Thứ hai 25/05/2026 19:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật về đình chỉ thi hàn án

Đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự). Thực tiễn áp dụng pháp luật thi hành án dân sự về đình chỉ thi hành án có ý kiến khác nhau. Trong bài viết, tác giả xin trao đổi về một số ý kiến xung quanh các căn cứ đình chỉ thi hành án và một số đề xuất hoàn thiện quy định về đình chỉ thi hành án dân sự.

1. Một số ý kiến về việc áp dụng các căn cứ đình chỉ thi hành án

Các căn cứ đình chỉ thi hành án được quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế, tồn tại những quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy định này.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 50 Luật Thi hành án dân sự cần bổ sung thêm khoản 3 quy định về việc tiếp tục thi hành án theo hướng: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án khi những căn cứ quy định tại khoản 1 không còn, khi đương sự có đơn yêu cầu tiếp tục thi hành án, trừ việc đình chỉ theo điểm c khoản 1 Điều 50 (Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba).

Cũng theo quan điểm này, ngoài ý kiến của đương sự về việc đình chỉ thi hành án, các căn cứ còn lại không phải bất biến theo thời gian, không gian, hoặc theo quan điểm, ý chí chủ quan của nhà làm luật; cũng không thể không có sự nhầm lẫn của chấp hành viên, cá nhân, tổ chức khác khi xác minh về điều kiện đình chỉ thi hành án... Một khi có sự sai sót, nhầm lẫn thì không lẽ không được tiếp tục thi hành án?

Về thủ tục, hình thức, khi có những căn cứ phủ nhận những căn cứ trước đó được cho là điều kiện đình chỉ thi hành án thì về bản chất, sự phát sinh đó không làm thay đổi nội dung bản án, cũng không làm thay đổi người có nghĩa vụ và người thụ hưởng những quyền, lợi ích từ bản án đã tuyên nên phải được tiếp tục thi hành án. Hay nói cách khác, việc thi hành án phải được tiếp tục khi căn cứ đình chỉ thi hành án không còn.

Quan điểm thứ hai cho rằng, việc đình chỉ thi hành án là chấm dứt thi hành án mà không thể tiếp tục thi hành, dù sau đó có phát sinh trở lại điều kiện thi hành án. Bởi lẽ:

- Theo khái niệm và đặc điểm về đình chỉ thi hành án thì việc đình chỉ thi hành án dù đình chỉ một phần hay toàn bộ bản án, quyết định thi hành án thì hậu quả pháp lý của đình chỉ là chấm dứt thi hành án các nội dung đã yêu cầu; nếu cho rằng, khi có căn cứ thay đổi về điều kiện thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án lại ra quyết định tiếp tục thi hành án thì chế định đình chỉ thi hành án đã chuyển hóa thành chế định tạm đình chỉ thi hành án và hoãn thi hành án được quy định tại các Điều 48 và Điều 49. Như vậy, sẽ không có cơ sở lý luận vững chắc vì mỗi chế định có những căn cứ khác nhau dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau khi được áp dụng trong thực tiễn.

- Sau khi đình chỉ thi hành án, việc thi hành án đó sẽ được chấp hành viên xóa sổ thụ lý, loại ra khỏi số việc thi hành án dở dang, hồ sơ đã lưu kho.

Trường hợp sau khi đình chỉ thi hành án, nếu những căn cứ đình chỉ không còn mà làm phát sinh căn cứ chứng tỏ người phải thi hành án có điều kiện và đương sự có yêu cầu thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án thụ lý tổ chức thi hành án như trường hợp yêu cầu thi hành án bình thường khác.

Đó là hai quan điểm trái chiều về đình chỉ thi hành án. Mỗi quan điểm, mỗi ý kiến đều có lý lẽ riêng, tác giả cho rằng, không thể nói quan điểm nào là đúng hoàn toàn, quan điểm nào là sai hoàn toàn. Bởi lẽ:

Đối với quan điểm thứ nhất: Khi nghiên cứu quan điểm này, tác giả thấy rằng, đây là quan điểm với ý tưởng vừa mới, vừa lạ (chưa được áp dụng trong thực tế, chưa được nhiều người công nhận và hoàn toàn khác hẳn với khái niệm về đinh chỉ thi hành án).

Những căn cứ tại Điều 48, Điều 49 Luật Thi hành án dân sự cho thấy sự khác biệt cơ bản của nó với những căn cứ quy định tại Điều 50. Hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án được áp dụng khi có những trở ngại nhất định, những trở ngại này là tạm thời, khi trở ngại không còn thì việc thi hành án phải được tiếp tục. Còn đình chỉ thi hành án là chấm dứt việc thi hành án vĩnh viễn, không thể quy trở lại thi hành những nội dung đã đình chỉ (những nội dung nào chưa đình chỉ thi có thể tổ chức thi hành).

Ở góc độ khác, có thể thấy rằng, quan điểm này là có lý lẽ, cần xem xét, không thể xem thường và bỏ qua. Hay nói một cách khác, nhìn nhận ở khía cạnh sâu sắc hơn thì những căn cứ đình chỉ thi hành án có khi, có nơi đã chuyển hóa thành những căn cứ hoãn thi hành án và tạm đình chỉ thi hành án?

Với ý nghĩa đó, đặt ra cho chúng ta vấn đề là cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để khẳng định cơ sở pháp lý đối với chế định đình chỉ thi hành án nhằm hoàn thiện hơn việc áp dụng việc đình chỉ thi hành án trong thực tế.

Đối với quan điểm thứ hai: Đây là quan điểm truyền thống, phù hợp với khái niệm và đặt điểm về đình chỉ thi hành án; phù hợp với quy định pháp luật về thi hành án dân sự. Quan điểm này cho rằng, khi có căn cứ đình chỉ thi hành án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án và xóa sổ thụ lý, việc thi hành án xem như đã chấm dứt.

Quan điểm này không sai, bởi xét về hậu quả pháp lý thì đình chỉ thi hành án là kết thúc thi hành án, còn hoãn, tạm đình chỉ thi hành án là tạm dừng việc thi hành án một thời gian sau đó tiếp tục thi hành án. Khi các căn cứ đình chỉ thi hành án có chuyển biến thành các căn cứ hoãn, tạm đình chỉ hoặc không còn các căn cứ đình chỉ (những căn cứ đình chỉ thi hành án không còn nhưng bản án, quyết định thi hành vẫn còn hiệu lực thi hành nhưng đương sự không biết để yêu cầu thi hành án, gây thiệt hại cho đương sự) thì không thấy pháp luật về thi hành án tiên liệu, giải quyết; tác giả cho rằng, đây là thiếu sót của pháp luật về thi hành án dân sự, vì sau khi đình chỉ thi hành án, cơ quan thi hành án không còn quan tâm, theo dõi việc thi hành bản án, quyết định nữa.

Hiện nay, quan điểm này đang được pháp luật về thi hành án dân sự quy định, áp dụng. Tuy nhiên, theo chúng tôi cần bổ sung, hoàn thiện thêm về chế định đình chỉ thi hành án theo hướng bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương sự khi các căn cứ đình chỉ không còn.

2. Một số kiến nghị

Hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự hiện nay đang được xây dựng, sữa chữa, bổ sung theo hướng: Các quy định ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn và có nhiều quy định bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự hơn... Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai và xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

2.1. Kiến nghị bổ sung quy định tại Điều 50 Luật Thi hành án dân sự

Điều 50 Luật Thi hành án dân sự được cơ cấu thành hai khoản, khoản 1 liệt kê các căn cứ đình chỉ, khoản 2 quy định thời hạn đình chỉ thi hành án, tác giả đề nghị bổ sung thêm khoản 3 về quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ tại khoản 1 được xác minh không còn, những căn cứ đã xác minh trước đó làm căn cứ đình chỉ nay đã chuyển biến theo hướng có lợi cho người được thi hành án...

Theo đó, những căn cứ đình chỉ thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 50 không phải bất di, bất dịch, chúng có thể thay đổi theo thời gian, không gian. Về vấn đề này, pháp luật hiện hành chưa có quy định dự báo, hướng dẫn hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nội dung này đã bị “bỏ trống”.

Như vậy, để khắc phục tình trạng trên, theo tác giả, Điều 50 cần bổ sung như sau: “3. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền chứng minh về các căn cứ đình chỉ thi hành án; có quyền yêu cầu thi hành án lại sau khi đình chỉ thi hành án trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ không còn”.

2.2. Kiến nghị bổ sung quyết định đình chỉ thi hành án

Nội dung quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay được thực hiện theo mẫu tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 01/02/2016 quy định về biểu mẫu thi hành án dân sự. Tác giả cho rằng, mẫu ra quyết định đình chỉ thi hành án hiện nay cần bổ sung nội dung về việc hướng dẫn đương sự quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp chứng minh các căn cứ đình chỉ thi hành án không còn theo hướng: “Đương sự, người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu thi hành án trở lại trong trường hợp các căn cứ đình chỉ không còn”. Vì sao phải quy định như vậy?

Ví dụ: Bản án A tuyên có 05 khoản phải thi hành án, đương sự yêu cầu thi hành án 02 khoản, sau đó không yêu cầu thi hành án nữa. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định “đình chỉ thi hành án”, việc đình chỉ thi hành án có nghĩa là đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại nữa. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vướng mắc chưa được làm rõ. Cụ thể:





- Trong ví dụ trên, đối với 02 khoản đã yêu cầu thi hành án và được đình chỉ thi hành án theo ý kiến của người được thi hành án (quy định tại điểm c Điều 50 Luật Thi hành án dân sự) thì việc đương sự không còn quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với 02 khoản này là đúng, nhưng còn 03 khoản còn lại được bản án ghi nhận chưa yêu cầu thi hành án thì sao, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án không?

- Việc đình chỉ thi hành án trong trường hợp này hiện nay chưa được pháp luật về thi hành án dân sự quy định rõ, những người làm công tác thi hành án thì cho rằng đình chỉ thi hành án thì không được yêu cầu thi hành án trở lại một cách rất chung chung mà không có giải thích gì thêm.

- Người được thi hành án thì không hiểu rõ quy định của pháp luật, cội nguồn của vấn đề, do đó không thể bảo vệ được quyền, lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, qua ví dụ trên, tác giả đề nghị cơ quan có thẩm quyền quy định rõ hơn, cụ thể hơn về trường hợp đình chỉ thi hành án, kể cả việc đình chỉ theo yêu cầu của người được thi hành án.

Bùi Thái Bình

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân, Bình Thuận

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: