Thứ năm 12/03/2026 09:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật về đình chỉ thi hàn án

Đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự). Thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự về đình chỉ thi hành án có ý kiến khác nhau. Trong bài viết, tác giả xin trao đổi về một số ý kiến xung quanh các căn cứ đình chỉ thi hành án và một số đề xuất hoàn thiện quy định về đình chỉ thi hành án dân sự.

1. Một số ý kiến về việc áp dụng các căn cứ đình chỉ thi hành án

Các căn cứ đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, tồn tại những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy định này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 50 Luật Thi hành án dân sự cần bổ sung thêm khoản 3 quy định về việc tiếp tục thi hành án theo hướng: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án khi những căn cứ quy định tại khoản 1 không còn, khi đương sự có đơn yêu cầu tiếp tục thi hành án, trừ việc đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 50 (Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba).

Cũng theo quan điểm này, ngoài ý kiến của đương sự về việc đình chỉ thi hành án, các căn cứ còn lại không phải bất biến theo thời gian, không gian, hoặc theo quan điểm, ý chí chủ quan của nhà làm luật; cũng không thể không có sự nhầm lẫn của chấp hành viên, cá nhân, tổ chức khác khi xác minh về điều kiện đình chỉ thi hành án... Một khi có sự sai sót, nhầm lẫn thì không lẽ không được tiếp tục thi hành án?

Về thủ tục, hình thức, khi có những căn cứ phủ nhận những căn cứ trước đó được cho là điều kiện đình chỉ thi hành án thì về bản chất, sự phát sinh đó không làm thay đổi nội dung bản án, cũng không làm thay đổi người có nghĩa vụ và người thụ hưởng những quyền, lợi ích từ bản án đã tuyên nên phải được tiếp tục thi hành án. Hay nói cách khác, việc thi hành án phải được tiếp tục khi căn cứ đình chỉ thi hành án không còn.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc đình chỉ thi hành án là chấm dứt thi hành án mà không thể tiếp tục thi hành, dù sau đó có phát sinh trở lại điều kiện thi hành án. Bởi lẽ:

- Theo khái niệm và đặc điểm về đình chỉ thi hành án thì việc đình chỉ thi hành án dù đình chỉ một phần hay toàn bộ bản án, quyết định thi hành án thì hậu quả pháp lý của đình chỉ là chấm dứt thi hành án các nội dung đã yêu cầu; nếu cho rằng, khi có căn cứ thay đổi về điều kiện thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án lại ra quyết định tiếp tục thi hành án thì chế định đình chỉ thi hành án đã chuyển hóa thành chế định tạm đình chỉ thi hành án và hoãn thi hành án được quy định tại các Điều 48 và Điều 49. Như vậy, sẽ không có cơ sở lý luận vững chắc vì mỗi chế định có những căn cứ khác nhau dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau khi được áp dụng trong thực tiễn.

- Sau khi đình chỉ thi hành án, việc thi hành án đó sẽ được chấp hành viên xóa sổ thụ lý, loại ra khỏi số việc thi hành án dở dang, hồ sơ đã lưu kho.

Trường hợp sau khi đình chỉ thi hành án, nếu những căn cứ đình chỉ không còn mà làm phát sinh căn cứ chứng tỏ người phải thi hành án có điều kiện và đương sự có yêu cầu thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án thụ lý tổ chức thi hành án như trường hợp yêu cầu thi hành án bình thường khác.

Đó là hai quan điểm trái chiều về đình chỉ thi hành án. Mỗi quan điểm, mỗi ý kiến đều có lý lẽ riêng, tác giả cho rằng, không thể nói quan điểm nào là đúng hoàn toàn, quan điểm nào là sai hoàn toàn. Bởi lẽ:

Đối với quan điểm thứ nhất: Khi nghiên cứu quan điểm này, tác giả thấy rằng, đây là quan điểm với ý tưởng vừa mới, vừa lạ (chưa được áp dụng trong thực tế, chưa được nhiều người công nhận và hoàn toàn khác hẳn với khái niệm về đinh chỉ thi hành án).

Những căn cứ tại Điều 48, Điều 49 Luật Thi hành án dân sự cho thấy sự khác biệt cơ bản của nó với những căn cứ quy định tại Điều 50. Hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án được áp dụng khi có những trở ngại nhất định, những trở ngại này là tạm thời, khi trở ngại không còn thì việc thi hành án phải được tiếp tục. Còn đình chỉ thi hành án là chấm dứt việc thi hành án vĩnh viễn, không thể quy trở lại thi hành những nội dung đã đình chỉ (những nội dung nào chưa đình chỉ thi có thể tổ chức thi hành).

Ở góc độ khác, có thể thấy rằng, quan điểm này là có lý lẽ, cần xem xét, không thể xem thường và bỏ qua. Hay nói một cách khác, nhìn nhận ở khía cạnh sâu sắc hơn thì những căn cứ đình chỉ thi hành án có khi, có nơi đã chuyển hóa thành những căn cứ hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án?

Với ý nghĩa đó, đặt ra cho chúng ta vấn đề là cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định cơ sở pháp lý đối với chế định đình chỉ thi hành án nhằm hoàn thiện hơn việc áp dụng việc đình chỉ thi hành án trong thực tế.

Đối với quan điểm thứ hai: Đây là quan điểm truyền thống, phù hợp với khái niệm và đặt điểm về đình chỉ thi hành án; phù hợp với quy định pháp luật về thi hành án dân sự. Quan điểm này cho rằng, khi có căn cứ đình chỉ thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án và xóa sổ thụ lý, việc thi hành án xem như đã chấm dứt.

Quan điểm này không sai, bởi xét về hậu quả pháp lý thì đình chỉ thi hành án là kết thúc thi hành án, còn hoãn, tạm đình chỉ thi hành án là tạm dừng việc thi hành án một thời gian sau đó tiếp tục thi hành án. Khi các căn cứ đình chỉ thi hành án có chuyển biến thành các căn cứ hoãn, tạm đình chỉ hoặc không còn các căn cứ đình chỉ (những căn cứ đình chỉ thi hành án không còn nhưng bản án, quyết định thi hành vẫn còn hiệu lực thi hành nhưng đương sự không biết để yêu cầu thi hành án, gây thiệt hại cho đương sự) thì không thấy pháp luật về thi hành án tiên liệu, giải quyết; tác giả cho rằng, đây là thiếu sót của pháp luật về thi hành án dân sự, vì sau khi đình chỉ thi hành án, cơ quan thi hành án không còn quan tâm, theo dõi việc thi hành bản án, quyết định nữa.

Hiện nay, quan điểm này đang được pháp luật về thi hành án dân sự quy định, áp dụng. Tuy nhiên, theo chúng tôi cần bổ sung, hoàn thiện thêm về chế định đình chỉ thi hành án theo hướng bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự khi các căn cứ đình chỉ không còn.

2. Một số kiến nghị

Hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay đang được xây dựng, sữa chữa, bổ sung theo hướng: Các quy định ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và có nhiều quy định bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự hơn... Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai và xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

2.1. Kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự

Điều 50 Luật Thi hành án dân sự được cơ cấu thành hai khoản, khoản 1 liệt kê các căn cứ đình chỉ, khoản 2 quy định thời hạn đình chỉ thi hành án, tác giả đề nghị bổ sung thêm khoản 3 về quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ tại khoản 1 được xác minh không còn, những căn cứ đã xác minh trước đó làm căn cứ đình chỉ nay đã chuyển biến theo hướng có lợi cho người được thi hành án...

Theo đó, những căn cứ đình chỉ thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 50 không phải bất di, bất dịch, chúng có thể thay đổi theo thời gian, không gian. Về vấn đề này, pháp luật hiện hành chưa có quy định dự báo, hướng dẫn hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nội dung này đã bị “bỏ trống”.

Như vậy, để khắc phục tình trạng trên, theo tác giả, Điều 50 cần bổ sung như sau: “3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền chứng minh về các căn cứ đình chỉ thi hành án; có quyền yêu cầu thi hành án lại sau khi đình chỉ thi hành án trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ không còn”.

2.2. Kiến nghị bổ sung quyết định đình chỉ thi hành án

Nội dung quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay được thực hiện theo mẫu tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 01/02/2016 quy định về biểu mẫu thi hành án dân sự. Tác giả cho rằng, mẫu ra quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay cần bổ sung nội dung về việc hướng dẫn đương sự quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ thi hành án không còn theo hướng: “Đương sự, người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ đình chỉ không còn”. Vì sao phải quy định như vậy?

Ví dụ: Bản án A tuyên có 05 khoản phải thi hành án, đương sự yêu cầu thi hành án 02 khoản, sau đó không yêu cầu thi hành án nữa. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định “đình chỉ thi hành án”, việc đình chỉ thi hành án có nghĩa là đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại nữa. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc chưa được làm rõ. Cụ thể:





- Trong ví dụ trên, đối với 02 khoản đã yêu cầu thi hành án và được đình chỉ thi hành án theo ý kiến của người được thi hành án (quy định tại điểm c Điều 50 Luật Thi hành án dân sự) thì việc đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với 02 khoản này là đúng, nhưng còn 03 khoản còn lại được bản án ghi nhận chưa yêu cầu thi hành án thì sao, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án không?

- Việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp này hiện nay chưa được pháp luật về thi hành án dân sự quy định rõ, những người làm công tác thi hành án thì cho rằng đình chỉ thi hành án thì không được yêu cầu thi hành án trở lại một cách rất chung chung mà không có giải thích gì thêm.

- Người được thi hành án thì không hiểu rõ quy định của pháp luật, cội nguồn của vấn đề, do đó không thể bảo vệ được quyền, lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, qua ví dụ trên, tác giả đề nghị cơ quan có thẩm quyền quy định rõ hơn, cụ thể hơn về trường hợp đình chỉ thi hành án, kể cả việc đình chỉ theo yêu cầu của người được thi hành án.

Bùi Thái Bình

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: