Thứ hai 21/09/2026 01:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của Luật Người tiêu dùng Úc về điều kiện giao dịch chung bất bình đẳng và những gợi mở cho Việt Nam

Bài viết khái quát những nội dung cơ bản của điều kiện giao dịch chung, phân tích những quy định của Luật Người tiêu dùng Úc về điều kiện giao dịch chung bất bình đẳng, so sánh với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi mở hoàn thiện pháp luật về điều kiện giao dịch chung.


1. Khái quát về điều kiện giao dịch chung

Điều kiện giao dịch chung được hiểu là những điều khoản do một bên soạn sẵn để sử dụng, bên còn lại không có khả năng đàm phán thay đổi nội dung mà chỉ có thể ở vị thế lựa chọn chấp thuận hoặc từ chối điều khoản[1] nếu như muốn giao kết hợp đồng, tức là phía bên kia giao kết hợp đồng với bên soạn thảo điều kiện giao dịch chung hoàn toàn không có khả năng để đàm phán, thương lượng sửa đổi các điều khoản đó, chỉ có thể lựa chọn một là chấp nhận hợp đồng, hai là từ chối ký kết hợp đồng, không có quyền tự do trao đổi hay đề xuất sửa đổi các điều kiện ấy. Điều kiện giao dịch chung được sử dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng khác nhau trong quan hệ giao dịch với hình thức thể hiện rất đa dạng, đó không chỉ là những điều khoản trong hợp đồng mà còn là những điều kiện, quy tắc thành lập hợp đồng, nếu phía bên kia không chấp nhận những điều kiện này thì hợp đồng không được thành lập. Chúng không giới hạn trong một điều khoản cụ thể nào của hợp đồng, có thể là toàn bộ hợp đồng hoặc cũng có thể là một số điều khoản điển hình, như điều khoản miễn trách, điều khoản trọng tài[2]...

Với đặc thù là những điều khoản được soạn trước nhằm áp dụng cho một nhóm khách hàng cùng loại nên điều kiện giao dịch chung có tính ổn định cao, giúp doanh nghiệp không phải soạn thảo nhiều lần các điều khoản giống nhau, lặp đi lặp lại, có thể sử dụng cho nhiều khách hàng khác nhau đối với giao dịch cùng loại, qua đó sẽ giảm được thời gian soạn thảo, đàm phán, chi phí đi lại giữa các bên, cải thiện đáng kể hiệu quả kinh tế cho các bên trong giao kết hợp đồng.

Tuy nhiên, do điều kiện giao dịch được soạn thảo trước bởi một bên nên dẫn tới việc bên soạn thảo sẽ soạn theo hướng có lợi cho mình hoặc người sử dụng chúng, nội dung hàm chứa những điều khoản nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro cho mình và lẽ tất nhiên, khi bên này tạo ra cho mình những lợi thế thì bên kia sẽ ở tình thế bất lợi hơn, nhằm tối đa hóa lợi nhuận hoặc giảm rủi ro pháp lý cho mình. Hơn thế nữa, bên soạn thảo các điều kiện giao dịch chung là bên đặt ra các điều khoản soạn sẵn nên có điều kiện tìm hiểu kỹ lĩnh vực mà mình kinh doanh (bao gồm cả những quy định pháp luật có liên quan). Do vậy, việc lựa chọn điều khoản nào để đưa vào hợp đồng đều đã được tính toán kỹ. Bên ký kết hợp đồng với bên soạn thảo điều kiện giao dịch chung luôn ở vào thế bị động (chủ yếu là người tiêu dùng) và hậu quả là họ dễ gặp tổn thất nếu rủi ro xảy ra. Chính vì vậy, pháp luật của một số nước trên thế giới đã có những quy định nhằm hạn chế những điều kiện giao dịch chung bất bình đẳng hay còn gọi là những điều khoản bất bình giữa các bên trong hợp đồng, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng trước các điều khoản bất bình đẳng do các doanh nghiệp đặt ra.

Úc là một quốc gia theo hệ thống luật common law nhưng úc đã ban hành một số văn bản pháp luật thành văn có quy định về hợp đồng mẫu. Nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước các điều kiện giao dịch chung không công bằng, Luật Người tiêu dùng úc quy định hạn chế các điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng mẫu.

2. Quy định của Luật Người tiêu dùng úc về điều khoản bất bình đẳng

Luật Người tiêu dùng của úc (Australian Consumer Law - ACL)[3] dành riêng một phần để quy định về các điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng mẫu (Phần 2 - 3, Chương 2) trong đó có một số nội dung quan trọng sau:

Theo quy định của ACL, Tòa án sẽ căn cứ vào một trong những dấu hiệu sau để xác định các điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng: (i) Nếu một bên yêu cầu xem xét các điều khoản đó là điều kiện giao dịch chung thì điều khoản đó được suy đoán là điều kiện giao dịch chung trừ khi bên còn lại chứng minh điều ngược lại. (ii) Để xác định một hợp đồng có các điều kiện giao dịch chung hay không, Tòa án sẽ xem xét các yếu tố sau: Liệu một bên có chiếm hoàn toàn hoặc phần lớn quyền lực đàm phán trong giao dịch; liệu hợp đồng có được soạn sẵn bởi một bên trước khi xảy ra việc thương lượng về giao dịch giữa các bên; liệu một bên có bị yêu cầu chấp nhận hay từ chối điều khoản của hợp đồng theo form mẫu; liệu một bên có cơ hội để đàm phán các điều khoản của hợp đồng; liệu các điều khoản của hợp đồng có xem xét tới điều kiện riêng biệt của một bên hoặc của một giao dịch riêng biệt; các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.

(i) Về phạm vi áp dụng: Các quy định hạn chế điều khoản bất bình đẳng trong ACL chỉ áp dụng khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Điều khoản đó nằm trong hợp đồng mẫu, và hợp đồng mẫu đó có sự tham gia của một bên là người tiêu dùng hoặc các doanh nghiệp nhỏ[4].

Trước đây, quy định hạn chế điều khoản bất bình đẳng chỉ áp dụng đối với hợp đồng với người tiêu dùng. Kể từ ngày 12/11/2016 khi các sửa đổi của ACL có hiệu lực, thì phạm vi áp dụng của các quy định này đã mở rộng bao gồm cả các hợp đồng với doanh nghiệp nhỏ. Việc mở rộng phạm vi áp dụng của ACL được cho là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp nhỏ - là các bên yếu thế trong giao dịch và lợi ích của họ ngày càng bị hạn chế bởi việc lạm dụng các điều kiện giao dịch chung của các doanh nghiệp lớn[5].

Tuy nhiên, một số loại hợp đồng sau đây bị loại trừ trong phạm vi áp dụng của các quy định về điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng mẫu: Hợp đồng vận tải bằng đường biển; Hợp đồng liên quan tới việc thành lập công ty (Điều lệ công ty), các thỏa thuận về quản lý đầu tư và các thỏa thuận tương tự; Hợp đồng với doanh nghiệp nhỏ mà được điều chỉnh bởi các luật khác của Chính phủ liên quan hoặc Chính phủ các bang[6].

(ii) Về điều kiện để một điều khoản bị coi là “bất bình đẳng”: Điều khoản bị coi là bất bình đẳng nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

Một là, điều khoản đó gây ra sự mất cân bằng lớn về quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng. Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh sự mất cân bằng lớn về quyền và lợi ích của các bên[7];

Hai là, điều khoản đó là không cần thiết một cách hợp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp của một bên có lợi từ điều khoản đó. Khi các điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bị xem xét bởi Tòa án thì điều kiện đó được suy tắc là không cần thiết một cách hợp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp của một bên có lợi từ điều kiện giao dịch chung đó. Do đó, nghĩa vụ của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung là phải chứng minh điều ngược lại, tức là điều kiện đó là cần thiết một cách hợp lý để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bên soạn thảo[8];

Ba là, điều khoản đó sẽ gây thiệt hại (về mặt tài chính hoặc các vấn đề khác) đối với một bên nếu điều kiện đó được áp dụng[9]. Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh nguy cơ gây thiệt hại khi áp dụng điều kiện giao dịch chung đang xem xét.

Để xác định một điều khoản có “bất bình đẳng” hay không, Tòa án phải xem xét tới tính minh bạch của điều khoản và xem xét điều khoản đó đặt trong hợp đồng như một thể thống nhất. Theo khoản 3 Điều 24 ACL, điều kiện giao dịch chung được coi là minh bạch trong hợp đồng thì phải được thể hiện bằng ngôn từ dễ hiểu, được trình bày rõ ràng và luôn sẵn sàng để bất cứ bên nào bị ảnh hưởng bởi điều khoản đó có thể tiếp cận được chúng. Theo hướng dẫn của ủy ban về cạnh tranh và người tiêu dùng úc (Australian Competition and Consumer Commission - ACCC), các điều khoản có thể bị coi là không minh bạch thường là những điều khoản bị “dấu” trong các phụ lục hoặc các bản in đính kèm với cỡ chữ nhỏ, các thuật ngữ pháp lý khó hiểu hoặc thuật ngữ kỹ thuật phức tạp hoặc các quy định mơ hồ và mâu thuẫn lẫn nhau. Việc đánh giá một điều khoản có phải là “bất bình đẳng” hay không cũng phải được xem xét dựa trên mối quan hệ với các điều khoản khác. Một điều khoản có thể bị coi là bất bình đẳng nếu xem xét riêng biệt nhưng khi đặt trong hợp đồng, trong mối quan hệ với các điều khoản khác thì có thể sự công bằng được tái lập nhờ quy định trong một (một số) điều khoản khác của hợp đồng. Do đó, khi xem xét, Tòa án thường đánh giá giữa lợi ích thương mại hợp pháp của một bên với những thiệt hại, bất lợi mà bên kia phải chịu nếu điều khoản đó được áp dụng. Ví dụ, một số doanh nghiệp thường đưa ra điều khoản cho phép cho được đơn phương thay đổi hợp đồng hoặc thu hẹp phạm vi cam kết mà không phải chịu chế tài nào. Những điều khoản này có thể bị coi là bất bình đẳng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sử dụng những điều khoản này để quản lý rủi ro và hạn chế chi phí. Nếu một doanh nghiệp phải đàm phán lại với mọi người tiêu dùng khi có một số thay đổi về hoàn cảnh dẫn tới thay đổi nội dung hợp đồng, điều này sẽ rất tốn kém và buộc doanh nghiệp phải tăng giá do phát sinh chi phí giao dịch. Khi đó, việc quản lý rủi ro và tối thiểu chi phí có thể được Tòa án coi là những lợi ích thương mại hợp pháp của doanh nghiệp để Tòa án xem xét. Tuy nhiên, liệu những lợi ích này có cân bằng với thiệt hại mà người tiêu dùng phải chịu hay không thì cần đánh giá trong từng vụ việc cụ thể[10].

Ngoài các điều khoản quy định chung về điều khoản bất bình đẳng, ACL cũng đưa ra một danh sách mở các điều kiện giao dịch chung có thể bị coi là bất bình đẳng, bao gồm: Điều khoản cho phép một bên (nhưng không cho phép bên còn lại) tránh hoặc hạn chế việc thực hiện hợp đồng; điều khoản cho phép một bên (nhưng không cho phép bên còn lại) chấm dứt hợp đồng; điều khoản phạt chỉ áp dụng cho một bên khi vi phạm hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng; điều khoản cho phép một bên (nhưng không cho phép bên còn lại) thay đổi điều khoản của hợp đồng; điều khoản cho phép một bên (nhưng không cho phép bên còn lại) gia hạn hoặc không gia hạn hợp đồng; điều khoản cho phép một bên thay đổi mức giá trả trước theo hợp đồng nhưng không cho bên còn lại chấm dứt hợp đồng; điều khoản cho phép một bên đơn phương thay đổi tính chất của hàng hóa, dịch vụ cung cấp hoặc quyền lợi về đất đai được chuyển nhượng theo hợp đồng; điều khoản cho phép một bên có quyền đơn phương xác định liệu hợp đồng có bị vi phạm hay không hoặc được quyền đơn phương giải thích hợp đồng; điều khoản giới hạn trách nhiệm pháp lý của một bên đối với các đại lý, người đại diện của bên đó; điều khoản cho phép một bên chuyển giao hợp đồng gây bất lợi cho bên còn lại mà không cần sự chấp thuận của bên còn lại; điều khoản giới hạn quyền khởi kiện của một bên đối với bên còn lại; điều khoản giới hạn các chứng cứ mà một bên có thể viện dẫn trong các thủ tục, quy trình liên quan tới hợp đồng; điều khoản áp đặt nghĩa vụ chứng minh lên một bên trong hợp đồng trong các thủ tục, quy trình liên quan tới hợp đồng; điều khoản khác bị cấm bởi quy định pháp luật[11].

(iii) Về hậu quả pháp lý nếu một điều khoản bị coi là “bất bình đẳng”: Trong trường hợp điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng mẫu là điều khoản bất bình đẳng, khi đó, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố điều khoản đó bị vô hiệu. Tuy nhiên, các điều khoản khác của hợp đồng vẫn tiếp tục có hiệu lực. Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng mẫu là điều khoản bất bình đẳng bao gồm: Một là, các cá nhân ký kết hợp đồng, khi đó, nếu Tòa án tuyên điều khoản bị yêu cầu là bất bình đẳng thì điều khoản đó trong hợp đồng đang xem xét sẽ vô hiệu. Hai là, các cơ quan có thẩm quyền thực thi ACL (gồm: ủy ban về cạnh tranh và người tiêu dùng úc (ACCC) và cơ quan bảo vệ người tiêu dùng ở các bang)[12] có quyền yêu cầu Tòa án xem xét các điều khoản trong hợp đồng mẫu mà doanh nghiệp đưa ra. Nếu Tòa án tuyên điều khoản đó là bất bình đẳng thì điều khoản đó sẽ vô hiệu trong hợp đồng cụ thể mà ACCC yêu cầu Tòa xem xét và trong tất cả các hợp đồng mẫu mà doanh nghiệp đó đã ký kết có chứa điều khoản này[13].

(iv) Về chế tài đối với doanh nghiệp đưa ra điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng mẫu: ACL không đưa ra mức xử phạt đối với doanh nghiệp trong trường hợp này, tuy nhiên doanh nghiệp sử dụng điều khoản bất bình đẳng có thể bị yêu cầu bồi thường cho các tổn thất phát sinh do điều khoản này[14].

3. Quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 về điều khoản bất bình đẳng

Theo khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng.

Tương tự như Luật Người tiêu dùng của úc, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam liệt kê cụ thể các trường hợp điều kiện giao dịch chung sẽ không có hiệu lực nếu trong hợp đồng giao kết với người tiêu dùng có những điều khoản bất bình đẳng. So với Luật Người tiêu dùng của úc thì các điều khoản bất bình đẳng trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam có nhiều điểm chung, chẳng hạn như các điều khoản về: (i) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật; hạn chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng; (ii) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương thay đổi điều kiện của hợp đồng đã thỏa thuận trước với người tiêu dùng hoặc quy tắc, quy định bán hàng, cung ứng dịch vụ áp dụng đối với người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không được thể hiện cụ thể trong hợp đồng; (iii) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ; (iv) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản của hợp đồng được hiểu khác nhau; (v) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý.

Bên cạnh những điều khoản có nội hàm giống nhau đó thì Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 còn liệt kê thêm các điều khoản khác so với Luật Người tiêu dùng của úc, đó là các điều khoản về: (i) Cho phép tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đơn phương xác định người tiêu dùng không thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ; (ii) Loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua bên thứ ba; (iv) Bắt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không hoàn thành nghĩa vụ của mình

Khác với Luật Người tiêu dùng úc, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam không quy định cụ thể dấu hiệu nhận biết các điều khoản bất bình đẳng hay hậu quả pháp lý của hợp đồng chứa đựng các điều khoản bất bình đẳng. Nhằm kiểm soát các điều kiện giao dịch chung bất bình đẳng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam quy định khi giao kết hợp đồng với người tiêu dùng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng điều kiện giao dịch chung phải có trách nhiệm thông báo công khai điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch với người tiêu dùng; phải xác định rõ thời điểm áp dụng và phải được niêm yết ở nơi thuận lợi tại địa điểm giao dịch để người tiêu dùng có thể nhìn thấy. Ngoài việc phải công khai các điều kiện giao dịch chung, tổ chức, cá nhân kinh doanh loại hàng hóa và dịch vụ thiết yếu phải có trách nhiệm đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Điều 18, Điều 19).

Theo Luật Người tiêu dùng úc thì danh mục các điều khoản bất bình đẳng trên không bị hạn chế, bởi trong quá trình xét xử, Toà án có quyền tuyên những điều khoản khác là điều khoản bất bình đẳng nếu trong các hợp đồng được giao kết giữa doanh nghiệp đặt ra các điều kiện giao dịch chung và người tiêu dùng có đối tượng hoặc hệ quả tạo ra một sự mất cân xứng một cách rõ ràng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Như vậy, Luật Người tiêu dùng úc đã mở rộng thêm quyền của Tòa án được phép bổ sung các điều khoản có dấu hiệu lạm dụng quyền lợi của người tiêu dùng trong khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam chưa tăng thêm quyền này cho Tòa án.

4. Một số gợi mở cho Việt Nam

Từ nghiên cứu so sánh trên có thể khẳng định: Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng điều kiện giao dịch chung phải được nhận thức đầy đủ và rõ ràng đối với tất cả các bên liên quan trong các giao dịch dân sự. Để tránh việc bên soạn thảo điều kiện giao dịch chung bảo vệ thái quá quyền lợi của mình, việc bảo vệ người tiêu dùng trước các điều kiện giao dịch chung bất bình đẳng là việc làm hết sức cần thiết. Nhằm tăng cường sự kiểm soát chặt chẽ các điều khoản bất bình đẳng gây bất lợi cho người tiêu dùng thì các điều khoản quy định về điều kiện giao dịch chung trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam nên được hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, quy định thêm điều kiện chung để xác định điều kiện giao dịch chung có dấu hiệu bất bình đẳng giữa các bên trong giao kết và thực hiện hợp đồng nhằm hạn chế khả năng hình thành và áp dụng các điều kiện giao dịch chung bất hợp lý của bên soạn thảo điều kiện giao dịch chung. Điều kiện giao dịch chung phải đảm bảo sự bình đẳng, trung thực giữa các bên giao kết hợp đồng. Nếu điều khoản đó gây ra sự mất cân bằng lớn về quyền và lợi ích của các bên trong hợp đồng thì cần phải xác định ngay điều khoản đó là bất bình đẳng. Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên (khoản 3 Điều 406). Cách quy định này còn quá chung chung, điều kiện giao dịch chung như thế nào thì thể hiện sự bình đẳng giữa các bên, tiêu chí nào để đánh giá sự bình đẳng đó thì chưa được làm rõ trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, bổ sung các điều khoản bất bình đẳng để thuận tiện cho Tòa án, các cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, doanh nghiệp đưa ra điều kiện giao dịch chung và người tiêu dùng căn cứ vào đó có thể dễ dàng nhận thấy các điều khoản bất bình đẳng trong hợp đồng, từ đó người tiêu dùng có thể tự bảo vệ mình trước các điều khoản không công bằng do các doanh nghiệp đặt ra.

Thứ ba, ngoài các điều khoản bất bình đẳng đã được liệt kê trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì nên cho phép Tòa án trong quá trình xét xử có thẩm quyền bổ sung các điều khoản bất bình đẳng nếu Tòa án xét thấy những điều khoản đó có dấu hiệu bất bình đẳng, gây bất lợi một cách phi lý cho người tiêu dùng hay có sự lạm dụng vị thế của các doanh nghiệp trong soạn thảo điều kiện giao dịch chung. Trong quá trình xét xử, Tòa án có thể can thiệp vào việc xem xét tính hợp lý và khả năng áp dụng các điều kiện giao dịch chung, có thể tuyên bố loại trừ việc áp dụng điều kiện giao dịch chung. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể tuyên bố điều kiện giao dịch chung đó bị vô hiệu.

ThS. Nguyễn Thị Huyền

Đại học Ngoại thương





[1]. F. Kessler, Contracts of Adhesion—some Thoughts about Freedom of Contract, 1943 Colum.L.Rev, tr 629

[2]. Tăng Văn Nghĩa (2009), Bàn về điều kiện giao dịch chung của doanh nghiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

[3]. Luật Người tiêu dùng úc là một phần của Đạo luật về cạnh tranh và người tiêu dùng của úc năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2016 (Competition and Consumer Act 2010). Toàn văn Đạo luật này xem tại: http://www.austlii.edu.au/au/legis/cth/consol_act/caca2010265/sch2.html.

[4]. Điều 23 ACL.

[5]. Tham khảo trực tuyến tại: Http://treasury.gov.au/ConsultationsandReviews/Consultations/2016/Extending-unfair-contract-term-protections-sml-bus truy cập ngày 08/08/2017.

[6]. Điều 28 ACL.

[7]. Australian Competition and Consumer Commission, Unfair contract terms - a guide for business and legal practitioners 2016, nguồn: Https://www.accc.gov.au/publications/a-guide-to-the-unfair-contract-terms-law , tr. 11.

[8]. Australian Competition and Consumer Commission, Tlđd, tr.11.

[9]. Điều 24 ACL.

[10]. Australian Competition and Consumer Commission, Tlđd, tr. 12.

[11]. Điều 25 ACL.

[12]. úc là Nhà nước liên bang, tại mỗi bang có Chính phủ riêng. ACCC là cơ quan chuyên trách về bảo vệ người tiêu dùng và quản lý cạnh tranh của Nhà nước liên bang. Tại chính phủ mỗi bang lại có thể thành lập các cơ quan riêng về bảo vệ người tiêu dùng.

[13]. Australian Competition and Consumer Commission, Tlđd, tr. 7.

[14]. Australian Competition and Consumer Commission, Tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: