Thứ năm 12/03/2026 10:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật Việt Nam về những nội dung liên quan đến Công ước La Hay năm 1980

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của việc giữ và đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của việc giữ và đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia có liên quan để trả trẻ em về quốc gia nơi trẻ em thường trú một cách nhanh nhất hoặc đảm bảo quyền thăm nom trẻ em, góp phần đấu tranh chống lại hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ hoặc đưa đi trái phép chính con, cháu của mình[1]. Mục tiêu của Công ước là nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những ảnh hưởng tiêu cực từ hành vi đưa trẻ em đi hoặc giữ trẻ em trái phép được thực hiện bởi cha/mẹ hoặc người thân của trẻ em; thông qua thủ tục hợp tác giữa các quốc gia thành viên đảm bảo an toàn cho trẻ em trong mọi trường hợp trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép; đảm bảo nhanh chóng trả lại trẻ em đã bị mang đi hoặc giữ lại trái phép ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước. Đồng thời, Công ước đảm bảo quyền nuôi dưỡng và quyền thăm nom theo pháp luật của một quốc gia ký kết được tôn trọng và bảo vệ tại các quốc gia ký kết khác.

Với mục tiêu như trên, Công ước tiếp cận thông qua thủ tục tố tụng dân sự để xử lý đối với hành vi cha/mẹ hoặc người thân mang trẻ ra nước ngoài trái pháp luật và đưa ra cơ chế hợp tác giữa cơ quan trung ương của các quốc gia thành viên với những quy định rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của các bên, quy trình thủ tục, hồ sơ. Mặc dù, quy định của Công ước tương đối chi tiết, cụ thể và Công ước không đưa ra yêu cầu quốc gia thành viên phải sửa đổi pháp luật trong nước để đảm bảo phù hợp với Công ước, nhưng thực tiễn cho thấy, hầu hết các quốc gia thành viên đều phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Công ước. Một số nước thì sửa đổi, bổ sung nội dung có liên quan vào các đạo luật hiện hành (ví dụ như Pháp đã sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình), trong khi đó một số quốc gia khác lại ban hành đạo luật riêng để thực thi Công ước hiệu quả hơn (ví dụ như Hoa Kỳ, Thái Lan, Nhật Bản...). Nhìn chung, dù với một văn bản riêng hay đặt trong số một văn bản pháp luật chung khác thì các nước đều có quy định cụ thể, chi tiết về thủ tục giải quyết yêu cầu trao trả trẻ theo phạm vi của Công ước.

Hiện nay, để giải quyết hậu quả của hành vi bắt cóc trẻ em, Việt Nam mới chỉ tiếp cận ở khía cạnh hình sự còn việc giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ trái phép từ góc độ dân sự như phạm vi điều chỉnh của Công ước lại là vấn đề hoàn toàn mới. Điều này cũng có nghĩa là, hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam còn nhiều khoảng chống hay có sự khác biệt so với quy định của Công ước.

1. Một số khái niệm chính được đề cập tại Công ước

Về quyền nuôi dưỡng, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có một số quy định về quyền nuôi dưỡng trẻ em như xác định người có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em (Điều 71)... Tuy nhiên, Luật này không xác định rõ nội hàm của chăm sóc, nuôi dưỡng là gì, có bao gồm cả quyền quyết định nơi thường trú của trẻ như quy định của Công ước hay không? Tương tự, đối với thuật ngữ “quyền thăm nom”, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng có quy định về quyền của cha/mẹ được thăm nom con trong trường hợp ly hôn (Điều 82) nhưng cũng không xác định cụ thể nội hàm của quyền thăm nom, quyền này có bao gồm cả quyền đưa trẻ đi khỏi nơi trẻ thường trú trong một thời gian nhất định hay không?

Về độ tuổi của trẻ em, Công ước áp dụng đối với trẻ dưới 16 tuổi. Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam cũng xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1). Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, thì quyền nuôi dưỡng của cha/mẹ được duy trì đối với trẻ đến 18 tuổi trở xuống. Như vậy, quy định này có khoảng cách so với Công ước.

Về nơi thường trú, thuật ngữ “nơi thường trú” là một thuật ngữ quan trọng được sử dụng tại Công ước vì gắn với mục đích chính là đảm bảo cho trẻ em được sống tại nơi quen thuộc với trẻ em. Từ các quy định của Công ước, đặc biệt ở Điều 4 và Điều 5[2], có thể hiểu việc xác định nơi thường trú của trẻ em phụ thuộc vào người có quyền nuôi dưỡng, đồng thời thuật ngữ này cũng được sử dụng để đề cập tới nơi trẻ vốn sinh sống thường xuyên cùng cha mẹ, hoặc cùng cha/mẹ với sự đồng ý của người còn lại hoặc bởi quyết định của Tòa án hoặc nơi trẻ sinh sống với những người có trách nhiệm nuôi dưỡng… Công ước không đưa ra khái niệm cụ thể về nơi thường trú mà để cho pháp luật của các quốc gia giải quyết. Pháp luật Việt Nam xác định nơi cư trú của trẻ theo nơi cư trú của người nuôi dưỡng[3]. Tuy nhiên, thuật ngữ “cư trú” theo pháp luật Việt Nam lại bao gồm cả tạm trú và thường trú[4]. Điều này có thể dẫn đến những phức tạp khi áp dụng Công ước.

2. Về căn cứ phát sinh quyền nuôi dưỡng, quyền thăm nom và việc đảm bảo quyền bày tỏ nguyện vọng của trẻ

Theo quy định của Công ước, các quyền nuôi dưỡng được phát sinh theo quy định pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo thỏa thuận hợp pháp theo pháp luật của quốc gia thành viên. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của Việt Nam cũng có quy định tương tự.

Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng có một số quy định liên quan như quy định về chủ thể có quyền thăm nom, nghĩa vụ hợp tác để thực thi quyền này cũng như trường hợp hạn chế quyền thăm nom. Tuy nhiên, cũng tương tự như vấn đề trả lại trẻ, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự cũng chưa có được cơ chế đảm bảo thực hiện quyền thăm nom nếu các bên liên quan không tự giác thực hiện.

Trên thực tế, quyền nuôi dưỡng hoặc thăm nom con trong các bản án hôn nhân, gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam thường được thực hiện trên cơ sở quyết định của Tòa án Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài. Đối với những trường hợp chưa có bản án, quyết định được công nhận thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết hậu quả hành vi đưa trẻ đi trái phép và cũng chưa có cơ chế theo cách tiếp cận Công ước để đảm bảo quyền thăm nom con của cha/mẹ. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam còn lúng túng vì thiếu cơ sở pháp lý quốc tế cũng như trong nước để giải quyết. Điều này là một bất cập cần được sớm giải quyết.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về đảm bảo quyền bày tỏ nguyện vọng của trẻ trong việc xác định người nuôi dưỡng trong thủ tục ly hôn phù hợp với tinh thần Điều 13 Công ước.

3. Về thủ tục trao trả lại trẻ

Công ước yêu cầu các cơ quan tư pháp hoặc hành chính của quốc gia ký kết phải khẩn trương tiến hành các thủ tục trả lại trẻ khi nhận được đơn yêu cầu từ các quốc gia thành viên khác. Tuy nhiên, việc xác định cơ quan trong nước có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu này và thủ tục giải quyết hoàn toàn do pháp luật mỗi quốc gia tự điều chỉnh. Tại Việt Nam, việc giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, thăm nom trẻ thuộc thẩm quyền của Tòa án, có thể theo thủ tục công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (trường hợp đã có bản án quyết định về quyền nuôi dưỡng) hoặc theo thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài (khi đang có tranh chấp về quyền nuôi dưỡng). Tuy nhiên, hiện nay thời hạn giải quyết các loại vụ việc này theo Bộ luật Tố tụng dân sự khó có thể đáp ứng yêu cầu của Công ước. Bên cạnh đó, Công ước cũng có một số yêu cầu về thủ tục hồ sơ khác với pháp luật trong nước. Chẳng hạn như, kể cả khi Tòa án đã có quyết định việc trao trả lại trẻ thì Luật Thi hành án dân sự cũng chưa có cơ chế đảm bảo thực hiện nếu các bên liên quan không tự giác thực hiện. Thi hành các quyết định về thực hiện quyền nuôi dưỡng thuộc nhóm thi hành án phi tài sản, nên nó có những yêu cầu, đặc thù riêng khác với thi hành án về tài sản. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành chưa có quy định về quy trình, cách thức thực hiện các yêu cầu thi hành án phi tài sản ngoại trừ một số quy định về biện pháp xử phạt hành chính trong thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự hiện hành cũng không có quy định về thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài để điều chỉnh những vấn đề đặc thù riêng của loại vụ việc này, mà vẫn chỉ áp dụng những quy định chung về thi hành án.

4. Về chỉ định cơ quan trung ương

Công ước yêu cầu quốc gia ký kết phải chỉ định một hoặc một số cơ quan trung ương thực hiện các nghĩa vụ do Công ước quy định cho các cơ quan đó bao gồm nhiều nghĩa vụ từ tiếp nhận yêu cầu trả lại trẻ em, tìm kiếm trẻ em, có các hoạt động ngăn chặn tổn hại khác có thể xảy ra với trẻ em… đến dàn xếp hành chính cần thiết và thích hợp nhằm bảo đảm việc trả lại trẻ em một cách an toàn. Hiện nay, Việt Nam chưa có cơ quan, tổ chức nào được giao các thẩm quyền, chức năng tương tự như cơ quan trung ương theo quy định của Công ước.

Như vậy, so với Công ước, các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam ở một số nội dung là tương đồng. Tuy nhiên, phần nhiều quy định còn chung chung, mang tính nguyên tắc hoặc còn có khoảng trống hay khác biệt. Đặc biệt là về trình tự, thủ tục trao trả trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép và các quy định liên quan đến việc bảo đảm quyền thăm nom trẻ chưa được quy định cụ thể.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng và toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài cũng rất phát triển, thì những vụ việc đưa trẻ đi trái pháp hoặc vi phạm quyền thăm nom trẻ có yếu tố quốc tế mà Việt Nam phải giải quyết cũng sẽ phát sinh nhiều hơn. Chính phủ cũng đã có chủ trương gia nhập Công ước trong thời gian tới khi điều kiện chín muồi. Để thực thi Công ước một cách hiệu quả sau khi gia nhập, thì Việt Nam cần nghiên cứu, đánh giá pháp luật trong nước so với các quy định của Công ước để có những giải pháp, lộ trình hoàn thiện pháp luật cụ thể.

ThS. Phạm Hồ Hương

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp



[1]. Công ước hiện đã có 99 thành viên, trong đó có nhiều quốc gia mà Việt Nam có số lượng lớn các vụ việc về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài như: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia… Xem giới thiệu Công ước tại http://www.hcch.net/upload/outline28e.pdf.

[2]. Điều 4 quy định: “Công ước này áp dụng đối với bất kỳ trẻ em nào thường trú tại một quốc gia ký kết ngay trước khi có bất kỳ sự vi phạm quyền nuôi dưỡng hoặc thăm nom” và khoản a Điều 5 quy định: “Quyền nuôi dưỡng bao gồm các quyền liên quan đến việc chăm sóc bản thân trẻ và đặc biệt, quyền quyết định nơi cư trú của trẻ”.

[3]. Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống”.

[4]. Điều 1 Luật Cư trú quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: