Thứ năm 22/01/2026 18:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ và chứng minh

Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy vậy, Bộ luật này không quy định cụ thể “tính chủ động” của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

1. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự và yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng đương sự đã không cung cấp được đầy đủ, do vậy đã ảnh hưởng đến phán quyết của Tòa án về tính chính xác của vụ việc. Việc không cung cấp được đầy đủ xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau, nhưng có hai lý do cơ bản: (i) Đương sự chưa có đủ nhận thức để khai và đánh giá những thông tin liên quan trên các tài liệu để xác định đó có phải là tài liệu, chứng cứ của vụ việc dân sự hay không; (ii) Có những tài liệu, chứng cứ trong vụ việc dân sự do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giữ, nên đã có những trở ngại nhất định cho đương sự. Để tháo gỡ, giải quyết hạn chế nêu trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự “chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án”[1] và “đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ”[2]. Quy định này đã tạo ra một cơ chế bảo đảm cho đương sự có điều kiện thực hiện quyền một cách thực sự để thu thập tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án.

Tuy nhiên, có những trường hợp, mặc dù đương sự là người khởi kiện chủ động thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng không thể thực hiện được, do đó cần có cơ chế bảo đảm khác, đó là quy định nghĩa vụ của bên bị khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc bên bị khởi kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa chứng minh mình có lỗi hoặc không có lỗi, thông qua đó giúp Tòa án có được quyết định chính xác trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Điều này được thể hiện tại khoản 1 và khoản 3 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2. Bảo đảm tranh tụng trong xét xử

Điều 23a Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền “tranh luận” để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Tranh luận là sự cọ sát, đối đáp giữa các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa, trên cơ sở đó tìm đến sự thật khách quan của vụ án, giúp Tòa án có phán quyết chính xác. Tuy vậy, về chủ trương cải cách tư pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 quy định “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”[3], nên trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụm từ “tranh luận” được đổi thành “tranh tụng” cho phù hợp với lý luận và thực tiễn.

Để bảo đảm được quyền tranh tụng, mỗi bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được thu thập tài liệu, chứng cứ, đồng thời thông báo cho nhau biết để chủ động thực hiện quyền tranh tụng, nhưng những vấn đề này chưa được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã làm hạn chế về sự bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Nhằm giải quyết những bất cập, hạn chế nêu trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp (khoản 2 Điều 24).

3. Chủ thể thực hiện việc xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ và chứng minh

3.1. Quy định nhiệm vụ quyền hạn của thẩm phán, thẩm tra viên trong việc xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ

Trên thực tế, để tiến hành tố tụng dân sự nói chung, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ nói riêng phải là một chức danh pháp lý cụ thể như thẩm phán Tòa án. Tuy vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã không quy định nội dung trên. Do đó, khoản 3 Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định, thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn “tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ” để giải quyết vụ việc dân sự. Quy định mới này đã xác định chức danh pháp lý cụ thể, đồng thời xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

Một vấn đề cần quan tâm khác là Điều 50 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thêm chức danh pháp lý “kiểm tra viên” là người tiến hành tố tụng, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn khác, kiểm tra viên có nhiệm vụ, quyền hạn “thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự” như thẩm phán. Tuy nhiên, có điểm khác biệt cơ bản của kiểm tra viên so với thẩm phán là kiểm tra viên có nhiệm vụ “hỗ trợ thẩm phán thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này” và không được tham gia phiên tòa dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thêm chức danh pháp lý là kiểm tra viên đã nâng số lượng về chức danh pháp lý cùng với thẩm phán góp phần giải quyết tốt hơn số lượng và chất lượng vụ việc dân sự, bên cạnh đó còn giảm áp lực cho thẩm phán.

3.2. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên

Kiểm sát viên là chức danh pháp lý tiến hành tố tụng theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Điều 58 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên có những quy định mới, trong đó có nội dung cơ bản liên quan đến chứng cứ và chứng minh đó là yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là những quy định mới thể hiện rõ nhiệm vụ, tầm quan trọng của Viện kiểm sát về kiểm sát giải quyết vụ việc dân sự, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự, bảo vệ pháp chế được thống nhất; đồng thời tạo điều kiện nâng cao tính độc lập, chủ động và trách nhiệm của kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ.

4. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh

Chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ có đương sự mà Viện kiểm sát, Tòa án... cũng có quyền và nghĩa vụ đó. Trong tố tụng dân sự không phải mọi tình tiết, sự kiện đều phải chứng minh, đó là những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận hoặc là đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình tiết, sự kiện khác đã được ghi trong văn bản và đã được công chứng, chứng thực. Tuy vậy, thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự nếu có nghi ngờ về những tình tiết, sự kiện hoặc là tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực nhưng không có biện pháp cần thiết để xác định về tính xác thực đó thì quyết định của Tòa án sẽ không khách quan, chính xác. Do đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tạo cơ chế pháp lý để giải quyết vấn đề này khi điểm c khoản 1 Điều 92 quy định: Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Với quy định mới này đã tháo gỡ cho thẩm phán giải quyết được dứt điểm vụ án dân sự, đặc biệt là bảo vệ kịp thời quyền lợi của đương sự.

5. Quy định về chứng cứ

Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định, chứng cứ được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án “theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”. Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, chứng cứ do đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xuất trình cho Tòa án “trong quá trình tố tụng”.

Về quy định “trong quá trình tố tụng” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã giải quyết được vấn về lý luận và thực tiễn. Về thực tiễn, quá trình giải quyết vụ việc dân sự, tránh trường hợp đương sự tưởng rằng với nguyên tắc hai cấp xét xử nên tài liệu, chứng cứ mà họ cung cấp cho Tòa án chỉ có ý nghĩa ở giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm. Về lý luận, “trong quá trình tố tụng”, điều đó có nghĩa là đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự; hay nói một cách cụ thể hơn, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền cung cấp tài liệu, chứng cho Tòa án mỗi giai đoạn tố tụng về sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, miễn sao bảo đảm đúng điều kiện quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã xác định rõ về thời điểm đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc xác định được thời điểm đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án là quan trọng, là khâu trung tâm có ý nghĩa quyết định để đánh giá chứng cứ và chứng minh trong vụ việc dân sự được khách quan, toàn diện.

6. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng nguồn của chứng cứ được xác định giới hạn nhất định theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm các trường hợp là nguồn của chứng cứ sau:

- Dữ liệu điện tử: Giao dịch dân sự bằng dữ liệu điện tử được các bên thực hiện truyền thông tin từ máy tính đến máy tính nhằm góp phần giản tiện về thời gian, chi phí... nhưng vẫn bảo đảm được hiệu quả của công việc. Đây là phương tiện hiện nay trong các mối quan hệ về dân sự, kinh doanh, thương mại được sử dụng khá phố biến và phù hợp với Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Do đó, việc bổ sung nguồn chứng cứ này là cần thiết nhằm đáp ứng được những yêu cầu thực tế đặt ra.

- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập: Không phải mọi văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý đều được xem là nguồn của chứng cứ, mà văn bản đó chỉ có hiệu lực pháp lý khi được thực hiện bởi người có chức năng lập. Theo quy định của pháp luật thì việc ghi nhận lại sự kiện, hành vi pháp lý do những người khác nhau thực hiện. Việc bổ sung nguồn chứng cứ này là để bảo đảm tốt hơn nữa quyền lợi của đương sự.

- Văn bản công chứng, chứng thực: Không phải mọi văn bản công chứng, chứng thực đều là nguồn của chứng cứ mà văn bản công chứng, chứng thực đó phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật về công chứng, chứng thực quy định. Trong đời sống xã hội nói chung, giao dịch dân sự nói riêng, do nhu cầu nên văn bản công chứng, chứng thực được thực hiện phổ biến. Vì vậy, việc bổ sung nguồn văn bản công chứng, chứng thực là cần thiết. Việc thực hiện công chứng, chứng thực do người của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện nên tính xác thực cao, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền lợi trong đời sống xã hội nói chung, trong giao dịch dân sự nói riêng, là cơ sở quan trọng để Tòa án có được quyết định chính xác trong bản án, quyết định.

7. Các hình thức xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ

7.1. Xác định chứng cứ

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, những thông tin, tài liệu là phong phú và đa dạng. Tuy vậy, không phải mọi thông tin, tài liệu thu thập được đều xác định là chứng cứ. Chỉ những thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ việc dân sự và có nguồn là chứng cứ mới được xác định là chứng cứ. Việc bổ sung nguồn của chứng cứ để xác định là chứng cứ đã tạo điều kiện để đương sự, người đại diện của đương sự lựa chọn các hình thức, phương thức thu thập tài liệu, chứng cứ khác nhau trên cơ sở các bên đương sự đã giao dịch trên thực tế. Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung một số trường hợp được xác định là chứng cứ. Việc bổ sung những thông tin, tài liệu xác định chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là quan trọng, qua đó giúp chủ thể đánh giá chứng cứ có nhiều thông tin khác nhau liên quan đến vụ việc dân sự so sánh, đánh giá một cách toàn diện để tìm đến sự thật khách quan. Tuy vậy, tài liệu, chứng cứ được thu thập là khách quan, nhưng việc đánh giá nó là chủ quan nên không thể tránh khỏi được những thiếu sót nhất định. Do vậy, việc xác định chứng cứ để xác định “làm chứng cứ” là quan trọng, quyết định bản chất của vụ việc dân sự.

7.2. Giao nộp tài liệu, chứng cứ

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án là quyền nhưng đồng thời là nghĩa vụ. Điều đó có nghĩa là, khi một cá nhân, cơ quan, tổ chức xét thấy quyền lợi của mình bị vi phạm, họ có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án, song cùng với đó là có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Người bị kiện có quyền phản đối yêu cầu của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu, nhưng đồng thời có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho phản tố, yêu cầu đó là có căn cứ và cần được bảo vệ. Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) có nội dung quy định, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, để bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình, đương sự thường chủ động giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy vậy, trên thực tế, do những trở ngại khách quan nhất định (lý do chính đáng) và trường hợp khác là đương sự không biết được, đến khi có quyết định giải quyết vụ việc dân sự, tại phiên tòa, phiên họp hoặc quá trình giải quyết vụ việc dân sự tiếp theo mặc dù đương sự có thể đã có tài liệu, chứng cứ nhưng không có quyền giao nộp cho Tòa án nữa. Đó là những vấn đề trên thực tế chưa có cơ chế đủ điều kiện để bảo đảm quyền lợi của đương sự.

Nhằm tháo gỡ những khó khăn, hạn chế nêu trên, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định:

Thứ nhất, tiếp tục khẳng định việc giao nộp tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự là quyền và nghĩa vụ của đương sự. Trong quá trình đó, Tòa án xem xét thấy tài liệu, chứng cứ đương sự giao nộp chưa đầy đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu đương sự nộp bổ sung. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ mà không có lý do chính đáng “thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự”[4], tức là đương sự phải chịu hậu quả về việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ về các tài liệu, chứng cứ vụ việc dân sự cho Tòa án.

Thứ hai, xác định giới hạn về quyền và nghĩa vụ đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án trong thời hạn sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Tuy vậy, tại thời điểm này có hai trường hợp khác nhau: (i) Trường hợp khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự “đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó”[5]. (ii) Trường hợp khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu hoặc đương sự không biết được “trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo”[6].

Thứ ba, xác định nghĩa vụ của đương sự khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện của đương sự khác. Tuy vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã loại trừ những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể sao gửi được “thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự và người đại diện của đương sự”[7].

Như vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bổ sung các điều kiện, thời điểm về giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự cho Tòa án, đồng thời thông báo tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, người đại diện của đương sự khác đã tạo những điều kiện có thể để bảo đảm quyền lợi của đương sự, góp phần cho Tòa án có được phán quyết khách quan, chính xác.

7.3. Xác minh, thu thập chứng cứ

Tên Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là “thu thập chứng cứ”, còn tên Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là “xác minh, thu thập chứng cứ”. Điều đó được hiểu là, hoạt động xác minh tạo tiền đề cho việc thu thập chứng cứ được khách quan, chính xác. Theo Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), chủ thể thu thập chứng cứ là thẩm phán, Viện kiểm sát để giải quyết vụ việc dân sự[8] thì Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung chủ thể xác minh, thu thập chứng là cơ quan, tổ chức, cá nhân và thẩm tra viên theo những nội dung, biện pháp mới[9]. Bên cạnh đó, điều luật đã bổ sung hai biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ đối với Tòa án và xác định thời gian Tòa án phải thông báo tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình[10].

Những vấn đề nêu trên cho thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mở rộng thêm về chủ thể xác minh, thu thập chứng cứ cũng từ đó là các nguồn chứng cứ khác nhau, tạo tiền đề Tòa án xem xét vụ việc một cách toàn diện. Bên cạnh đó, cũng đã xác định nghĩa vụ của chủ thể xác minh, thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự, chẳng hạn Tòa án phải thông báo tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho đương sự để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại khoản 5 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

7.4. Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng

- Lấy lời khai của đương sự: Theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thì việc lấy lời khai của đương sự được thẩm phán hoặc thư ký Tòa án thực hiện. Trên thực tế, quá trình giải quyết vụ việc dân sự không phải lúc nào hoạt động lấy lời khai cũng được thực hiện tại trụ sở Tòa án mà có lúc được thực hiện ngoài trụ sở Tòa án, trong những trường hợp như vậy thì “phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân…”[11]. Thực chất hoạt động xác nhận của “Ủy ban nhân dân…” là nhằm đề cao trách nhiệm, đồng thời xác định về mức độ tin cậy của biên bản lấy lời khai đó giúp Tòa án lấy làm chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự. Vì Ủy ban nhân dân là nơi quản lý về hành chính nên họ nắm được những thông tin liên quan đến con người đó nên để đánh giá mức độ tin cậy về biên bản lấy lời khai là rất cao. Tuy vậy, điều luật quy định “Ủy ban nhân dân” nên về lý luận cũng như thực tiễn thì gồm có cấp xã, cấp huyện đến cấp tỉnh nên không sát với thực tế vì nếu xác nhận của cấp huyện, cấp tỉnh thì mức độ tin cậy về lời khai không cao bằng cấp xã xác nhận như đã nêu ở trên. Do đó, khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rất cụ thể về thẩm quyền xác nhận của Ủy ban nhân dân là cấp xã.

- Lấy lời khai người làm chứng: Khi thẩm phán tiến hành các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ nói chung, lấy lời khai nói riêng đối với người tham gia tố tụng phải xác định được họ “có đầy đủ” năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể là năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự, đó là những điều kiện để xác định giá trị pháp lý của tài liệu, chứng cứ. Khoản 3 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là quy định về trường hợp không bảo đảm năng lực chủ thể, do vậy khi tiến hành lấy lời khai đối với họ phải có mặt của người đại diện…[12] thì lời khai đó mới có giá trị được sử dụng là chứng cứ của vụ việc dân sự. Tuy vậy, trên thực tế, giải quyết vụ việc dân sự còn có những trường hợp khác mà việc lấy lời khai đối với người làm chứng không có người đại diện… thì chắc chắn lời khai đó không bảo đảm tính khách quan, chính xác. Khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tháo gỡ được những khó khăn, hạn chế này bằng quy định bổ sung khi lấy lời khai đối với người làm chứng là “người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” thì phải có mặt của người đại diện, người đang quản lý, trông nom đó. Như vậy, bằng những quy định bổ sung nêu trên của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã xác định thêm về nhiệm vụ, trách nhiệm của thẩm phán, bảo vệ người làm chứng.

7.5. Xem xét, thẩm định tại chỗ

Điều 89 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Tuy vậy, điều luật không xác định rõ việc thẩm phán thực hiện nhiệm vụ đó là chủ động thực hiện hay là do yêu cầu của đương sự. Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể về điều kiện để thẩm phán tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đó là theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Bên cạnh đó, Điều 101 này đã bổ sung về chủ thể tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ là công an xã, phường, thị trấn.

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ là quan trọng, bởi trên thực tế có đối tượng tranh chấp không thể hiện trên tài liệu hoặc có thể thể hiện nhưng không đầy đủ, thậm chí có nghi ngờ về tính chính xác đó trên tài liệu thì phải xem xét, thẩm định tại chỗ, những quy định mới của điều luật nêu trên là việc thể hiện quyền của đương sự, nhiệm vụ và trách nhiệm của thẩm phán, đồng thời việc tham gia của công an cấp xã khi thực hiện đã tạo điều kiện bảo đảm thực hiện thuận lợi công việc.

7.6. Đánh giá chứng cứ

Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nguồn chứng cứ đa dạng, phong phú. Tuy vậy, việc lựa chọn chứng cứ để thu thập có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân sự là quan trọng, điều đó phụ thuộc vào nhận thức, khả năng… và quan trọng là việc thu thập chứng cứ tạo tiền đề cho việc đánh giá nó. Việc thu thập và đánh giá chứng cứ đó phải “liên quan”, tính liên quan là vô cùng, nhưng trong giải quyết vụ việc dân sự, tính liên quan được thể hiện cơ bản: (i) Đối với vụ án dân sự là người yêu cầu với người bị yêu cầu (có thể là phản tố lại), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (nếu có); (ii) Đối với việc dân sự là các bên trong mối quan hệ đó. Mặt khác, việc đánh giá tài liệu, chứng cứ đó phải “hợp pháp”, hợp pháp là sự thể hiện về mặt pháp lý, như là quyền thu thập tài liệu, chứng cứ, xuất xứ nguồn chứng cứ… trên cơ sở đó làm độ tin cậy để xác định có làm chứng cứ của vụ việc dân sự hay không. Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về “tính hợp pháp, tính liên quan” là nằm trong nội dung, mục đích này. Mặt khác, những quy định mới đó cũng cho thấy, điều luật đã xác định rõ về phạm vi cũng như nội dung đánh giá chứng cứ, được xem là khâu quan trọng để có được quyết định chính xác.

8. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Điều 183 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định trước khi tiến hành hòa giải, Tòa án phải thông báo về thời gian, địa điểm, nội dung việc hòa giải… Đó là sự thể hiện để các bên đương sự biết mà chủ động tham gia và trình bày tại phiên hòa giải. Tuy vậy, những nội dung quy định trên chưa đủ, mà cần quy định thêm và diễn giải cụ thể về những vấn đề đó, giúp đương sự nắm và hiểu được để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời xác định về trách nhiệm của thẩm phán thực hiện việc hòa giải tại phiên tòa. Vấn đề này đã được đáp ứng tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, làm nền tảng cho quá trình hòa giải được thực hiện thuận lợi và chính xác[13].

9. Cung cấp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm

Điều 287, Điều 330 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là những quy định mới quy định về cung cấp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm. Đó là những nội dung cơ bản về quyền của đương sự được cung cấp tài liệu, chứng cứ, nhưng phải bảo đảm các điều kiện nhất định; quyền của người có thẩm quyền kháng nghị thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo đảm việc kháng nghị[14].

Tóm lại, để đưa ra phán quyết đúng đắn, khách quan, thuyết phục, “thấu tình, đạt lý” thì Tòa án cần có “chứng cứ” làm căn cứ phán quyết. Điều đó đòi hỏi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải nắm vững khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ; phân biệt được chứng cứ với nguồn chứng cứ, chứng cứ với tài liệu, các văn bản tố tụng; cũng như việc xem xét, đánh giá chứng cứ đúng đắn, có hiệu quả. Quá trình xem xét, đánh giá, sử dụng chứng cứ phải tuân theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm tính công bằng, minh bạch… Để bảo đảm việc tiến hành thu thập chứng cứ được khách quan thì đối với trường hợp Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ cần cân nhắc, quy định người tiến hành việc thu thập chứng cứ không phải là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án mà phải là một thẩm phán khác hoặc bộ phận chuyên trách của Tòa án để tránh tình trạng thẩm phán đã nghiên cứu hồ sơ và chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo nhận thức chủ quan của mình. Bên cạnh đó, cần cụ thể hóa hơn các quy định về việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, trong đó có việc cản trở hoạt động thu thập chứng cứ để khắc phục những bất cập trong thực tiễn hiện nay.

ThS. Đinh Tuấn Anh

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Xem khoản 1 Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xem khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xem khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013.

[4] Xem khoản 1 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] Xem đoạn 2, khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6] Xem đoạn 2, khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Xem khoản 5 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[8] Xem khoản 2 và 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

[9] Xem khoản 1 và khoản 4,. Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10] Xem điểm h, i khoản 2 và khoản 5 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[11] Xem khoản 2 Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

[12] Xem khoản 3 Điều 87 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

[13] Xem Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[14] Xem các điều 287, 330 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: