Thứ năm 15/01/2026 09:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật về đình chỉ thi hàn án

Đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự). Thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự về đình chỉ thi hành án có ý kiến khác nhau. Trong bài viết, tác giả xin trao đổi về một số ý kiến xung quanh các căn cứ đình chỉ thi hành án và một số đề xuất hoàn thiện quy định về đình chỉ thi hành án dân sự.

1. Một số ý kiến về việc áp dụng các căn cứ đình chỉ thi hành án

Các căn cứ đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, tồn tại những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy định này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 50 Luật Thi hành án dân sự cần bổ sung thêm khoản 3 quy định về việc tiếp tục thi hành án theo hướng: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án khi những căn cứ quy định tại khoản 1 không còn, khi đương sự có đơn yêu cầu tiếp tục thi hành án, trừ việc đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 50 (Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba).

Cũng theo quan điểm này, ngoài ý kiến của đương sự về việc đình chỉ thi hành án, các căn cứ còn lại không phải bất biến theo thời gian, không gian, hoặc theo quan điểm, ý chí chủ quan của nhà làm luật; cũng không thể không có sự nhầm lẫn của chấp hành viên, cá nhân, tổ chức khác khi xác minh về điều kiện đình chỉ thi hành án... Một khi có sự sai sót, nhầm lẫn thì không lẽ không được tiếp tục thi hành án?

Về thủ tục, hình thức, khi có những căn cứ phủ nhận những căn cứ trước đó được cho là điều kiện đình chỉ thi hành án thì về bản chất, sự phát sinh đó không làm thay đổi nội dung bản án, cũng không làm thay đổi người có nghĩa vụ và người thụ hưởng những quyền, lợi ích từ bản án đã tuyên nên phải được tiếp tục thi hành án. Hay nói cách khác, việc thi hành án phải được tiếp tục khi căn cứ đình chỉ thi hành án không còn.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc đình chỉ thi hành án là chấm dứt thi hành án mà không thể tiếp tục thi hành, dù sau đó có phát sinh trở lại điều kiện thi hành án. Bởi lẽ:

- Theo khái niệm và đặc điểm về đình chỉ thi hành án thì việc đình chỉ thi hành án dù đình chỉ một phần hay toàn bộ bản án, quyết định thi hành án thì hậu quả pháp lý của đình chỉ là chấm dứt thi hành án các nội dung đã yêu cầu; nếu cho rằng, khi có căn cứ thay đổi về điều kiện thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án lại ra quyết định tiếp tục thi hành án thì chế định đình chỉ thi hành án đã chuyển hóa thành chế định tạm đình chỉ thi hành án và hoãn thi hành án được quy định tại các Điều 48 và Điều 49. Như vậy, sẽ không có cơ sở lý luận vững chắc vì mỗi chế định có những căn cứ khác nhau dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau khi được áp dụng trong thực tiễn.

- Sau khi đình chỉ thi hành án, việc thi hành án đó sẽ được chấp hành viên xóa sổ thụ lý, loại ra khỏi số việc thi hành án dở dang, hồ sơ đã lưu kho.

Trường hợp sau khi đình chỉ thi hành án, nếu những căn cứ đình chỉ không còn mà làm phát sinh căn cứ chứng tỏ người phải thi hành án có điều kiện và đương sự có yêu cầu thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án thụ lý tổ chức thi hành án như trường hợp yêu cầu thi hành án bình thường khác.

Đó là hai quan điểm trái chiều về đình chỉ thi hành án. Mỗi quan điểm, mỗi ý kiến đều có lý lẽ riêng, tác giả cho rằng, không thể nói quan điểm nào là đúng hoàn toàn, quan điểm nào là sai hoàn toàn. Bởi lẽ:

Đối với quan điểm thứ nhất: Khi nghiên cứu quan điểm này, tác giả thấy rằng, đây là quan điểm với ý tưởng vừa mới, vừa lạ (chưa được áp dụng trong thực tế, chưa được nhiều người công nhận và hoàn toàn khác hẳn với khái niệm về đinh chỉ thi hành án).

Những căn cứ tại Điều 48, Điều 49 Luật Thi hành án dân sự cho thấy sự khác biệt cơ bản của nó với những căn cứ quy định tại Điều 50. Hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án được áp dụng khi có những trở ngại nhất định, những trở ngại này là tạm thời, khi trở ngại không còn thì việc thi hành án phải được tiếp tục. Còn đình chỉ thi hành án là chấm dứt việc thi hành án vĩnh viễn, không thể quy trở lại thi hành những nội dung đã đình chỉ (những nội dung nào chưa đình chỉ thi có thể tổ chức thi hành).

Ở góc độ khác, có thể thấy rằng, quan điểm này là có lý lẽ, cần xem xét, không thể xem thường và bỏ qua. Hay nói một cách khác, nhìn nhận ở khía cạnh sâu sắc hơn thì những căn cứ đình chỉ thi hành án có khi, có nơi đã chuyển hóa thành những căn cứ hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án?

Với ý nghĩa đó, đặt ra cho chúng ta vấn đề là cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định cơ sở pháp lý đối với chế định đình chỉ thi hành án nhằm hoàn thiện hơn việc áp dụng việc đình chỉ thi hành án trong thực tế.

Đối với quan điểm thứ hai: Đây là quan điểm truyền thống, phù hợp với khái niệm và đặt điểm về đình chỉ thi hành án; phù hợp với quy định pháp luật về thi hành án dân sự. Quan điểm này cho rằng, khi có căn cứ đình chỉ thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án và xóa sổ thụ lý, việc thi hành án xem như đã chấm dứt.

Quan điểm này không sai, bởi xét về hậu quả pháp lý thì đình chỉ thi hành án là kết thúc thi hành án, còn hoãn, tạm đình chỉ thi hành án là tạm dừng việc thi hành án một thời gian sau đó tiếp tục thi hành án. Khi các căn cứ đình chỉ thi hành án có chuyển biến thành các căn cứ hoãn, tạm đình chỉ hoặc không còn các căn cứ đình chỉ (những căn cứ đình chỉ thi hành án không còn nhưng bản án, quyết định thi hành vẫn còn hiệu lực thi hành nhưng đương sự không biết để yêu cầu thi hành án, gây thiệt hại cho đương sự) thì không thấy pháp luật về thi hành án tiên liệu, giải quyết; tác giả cho rằng, đây là thiếu sót của pháp luật về thi hành án dân sự, vì sau khi đình chỉ thi hành án, cơ quan thi hành án không còn quan tâm, theo dõi việc thi hành bản án, quyết định nữa.

Hiện nay, quan điểm này đang được pháp luật về thi hành án dân sự quy định, áp dụng. Tuy nhiên, theo chúng tôi cần bổ sung, hoàn thiện thêm về chế định đình chỉ thi hành án theo hướng bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự khi các căn cứ đình chỉ không còn.

2. Một số kiến nghị

Hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay đang được xây dựng, sữa chữa, bổ sung theo hướng: Các quy định ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và có nhiều quy định bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự hơn... Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai và xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

2.1. Kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự

Điều 50 Luật Thi hành án dân sự được cơ cấu thành hai khoản, khoản 1 liệt kê các căn cứ đình chỉ, khoản 2 quy định thời hạn đình chỉ thi hành án, tác giả đề nghị bổ sung thêm khoản 3 về quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ tại khoản 1 được xác minh không còn, những căn cứ đã xác minh trước đó làm căn cứ đình chỉ nay đã chuyển biến theo hướng có lợi cho người được thi hành án...

Theo đó, những căn cứ đình chỉ thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 50 không phải bất di, bất dịch, chúng có thể thay đổi theo thời gian, không gian. Về vấn đề này, pháp luật hiện hành chưa có quy định dự báo, hướng dẫn hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nội dung này đã bị “bỏ trống”.

Như vậy, để khắc phục tình trạng trên, theo tác giả, Điều 50 cần bổ sung như sau: “3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền chứng minh về các căn cứ đình chỉ thi hành án; có quyền yêu cầu thi hành án lại sau khi đình chỉ thi hành án trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ không còn”.

2.2. Kiến nghị bổ sung quyết định đình chỉ thi hành án

Nội dung quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay được thực hiện theo mẫu tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 01/02/2016 quy định về biểu mẫu thi hành án dân sự. Tác giả cho rằng, mẫu ra quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay cần bổ sung nội dung về việc hướng dẫn đương sự quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ thi hành án không còn theo hướng: “Đương sự, người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ đình chỉ không còn”. Vì sao phải quy định như vậy?

Ví dụ: Bản án A tuyên có 05 khoản phải thi hành án, đương sự yêu cầu thi hành án 02 khoản, sau đó không yêu cầu thi hành án nữa. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định “đình chỉ thi hành án”, việc đình chỉ thi hành án có nghĩa là đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại nữa. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc chưa được làm rõ. Cụ thể:





- Trong ví dụ trên, đối với 02 khoản đã yêu cầu thi hành án và được đình chỉ thi hành án theo ý kiến của người được thi hành án (quy định tại điểm c Điều 50 Luật Thi hành án dân sự) thì việc đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với 02 khoản này là đúng, nhưng còn 03 khoản còn lại được bản án ghi nhận chưa yêu cầu thi hành án thì sao, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án không?

- Việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp này hiện nay chưa được pháp luật về thi hành án dân sự quy định rõ, những người làm công tác thi hành án thì cho rằng đình chỉ thi hành án thì không được yêu cầu thi hành án trở lại một cách rất chung chung mà không có giải thích gì thêm.

- Người được thi hành án thì không hiểu rõ quy định của pháp luật, cội nguồn của vấn đề, do đó không thể bảo vệ được quyền, lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, qua ví dụ trên, tác giả đề nghị cơ quan có thẩm quyền quy định rõ hơn, cụ thể hơn về trường hợp đình chỉ thi hành án, kể cả việc đình chỉ theo yêu cầu của người được thi hành án.

Bùi Thái Bình

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: