Thứ ba 25/08/2026 21:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định của pháp luật Việt Nam về những nội dung liên quan đến Công ước La Hay năm 1980

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của việc giữ và đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia

Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của việc giữ và đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi tắt là Công ước) là văn bản pháp lý quốc tế quan trọng quy định các biện pháp mang tính chất dân sự trong hợp tác giữa các quốc gia có liên quan để trả trẻ em về quốc gia nơi trẻ em thường trú một cách nhanh nhất hoặc đảm bảo quyền thăm nom trẻ em, góp phần đấu tranh chống lại hành vi của cha/mẹ hoặc người thân giữ hoặc đưa đi trái phép chính con, cháu của mình[1]. Mục tiêu của Công ước là nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những ảnh hưởng tiêu cực từ hành vi đưa trẻ em đi hoặc giữ trẻ em trái phép được thực hiện bởi cha/mẹ hoặc người thân của trẻ em; thông qua thủ tục hợp tác giữa các quốc gia thành viên đảm bảo an toàn cho trẻ em trong mọi trường hợp trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép; đảm bảo nhanh chóng trả lại trẻ em đã bị mang đi hoặc giữ lại trái phép ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Công ước. Đồng thời, Công ước đảm bảo quyền nuôi dưỡng và quyền thăm nom theo pháp luật của một quốc gia ký kết được tôn trọng và bảo vệ tại các quốc gia ký kết khác.

Với mục tiêu như trên, Công ước tiếp cận thông qua thủ tục tố tụng dân sự để xử lý đối với hành vi cha/mẹ hoặc người thân mang trẻ ra nước ngoài trái pháp luật và đưa ra cơ chế hợp tác giữa cơ quan trung ương của các quốc gia thành viên với những quy định rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm của các bên, quy trình thủ tục, hồ sơ. Mặc dù, quy định của Công ước tương đối chi tiết, cụ thể và Công ước không đưa ra yêu cầu quốc gia thành viên phải sửa đổi pháp luật trong nước để đảm bảo phù hợp với Công ước, nhưng thực tiễn cho thấy, hầu hết các quốc gia thành viên đều phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật trong nước để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện Công ước. Một số nước thì sửa đổi, bổ sung nội dung có liên quan vào các đạo luật hiện hành (ví dụ như Pháp đã sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình), trong khi đó một số quốc gia khác lại ban hành đạo luật riêng để thực thi Công ước hiệu quả hơn (ví dụ như Hoa Kỳ, Thái Lan, Nhật Bản...). Nhìn chung, dù với một văn bản riêng hay đặt trong số một văn bản pháp luật chung khác thì các nước đều có quy định cụ thể, chi tiết về thủ tục giải quyết yêu cầu trao trả trẻ theo phạm vi của Công ước.

Hiện nay, để giải quyết hậu quả của hành vi bắt cóc trẻ em, Việt Nam mới chỉ tiếp cận ở khía cạnh hình sự còn việc giải quyết hậu quả pháp lý của hành vi đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ trái phép từ góc độ dân sự như phạm vi điều chỉnh của Công ước lại là vấn đề hoàn toàn mới. Điều này cũng có nghĩa là, hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam còn nhiều khoảng chống hay có sự khác biệt so với quy định của Công ước.

1. Một số khái niệm chính được đề cập tại Công ước

Về quyền nuôi dưỡng, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có một số quy định về quyền nuôi dưỡng trẻ em như xác định người có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em (Điều 71)... Tuy nhiên, Luật này không xác định rõ nội hàm của chăm sóc, nuôi dưỡng là gì, có bao gồm cả quyền quyết định nơi thường trú của trẻ như quy định của Công ước hay không? Tương tự, đối với thuật ngữ “quyền thăm nom”, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng có quy định về quyền của cha/mẹ được thăm nom con trong trường hợp ly hôn (Điều 82) nhưng cũng không xác định cụ thể nội hàm của quyền thăm nom, quyền này có bao gồm cả quyền đưa trẻ đi khỏi nơi trẻ thường trú trong một thời gian nhất định hay không?

Về độ tuổi của trẻ em, Công ước áp dụng đối với trẻ dưới 16 tuổi. Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam cũng xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi (Điều 1). Tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, thì quyền nuôi dưỡng của cha/mẹ được duy trì đối với trẻ đến 18 tuổi trở xuống. Như vậy, quy định này có khoảng cách so với Công ước.

Về nơi thường trú, thuật ngữ “nơi thường trú” là một thuật ngữ quan trọng được sử dụng tại Công ước vì gắn với mục đích chính là đảm bảo cho trẻ em được sống tại nơi quen thuộc với trẻ em. Từ các quy định của Công ước, đặc biệt ở Điều 4 và Điều 5[2], có thể hiểu việc xác định nơi thường trú của trẻ em phụ thuộc vào người có quyền nuôi dưỡng, đồng thời thuật ngữ này cũng được sử dụng để đề cập tới nơi trẻ vốn sinh sống thường xuyên cùng cha mẹ, hoặc cùng cha/mẹ với sự đồng ý của người còn lại hoặc bởi quyết định của Tòa án hoặc nơi trẻ sinh sống với những người có trách nhiệm nuôi dưỡng… Công ước không đưa ra khái niệm cụ thể về nơi thường trú mà để cho pháp luật của các quốc gia giải quyết. Pháp luật Việt Nam xác định nơi cư trú của trẻ theo nơi cư trú của người nuôi dưỡng[3]. Tuy nhiên, thuật ngữ “cư trú” theo pháp luật Việt Nam lại bao gồm cả tạm trú và thường trú[4]. Điều này có thể dẫn đến những phức tạp khi áp dụng Công ước.

2. Về căn cứ phát sinh quyền nuôi dưỡng, quyền thăm nom và việc đảm bảo quyền bày tỏ nguyện vọng của trẻ

Theo quy định của Công ước, các quyền nuôi dưỡng được phát sinh theo quy định pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc theo thỏa thuận hợp pháp theo pháp luật của quốc gia thành viên. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của Việt Nam cũng có quy định tương tự.

Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng có một số quy định liên quan như quy định về chủ thể có quyền thăm nom, nghĩa vụ hợp tác để thực thi quyền này cũng như trường hợp hạn chế quyền thăm nom. Tuy nhiên, cũng tương tự như vấn đề trả lại trẻ, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thi hành án dân sự cũng chưa có được cơ chế đảm bảo thực hiện quyền thăm nom nếu các bên liên quan không tự giác thực hiện.

Trên thực tế, quyền nuôi dưỡng hoặc thăm nom con trong các bản án hôn nhân, gia đình của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Việt Nam thường được thực hiện trên cơ sở quyết định của Tòa án Việt Nam về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài. Đối với những trường hợp chưa có bản án, quyết định được công nhận thì pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để giải quyết hậu quả hành vi đưa trẻ đi trái phép và cũng chưa có cơ chế theo cách tiếp cận Công ước để đảm bảo quyền thăm nom con của cha/mẹ. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam còn lúng túng vì thiếu cơ sở pháp lý quốc tế cũng như trong nước để giải quyết. Điều này là một bất cập cần được sớm giải quyết.

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng đã có quy định về đảm bảo quyền bày tỏ nguyện vọng của trẻ trong việc xác định người nuôi dưỡng trong thủ tục ly hôn phù hợp với tinh thần Điều 13 Công ước.

3. Về thủ tục trao trả lại trẻ

Công ước yêu cầu các cơ quan tư pháp hoặc hành chính của quốc gia ký kết phải khẩn trương tiến hành các thủ tục trả lại trẻ khi nhận được đơn yêu cầu từ các quốc gia thành viên khác. Tuy nhiên, việc xác định cơ quan trong nước có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu này và thủ tục giải quyết hoàn toàn do pháp luật mỗi quốc gia tự điều chỉnh. Tại Việt Nam, việc giải quyết các vụ việc liên quan đến quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, thăm nom trẻ thuộc thẩm quyền của Tòa án, có thể theo thủ tục công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (trường hợp đã có bản án quyết định về quyền nuôi dưỡng) hoặc theo thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài (khi đang có tranh chấp về quyền nuôi dưỡng). Tuy nhiên, hiện nay thời hạn giải quyết các loại vụ việc này theo Bộ luật Tố tụng dân sự khó có thể đáp ứng yêu cầu của Công ước. Bên cạnh đó, Công ước cũng có một số yêu cầu về thủ tục hồ sơ khác với pháp luật trong nước. Chẳng hạn như, kể cả khi Tòa án đã có quyết định việc trao trả lại trẻ thì Luật Thi hành án dân sự cũng chưa có cơ chế đảm bảo thực hiện nếu các bên liên quan không tự giác thực hiện. Thi hành các quyết định về thực hiện quyền nuôi dưỡng thuộc nhóm thi hành án phi tài sản, nên nó có những yêu cầu, đặc thù riêng khác với thi hành án về tài sản. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành chưa có quy định về quy trình, cách thức thực hiện các yêu cầu thi hành án phi tài sản ngoại trừ một số quy định về biện pháp xử phạt hành chính trong thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự hiện hành cũng không có quy định về thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài để điều chỉnh những vấn đề đặc thù riêng của loại vụ việc này, mà vẫn chỉ áp dụng những quy định chung về thi hành án.

4. Về chỉ định cơ quan trung ương

Công ước yêu cầu quốc gia ký kết phải chỉ định một hoặc một số cơ quan trung ương thực hiện các nghĩa vụ do Công ước quy định cho các cơ quan đó bao gồm nhiều nghĩa vụ từ tiếp nhận yêu cầu trả lại trẻ em, tìm kiếm trẻ em, có các hoạt động ngăn chặn tổn hại khác có thể xảy ra với trẻ em… đến dàn xếp hành chính cần thiết và thích hợp nhằm bảo đảm việc trả lại trẻ em một cách an toàn. Hiện nay, Việt Nam chưa có cơ quan, tổ chức nào được giao các thẩm quyền, chức năng tương tự như cơ quan trung ương theo quy định của Công ước.

Như vậy, so với Công ước, các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam ở một số nội dung là tương đồng. Tuy nhiên, phần nhiều quy định còn chung chung, mang tính nguyên tắc hoặc còn có khoảng trống hay khác biệt. Đặc biệt là về trình tự, thủ tục trao trả trẻ em bị mang đi hoặc giữ lại trái phép và các quy định liên quan đến việc bảo đảm quyền thăm nom trẻ chưa được quy định cụ thể.

Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng và toàn diện với khu vực và thế giới, các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài cũng rất phát triển, thì những vụ việc đưa trẻ đi trái pháp hoặc vi phạm quyền thăm nom trẻ có yếu tố quốc tế mà Việt Nam phải giải quyết cũng sẽ phát sinh nhiều hơn. Chính phủ cũng đã có chủ trương gia nhập Công ước trong thời gian tới khi điều kiện chín muồi. Để thực thi Công ước một cách hiệu quả sau khi gia nhập, thì Việt Nam cần nghiên cứu, đánh giá pháp luật trong nước so với các quy định của Công ước để có những giải pháp, lộ trình hoàn thiện pháp luật cụ thể.

ThS. Phạm Hồ Hương

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp



[1]. Công ước hiện đã có 99 thành viên, trong đó có nhiều quốc gia mà Việt Nam có số lượng lớn các vụ việc về hôn nhân, gia đình có yếu tố nước ngoài như: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ốt-xtrây-lia… Xem giới thiệu Công ước tại http://www.hcch.net/upload/outline28e.pdf.

[2]. Điều 4 quy định: “Công ước này áp dụng đối với bất kỳ trẻ em nào thường trú tại một quốc gia ký kết ngay trước khi có bất kỳ sự vi phạm quyền nuôi dưỡng hoặc thăm nom” và khoản a Điều 5 quy định: “Quyền nuôi dưỡng bao gồm các quyền liên quan đến việc chăm sóc bản thân trẻ và đặc biệt, quyền quyết định nơi cư trú của trẻ”.

[3]. Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống”.

[4]. Điều 1 Luật Cư trú quy định: “Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: