Thứ ba 10/03/2026 20:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của Luật Thi hành án dân sự về bản án, quyết định được thi hành - Thực trạng và một số kiến nghị

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng quy định của pháp luật về bản án, quyết định được thi hành và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự trong thời gian tới.

Abstract: The paper analyses the real situation of provisions on executed judgment, decision and makes some recommendations for completion of the Law on civil judgment execution in the next time.

1. Một số bất cập trong các quy định của pháp luật về bản án, quyết định được thi hành trong lĩnh vực dân sự

Hiện nay, các bản án, quyết định của Tòa án chủ yếu liên quan đến ba lĩnh vực chính đó là hình sự, dân sự và hành chính. Tương ứng với nó, có ba lĩnh vực thi hành án là thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và thi hành án hành chính. Trong đó, các bản án, quyết định được thi hành trong lĩnh vực dân sự đang được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Thi hành án dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, việc thi hành bản án, quyết định về dân sự đương nhiên được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, việc thi hành phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính quy định trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, cũng như việc thi hành bản án, quyết định hình sự sơ thẩm hoặc phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đều được dẫn chiếu đến Luật Thi hành án dân sự và được thi hành theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, quy định của pháp luật về phạm vi bản án, quyết định được thi hành trong Luật Thi hành án dân sự và trong các văn bản luật khác, đặc biệt là những văn bản luật mới được ban hành đã có sự thiếu thống nhất, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, cụ thể như sau:

Một là, phạm vi bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 rộng hơn so với quy định của Luật Thi hành án dân sự. Cụ thể, Luật Thi hành án dân sự quy định về những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị[1], bao gồm: “a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[2], ngoài những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị như đã được quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự nên trên, còn bổ sung thêm một số trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị gồm: Khoản về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công.

Như vậy, giữa quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định của Luật Thi hành án dân sự về phạm vi bản án, quyết định được thi hành đã có sự thiếu thống nhất[3]. Sự thiếu thống nhất này phần nào đã gây khó khăn, trở ngại cho chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc tiếp nhận và tổ chức thi hành những bản án, quyết định mà chưa được liệt kê trong Luật Thi hành án dân sự.

Hai là, về thi hành quyết định giám đốc thẩm. Mục 3 Chương V Luật Thi hành án dân sự có 03 điều quy định về thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, đó là: (i) Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (Điều 134); (ii) Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa (Điều 135); (iii) Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (Điều 136).

Trong khi đó, Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ngoài thẩm quyền ban hành những bản án, quyết định (khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 343) tương ứng được thi hành theo quy định tại các Điều 134, 135 và Điều 136 Luật Thi hành án dân sự như đã phân tích ở trên, còn được bổ sung thêm thẩm quyền hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm (khoản 3) và thẩm quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (khoản 5). Như vậy, so với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về loại bản án, quyết định giám đốc thẩm được thi hành thì Luật Thi hành án dân sự chưa quy định về việc thi hành quyết định giám đốc thẩm trong trường hợp tuyên hủy một phần bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm và tuyên sửa một phần bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Sự thiếu thống nhất này cũng phần nào gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà chưa được quy định trong Luật Thi hành án dân sự. Lý do nữa cho thấy sự băn khoăn của cơ quan thi hành án dân sự khi tiếp nhận và tổ chức thi hành những loại bản án, quyết định này là có cơ sở, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Thi hành án dân sự thì chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Điều này cũng có thể được hiểu là chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định đã được quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Câu hỏi đặt ra đó là, những bản án, quyết định khác của Tòa án không được quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự không và chấp hành viên có nhiệm vụ tổ chức thi hành đối với các loại bản án, quyết định này không. Mặc dù, khoản 2 và khoản 3 Điều 485 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định về thời hạn chuyển giao bản án, quyết định như sau: “Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định” và “Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định”. Với tinh thần tôn trọng và bảo đảm thực thi mọi bản án, quyết định của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên theo quy định của Hiến pháp, trên thực tế, chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự sau khi nhận các bản án, quyết định loại này đều tổ chức thi hành bình thường theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Tuy nhiên, để bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất của pháp luật và bảo đảm sự yên tâm cho chấp hành viên khi thi hành nhiệm vụ thì cần có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những quy định cần thiết về bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ba là, thiếu các quy định cần thiết của pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh việc thi hành án đối với tài sản hình thành trong tương lai, mặc dù khái niệm “tài sản hình thành trong tương lai” và các chế định pháp lý có liên quan đã được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 và đặc biệt là các văn bản pháp luật mới được ban hành. Các quy định pháp luật điều chỉnh về tài sản hình thành trong tương lai như Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã quy định tài sản hình thành trong tương lai gồm tài sản được hình thành từ vốn vay; tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật. Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất (khoản 2 Điều 1). Các văn bản pháp luật mới được ban hành quy định về tài sản hình thành trong tương lai, điển hình như Luật Nhà ở năm 2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015, quy định về thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai (Điều 147); về điều kiện thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai (Điều 148) và xử lý tài sản nhà ở, dự án đầu tư xây dựng nhà ở thế chấp (Điều 149). Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 quy định về quyền kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai (Điều 54); về điều kiện của bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh (Điều 55) và bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai (Điều 56). Thông tư số 26/2015/TT-NHNN ngày 09/12/2015 của Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thế chấp và giải chấp tài sản là dự án đầu tư xây dựng nhà ở, nhà ở hình thành trong tương lai,…

Trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ có 04 điều liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai như phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (khoản 2 Điều 319), vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (khoản 2 Điều 320), thế chấp tài sản (khoản 1 Điều 342), quyền của bên nhận thế chấp tài sản trong trường hợp nhận thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai (khoản 6 Điều 351). Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017, đã bổ sung thêm nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến tài sản hình thành trong tương lai, cụ thể tại các Điều 105, 108, 293, 294, 295, 336. Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 ngoài kế thừa khái niệm “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” như quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 còn bổ sung thêm một điểm mới, đó là “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”[4]. Tiếp theo, Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung quy định mới về khái niệm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Cụ thể, tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành; tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Ngoài ra, các quy định mới khác có liên quan đến các chế định pháp lý về tài sản hình thành trong tương lai được quy định tại Bộ luật này như quy định về phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh (Điều 293); bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai (Điều 294); tài sản bảo đảm (Điều 295) và phạm vi bảo lãnh (Điều 336).

Việc xuất hiện nhiều văn bản pháp luật mới quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch dân sự, thương mại, kinh tế đặc biệt là các giao dịch liên quan đến bất động sản, tín dụng, ngân hàng đã thúc đẩy các giao dịch có liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai phát triển, đồng thời cũng phát sinh những tranh chấp và kết quả tranh chấp được thể hiện bằng những bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định giải quyết của trọng tài thương mại có liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục và các nội dung có tính đặc thù để tổ chức thi hành các loại án này lại chưa được luật hóa trong Luật Thi hành án dân sự, cùng với việc thiếu sự xác minh trên thực tiễn về sự tồn tại của tài sản hình thành trong tương lai trước khi ban hành các bản án, quyết định của Tòa án đã gây ra không ít khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự khi phải xử lý các vấn đề có liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai trong thời gian qua.

2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về bản án, quyết định được thi hành trong lĩnh vực dân sự

Luật Thi hành án dân sự là văn bản pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực thi hành án dân sự, do đó, quy định phạm vi bản án, quyết định được thi hành trong văn bản luật này có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp lý cho chấp hành viên tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Trước đây, phạm vi bản án, quyết định được thi hành trong các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự (Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 và Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004) ngoài việc liệt kê các loại bản án, quyết định được thi hành, còn bổ sung thêm một ý mở, đó là “bản án, quyết định khác do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được ban hành và sau này được sửa đổi, bổ sung năm 2014, đã không còn đưa thêm ý “bản án, quyết định khác do pháp luật quy định” vào trong phạm vi các bản án, quyết định được thi hành. Thực tế là, các văn bản luật mới được ban hành (ban hành sau Luật Thi hành án dân sự), ví dụ Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, pháp luật về tín dụng, ngân hàng, đăng ký giao dịch bảo đảm..., bổ sung thêm phạm vi bản án, quyết định được thi hành hoặc bổ sung thêm các chế định pháp lý mới ngoài phạm vi bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì việc tổ chức thi hành đối với các loại bản án, quyết định loại này đối với chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự đã gặp những khó khăn, lúng túng và tâm lý e ngại nhất định, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Để khắc phục những khó khăn nêu trên, trong thời gian tới, cần nghiên cứu thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, nghiên cứu, bổ sung quy định về phạm vi bản án, quyết định được thi hành trong Luật Thi hành án dân sự theo hướng mở, tức là ngoài việc liệt kê các bản án, quyết định được thi hành theo quy định truyền thống, nên bổ sung thêm một quy định có tính chất mở, đó là “các bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật”. Ngoài ra, để bảo đảm tính ổn định của Luật Thi hành án dân sự, không bị lạc hậu khi có Luật mới được ban hành thì cần phải chú trọng nghiên cứu, bổ sung vào Luật Thi hành án dân sự việc thi hành các kết quả giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án hoặc Trọng tài. Nội dung này đã được quy định mới tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và đây cũng là một bước thể chế hóa các nhiệm vụ về cải cách tư pháp của Đảng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Chủ trương này của Đảng cũng phù hợp với thông lệ và xu hướng giải quyết tranh chấp trên thế giới. Ví dụ, các hướng dẫn để thực hiện tốt hơn các kiến nghị hiện hành của Hội đồng châu Âu về thi hành án dân sự đã được thông qua bởi Ủy ban châu Âu về tính hiệu quả của hoạt động tư pháp tại phiên họp toàn thể lần thứ 14[5] đã khuyến nghị rằng, “nên ưu tiên giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự thông qua sự thỏa thuận để việc thi hành án được thực hiện thuận lợi trong một khoảng thời gian hợp lý theo quy định. Khi mà thỏa thuận giữa các bên đã đạt được về một khoảng thời gian thi hành án hợp lý thì sau đó bất kỳ một thủ tục tố tụng nào của các quốc gia thành viên cũng không nên cản trở hiệu lực thi hành của những thỏa thuận đã đạt được này”. Ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi mà cơ chế tố tụng, thi hành án chưa thực sự hiệu quả và đạt mức độ tin tưởng cần thiết thì việc thương lượng, hòa giải ngoài Tòa án giữa các bên cũng là một lựa chọn hợp lý giữa các bên tranh chấp nhằm giảm thiểu các chi phí tố tụng và thời gian tố tụng không cần thiết[6].

Hai là, sửa đổi, bổ sung câu 1 khoản 1 Điều 17 Luật Thi hành án dân sự theo hướng mở. Cụ thể, thay vì quy định: “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này”, nên được sửa đổi lại như sau:“Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành tất cả các bản án, quyết định của Tòa án; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại được quy định tại Luật Thi hành án dân sự, các văn bản pháp luật khác có liên quan và các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định”.

Tương tự, các Điều 27, Điều 28 Luật Thi hành án dân sự cũng cần được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, ví dụ, Điều 27 về cấp bản án, quyết định quy định: “Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”” nên được sửa đổi, bổ sung lại thành “Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại Luật Thi hành án dân sự và các luật khác có liên quan phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành””.

Thực tế, Luật Thi hành án dân sự không thể luôn luôn được sửa đổi, bổ sung cùng với việc sửa đổi hoặc ban hành mới của các luật khác, do đó, những quy định về phạm vi bản án, quyết định được thi hành trong Luật Thi hành án dân sự phải là quy định mở và có tính ổn định cao để bảo đảm luôn có sự thống nhất giữa Luật Thi hành án dân sự với các luật mới được ban hành và luôn bảo đảm mọi bản án, quyết định được ban hành đều có căn cứ pháp lý chặt chẽ để cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng về cải cách tư pháp đã được xác định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đó là “xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Thi hành án dân sự về trình tự, thủ tục thi hành quyết định giám đốc thẩm trong trường hợp tuyên hủy một phần bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm và tuyên sửa một phần bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Thi hành án dân sự về trình tự, thủ tục và những quy định pháp lý đặc thù cần thiết liên quan đến việc tổ chức thi hành các loại bản án, quyết định liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai.

ThS. Nguyễn Văn Nghĩa

Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự.

[2]. Khoản 2 Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Xem thêm Chuyên đề “Khái quát chung về pháp luật thi hành án dân sự tại Việt Nam, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự”, Tài liệu Hội thảo: Trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực thi hành án dân sự giữa Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội và Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp, được tổ chức tại Hà Nội, ngày 07/7/2017, tr.12.

[4]. Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. European Commission on the Efficiency of Justice, Guidelines for a better Implementation of the Existing Council of Europe’s Recommendation on Enforcement, adopted by the CEPEJ at its 14th plenary meeting (Strasbourg, 09-10 December 2009), Strasbourg, 17 December 2009.

[6]. Xem các Hướng dẫn về giải quyết tranh chấp thay thế của Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2011, tr.27-28, (Alternative Dispute Resolution Guidelines, http://siteresources.worldbank.org/INTECA/Resources/ 15322_ADRG_Web.pdf, truy cập 27.8.2017) và Giải quyết ngoài Tòa án của Ngân hàng Thế giới, tr.1-4 (Settling Out of Court,http://siteresources.worldbank.org/FINANCIALSECTOR/Resources/282044-1307652042357/ VP329-Setting-out-of-court.pdf, truy cập 27.8.2017).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.

Theo dõi chúng tôi trên: