm). Về việc nâng mức phạt tiền tại các điều luật: Các điều luật đã có sự điều chỉnh theo hướng nâng cao mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm, mức phạt tiền được quy định ở mức rất cao, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ví dụ: Tại Điều 146 về tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại, mức phạt tiền được nâng lên, khoản 1 quy định mức phạt từ 100 triệu đến 1 tỷ đồng thay cho mức quy định của Điều 191a BLHS năm 1999 là từ 50 triệu đến 500 triệu đồng; Điều 243 về tội hủy hoại rừng quy định hình phạt tiền tại khoản 1 được nâng lên mức từ 50 triệu đến 500 triệu so với quy định tại BLHS năm 1999 là từ 10 triệu đến 100 triệu để đảm bảo tính răn đe.

Thứ tư, bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số tội phạm về môi trường

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân thương mại đã được quy định vào trong BLHS năm 2015. Việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân xuất phát từ thực tế trong thời gian vừa qua, nhiều pháp nhân, doanh nghiệp đã thực hiện nhiều hành vi gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng nhưng do BLHS chưa quy định vấn đề này nên việc xử lý trách nhiệm của các pháp nhân này gặp nhiều khó khăn và thiếu hiệu quả. Trong khi đó, các chế tài hành chính với mức xử phạt tiền cao nhất đến 2 tỷ đồng đối với các pháp nhân không đảm bảo tính răn đe và không tương xứng với tính chất nghiêm trọng của các hành vi vi phạm. Ngoài ra, cơ chế kiện dân sự hiện nay cũng gây khó khăn đối với những người bị thiệt hại bởi các hành vi phạm tội của các doanh nghiệp trong việc yêu cầu bồi thường như vấn đề chứng minh hậu quả của hành vi phạm tội và các thiệt hại xảy ra.

BLHS năm 2015 đã bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với đa số các tội phạm về môi trường, cụ thể là đối với các tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242); tội hủy hoại rừng (Điều 243); tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

Việc xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân sẽ căn cứ vào mức độ và tính chất nghiêm trọng của hành vi của các cá nhân thuộc pháp nhân, theo đó tại các điều luật được thiết kế một khung riêng để quy định hình phạt đối với pháp nhân, trong đó hình phạt áp dụng đối với pháp nhân sẽ tương ứng với các trường hợp phạm tội của cá nhân nêu tại các khoản của điều luật. Hình phạt chính được áp dụng chủ yếu đối với pháp nhân phạm tội bao gồm hình phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Mức phạt đối với pháp nhân rất cao, ví dụ mức phạt đối với hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam có thể lên đến 07 tỷ đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân phạm tội là phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm. Các hình phạt bổ sung bao gồm phạt tiền, cấm huy động vốn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định với thời hạn cấm cụ thể.

2. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường

Trong lần sửa đổi lần này, hai tội danh được áp dụng tương đối phổ biến là tội gây ô nhiễm môi trường và tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đã có những sửa đổi, bổ sung cơ bản, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường, đồng thời đảm bảo thực hiện một số Công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Đối với nhóm các tội gây ô nhiễm như tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235), tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236), tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239), trong cấu thành tội phạm của các tội này đã quy định “chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockhom về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy”.

Trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã, Điều 244 BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi đối tượng các loài động vật hoang dã được bảo vệ tại Điều này, theo đó đối tượng được bảo vệ không chỉ là các động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP (về tiêu chí xác định loài và chế độ thuộc loài danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) mà còn đối với cả các cá thể thuộc Nhóm IB ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và các cá thể quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

Về việc quy định hành vi phạm tội, BLHS thể hiện chính sách xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm thông qua việc bổ sung 03 nhóm hành vi liên quan đến quản lý, bảo vệ động vật thuộc Nhóm IB và Phụ lục I như sau: (i) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán một số lượng cá thể sống nhất định (điểm c khoản 1); (ii) Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép một số lượng nhất định cá thể (đã chết) hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại (điểm d khoản 1). Đồng thời, bổ sung nhóm hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép sừng tê giác và ngà voi nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này (điểm b khoản 1). Một số trường hợp vi phạm dưới mức định lượng nói trên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi này, hoặc đã bị kết án về tội này mà còn vi phạm (điểm đ khoản 1). Chính sách xử lý nghiêm khắc cũng thể hiện ở việc BLHS năm 2015 đã hình sự hóa hành vi tàng trữ cá thể (đã chết), bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài quy định tại nhóm IB và Phụ lục I CITES (điểm b, điểm d khoản 1 Điều 244) nhằm bảo đảm xử lý triệt để hơn các hành vi phạm tội, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.

Điều luật bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội với chế tài phạt tiền từ 1 tỷ đến 15 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đến 600 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

ThS. Lê Văn Minh

Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: