Thứ ba 17/03/2026 19:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về điều kiện cho vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có quy định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận”.

1. Quy định pháp luật về điều kiện vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng và một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, điều kiện cho vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng áp dụng đối với khách hàng vay được quy định tại Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư số 39/2016/TT-NHNN), cụ thể: “Điều 7. Điều kiện vay vốn: Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: 1. Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. 2. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. 3. Có phương án sử dụng vốn khả thi. 4. Có khả năng tài chính để trả nợ. 5. Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh”. Theo đó, điều kiện cho vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng gồm có đủ 05 điều kiện.

1.1. Điều kiện về chủ thể vay vốn

Chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng là pháp nhân hoặc cá nhân (hay còn gọi khách hàng đi vay vốn), trong đó:

- Đối với khách hàng vay vốn là pháp nhân thì cần phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.

- Đối với khách hàng vay vốn là cá nhân thì phải bảo đảm 02 điều kiện sau đây: (i) Điều kiện về độ tuổi rơi vào 01 trong 02 nhóm tuổi sau: Nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên. (ii) Điều kiện về khả năng nhận thức, tương ứng với 02 nhóm tuổi: Đối với nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đối với nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Với điều kiện này, tác giả nhận thấy có một số vấn đề như sau:

Một là, về độ tuổi vay vốn đối với khách hàng là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có quy định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận”.

Như vậy, nếu trường hợp nhóm đối tượng này đi vay vốn tại các tổ chức tín dụng mà giữa các tổ chức tín dụng và nhóm đối tượng từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản vay vốn tại tổ chức tín dụng mà liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký thì lúc này cần phải được người đại diện theo pháp luật của họ đồng ý (tức là cha, mẹ của người này). Do vậy, nếu quy định này đưa ra khi “cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi” thì được đáp ứng điều kiện vay vốn là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, vì cần phải đặt trong trường hợp họ đi vay có biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng. Do đó, nếu chỉ quy định cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ nếu họ có biện pháp bảo đảm tại tổ chức tín dụng mà liên quan đến động sản, bất động sản thì cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của họ. Còn ngược lại, với quy định như trên vẫn đồng nghĩa với việc “cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi” thì được vay vốn, vậy khi họ thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ vay thì vẫn do chính bản thân họ tự thực hiện? Nếu chính bản thân họ tự thực hiện thì sẽ vi phạm quy định trong giao dịch dân sự tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm là 02 hợp đồng khác nhau, tuy nhiên, hợp đồng bảo đảm là cơ sở để phía tổ chức tín dụng cho vay (có cơ sở để thu hồi vốn sau này), nếu không bảo đảm về hợp đồng bảo đảm thì dù đủ điều kiện vay nhưng phía các tổ chức tín dụng cũng sẽ cân nhắc và có thể không cho vay bởi mang tính rủi ro và tính chịu trách nhiệm về mặt tài sản khi khách hàng là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.

Hai là, về xác định khả năng nhận thức: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về xác định về khả năng nhận thức của 02 nhóm tuổi: (i) Đối với nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. (ii) Đối với nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, cả 02 nhóm tuổi nêu trên tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đều sử dụng thuật ngữ “theo quy định của pháp luật”. Theo tác giả, việc quy định như vậy còn “mơ hồ” và mang tính bao trùm ở cả hệ thống văn bản pháp luật. Bởi lẽ, không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự đã được quy định cụ thể tại Điều 22 và Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, về việc xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên và là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chỉ trừ 03 trường hợp quy định tại Điều 22, Điều 23 và Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Mất năng lực hành vi dân sự; (ii) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (iii) Hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tóm lại, những vấn đề xác định cụ thể về khả năng nhận thức đối với chủ thể là cá nhân khi vay vốn thì chỉ có Bộ luật Dân sự năm 2015 mới là văn bản luật duy nhất quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề nêu trên, do đó, việc Thông tư số 39/2016/TT-NHNN khi xác định về khả năng nhận thức của 02 nhóm tuổi đều sử dụng thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” là chưa phù hợp với thuộc tính của pháp luật về hình thức. Nếu quy định như trên, có thể hiểu rằng, sẽ có nhiều văn bản pháp luật khác quy định về vấn đề này, như vậy là chưa phù hợp, vì cách thức xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ có quy định cụ thể và chi tiết trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.2. Điều kiện về mục đích vay vốn

Theo quy định thì mục đích vay vốn của khách hàng phải phục vụ vào mục đích hợp pháp. Như vậy, nếu khách hàng vay vốn sử dụng vào mục đích bất hợp pháp thì tổ chức tín dụng sẽ không cho vay. Vấn đề này hiện nay tại Điều 8 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có đề cập những nhu cầu vốn không được cho vay, theo đó, tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn sau đây: (i) Để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh. (ii) Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm. (iii) Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh. (iv) Để mua vàng miếng. (v) Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay, trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiền vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. (vi) Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện như: Khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh; thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ; khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Thông qua quy định nêu trên, tác giả nhận thấy, quy định tại khoản 5 Điều này có sử dụng cụm từ “trả nợ khoản nợ vay”, “dự toán xây dựng công trình” và tại khoản 6 Điều này cũng sử dụng cụm từ “trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác”. Đây là các thuật ngữ chưa thực sự phù hợp với tính chất quy định của pháp luật. Chính vì vậy, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 312/QĐ-NHNN ngày 14/3/2017 để đính chính lại các cụm từ như sau: (i) Cụm từ “trả nợ khoản nợ vay” được đính chính thành “trả nợ khoản cấp tín dụng”. (ii) Cụm từ “dự toán xây dựng công trình” được đính chính thành “tổng mức đầu tư xây dựng”. (iii) Cụm từ “trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác” được đính chính thành “trả nợ khoản cấp tín dụng tại tổ chức tín dụng khác”.

Mặc dù đã được đính chính trong Quyết định số 312/QĐ-NHNN, tuy nhiên, khi đối chiếu với Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì đây không thuộc hệ thống của văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, cùng một quy định pháp luật mà được tách ra một nửa là thuộc văn bản quy phạm pháp luật và một nửa lại không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, như vậy là chưa hợp lý và chưa mang tính đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, thông qua điều kiện về mục đích vay vốn, tác giả nhận thấy, trên thực tiễn, rất khó chứng minh rằng khách hàng đó vay vốn sử dụng vào mục đích như thế nào? Bởi lẽ, có thể hợp thức hóa trong hợp đồng tín dụng ghi là sử dụng vào vào mục đích hợp pháp nhưng khi khách hàng mang tiền về sử dụng lại sử dụng vào mục đích bất hợp pháp khác, vấn đề này rất khó kiểm soát về nguồn tiền mà khách hàng sử dụng. Do vậy, việc đặt ra quy định này cũng chỉ là một điều kiện mang tính hợp thức để bảo đảm điều kiện về mặt hình thức trong hợp đồng, mà không có nghĩa rằng sẽ giải quyết triệt để về góc độ thực tiễn.

1.3. Điều kiện về phương án sử dụng vốn

Về phương án sử dụng vốn, tại khoản 3 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN chỉ đưa ra một quy định khá ngắn gọn là có phương án sử dụng vốn mang tính khả thi. Vậy, câu hỏi đặt ra rằng, như thế nào mang tính khả thi? Vấn đề này còn trừu tượng, do vậy, cần phải quy định cụ thể, rõ ràng về phương án mang tính khả thi.

1.4. Điều kiện về khả năng tài chính

Khả năng tài chính ở đây chính là khả năng để trả nợ của khách hàng khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Như vậy, việc minh chứng một khách hàng có khả năng để trả nợ khi vay vốn hiện nay chưa được thể hiện và hướng dẫn cụ thể ở một văn bản pháp luật nào, bởi lẽ, thuật ngữ “có khả năng” cũng còn mang tính “mơ hồ”, “có khả năng” sẽ khác với “có đủ khả năng”. Như vậy, thuật ngữ “có khả năng” vẫn còn mang tính chưa chắc chắn. Vậy, một người bình thường thì họ vẫn có khả năng tài chính, bởi lẽ nếu sử dụng thuật ngữ “có khả năng” thì ai cũng có thể có khả năng tạo ra nguồn thu nhập trong thời gian gần.

1.5. Điều kiện về tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh

Điều kiện này được đặt ra trong trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn: (i) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; (ii) Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật Thương mại; (iii) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; (iv) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; (v) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật Công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật Công nghệ cao.

Như vậy, điều kiện này chỉ được đặt ra trong trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay khi rơi vào 05 trường hợp tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, khi đó, khách hàng mới được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Do vậy, đây không phải là điều kiện bắt buộc phải có để áp dụng đối với khách hàng đi vay vốn tại tổ chức tín dụng, chỉ khi nào khách hàng vay vốn theo mức lãi suất mà rơi vào 05 trường hợp trên thì mới đặt ra điều kiện này để xem xét. Tuy nhiên, ngay tại đoạn đầu tiên của Điều 7 Thông tư này có đề cập quy định: “Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:..” cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “đủ” được hiểu là bắt buộc phải đủ 05 điều kiện như tác giả đã phân tích phía trên, điều này là chưa chính xác và chưa logic, bởi lẽ, tại khoản 5 Điều 7 của Thông tư này thì điều kiện này không phải là điều kiện bắt buộc. Do đó, việc Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đề cập thuật ngữ “đủ” khi viện dẫn 05 khoản trong điều luật là chưa phù hợp với tính chất, nội dung và với cách hiểu về quy định pháp luật.

2. Một số kiến nghị

Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, tác giả kiến nghị sửa đổi quy định về điều kiện vay vốn trong hợp đồng tín dụng theo hướng: (i) Tại Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cần chia làm 02 khoản, trong đó, khoản 1 quy định về điều kiện cho vay, còn khoản 2 quy định về điều kiện khác ngoài điều kiện tại khoản 1; (ii) Sửa đổi cụm từ “theo quy định của pháp luật” tại khoản 1 thành “theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Cụ thể:

“Điều 7. Điều kiện vay vốn

1. Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:

a. Đối với pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Đối với trường hợp khách hàng là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nếu trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay liên quan đến động sản hoặc bất động sản phải đăng ký thì cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

b. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp.

c. Có phương án sử dụng vốn khả thi.

d. Có đủ khả năng tài chính để trả nợ thông qua những minh chứng về nguồn thu nhập thực tế trong thời gian 02 năm trở lại, kể từ thời điểm vay vốn.

2. Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, ngoài những điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, thì khách hàng phải được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh”.

ThS. Trần Văn Từ

Đại học Luật, Đại học Huế

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: