Thứ ba 22/09/2026 08:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về điều kiện cho vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng - Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện

Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có quy định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận”.

1. Quy định pháp luật về điều kiện vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng và một số vướng mắc, bất cập

Hiện nay, điều kiện cho vay vốn trong hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng áp dụng đối với khách hàng vay được quy định tại Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư số 39/2016/TT-NHNN), cụ thể: “Điều 7. Điều kiện vay vốn: Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây: 1. Khách hàng là pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật. Khách hàng là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. 2. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp. 3. Có phương án sử dụng vốn khả thi. 4. Có khả năng tài chính để trả nợ. 5. Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, thì khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh”. Theo đó, điều kiện cho vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng gồm có đủ 05 điều kiện.

1.1. Điều kiện về chủ thể vay vốn

Chủ thể vay vốn tại tổ chức tín dụng là pháp nhân hoặc cá nhân (hay còn gọi khách hàng đi vay vốn), trong đó:

- Đối với khách hàng vay vốn là pháp nhân thì cần phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.

- Đối với khách hàng vay vốn là cá nhân thì phải bảo đảm 02 điều kiện sau đây: (i) Điều kiện về độ tuổi rơi vào 01 trong 02 nhóm tuổi sau: Nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi và nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên. (ii) Điều kiện về khả năng nhận thức, tương ứng với 02 nhóm tuổi: Đối với nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đối với nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Với điều kiện này, tác giả nhận thấy có một số vấn đề như sau:

Một là, về độ tuổi vay vốn đối với khách hàng là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Theo quy định tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý”. Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có quy định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận”.

Như vậy, nếu trường hợp nhóm đối tượng này đi vay vốn tại các tổ chức tín dụng mà giữa các tổ chức tín dụng và nhóm đối tượng từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản vay vốn tại tổ chức tín dụng mà liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký thì lúc này cần phải được người đại diện theo pháp luật của họ đồng ý (tức là cha, mẹ của người này). Do vậy, nếu quy định này đưa ra khi “cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi” thì được đáp ứng điều kiện vay vốn là chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, vì cần phải đặt trong trường hợp họ đi vay có biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng. Do đó, nếu chỉ quy định cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ nếu họ có biện pháp bảo đảm tại tổ chức tín dụng mà liên quan đến động sản, bất động sản thì cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của họ. Còn ngược lại, với quy định như trên vẫn đồng nghĩa với việc “cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi” thì được vay vốn, vậy khi họ thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ vay thì vẫn do chính bản thân họ tự thực hiện? Nếu chính bản thân họ tự thực hiện thì sẽ vi phạm quy định trong giao dịch dân sự tại khoản 4 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù giữa hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm là 02 hợp đồng khác nhau, tuy nhiên, hợp đồng bảo đảm là cơ sở để phía tổ chức tín dụng cho vay (có cơ sở để thu hồi vốn sau này), nếu không bảo đảm về hợp đồng bảo đảm thì dù đủ điều kiện vay nhưng phía các tổ chức tín dụng cũng sẽ cân nhắc và có thể không cho vay bởi mang tính rủi ro và tính chịu trách nhiệm về mặt tài sản khi khách hàng là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.

Hai là, về xác định khả năng nhận thức: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về xác định về khả năng nhận thức của 02 nhóm tuổi: (i) Đối với nhóm tuổi từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. (ii) Đối với nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Như vậy, cả 02 nhóm tuổi nêu trên tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đều sử dụng thuật ngữ “theo quy định của pháp luật”. Theo tác giả, việc quy định như vậy còn “mơ hồ” và mang tính bao trùm ở cả hệ thống văn bản pháp luật. Bởi lẽ, không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự đã được quy định cụ thể tại Điều 22 và Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, về việc xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự năm 2015, người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên và là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chỉ trừ 03 trường hợp quy định tại Điều 22, Điều 23 và Điều 24 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: (i) Mất năng lực hành vi dân sự; (ii) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (iii) Hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tóm lại, những vấn đề xác định cụ thể về khả năng nhận thức đối với chủ thể là cá nhân khi vay vốn thì chỉ có Bộ luật Dân sự năm 2015 mới là văn bản luật duy nhất quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề nêu trên, do đó, việc Thông tư số 39/2016/TT-NHNN khi xác định về khả năng nhận thức của 02 nhóm tuổi đều sử dụng thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” là chưa phù hợp với thuộc tính của pháp luật về hình thức. Nếu quy định như trên, có thể hiểu rằng, sẽ có nhiều văn bản pháp luật khác quy định về vấn đề này, như vậy là chưa phù hợp, vì cách thức xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ có quy định cụ thể và chi tiết trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

1.2. Điều kiện về mục đích vay vốn

Theo quy định thì mục đích vay vốn của khách hàng phải phục vụ vào mục đích hợp pháp. Như vậy, nếu khách hàng vay vốn sử dụng vào mục đích bất hợp pháp thì tổ chức tín dụng sẽ không cho vay. Vấn đề này hiện nay tại Điều 8 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN có đề cập những nhu cầu vốn không được cho vay, theo đó, tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn sau đây: (i) Để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh. (ii) Để thanh toán các chi phí, đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch, hành vi mà pháp luật cấm. (iii) Để mua, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thuộc ngành, nghề mà pháp luật cấm đầu tư kinh doanh. (iv) Để mua vàng miếng. (v) Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay, trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiền vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật. (vi) Để trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác và trả nợ khoản vay nước ngoài, trừ trường hợp cho vay để trả nợ trước hạn khoản vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện như: Khoản vay phục vụ hoạt động kinh doanh; thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn cho vay còn lại của khoản vay cũ; khoản vay chưa thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ.

Thông qua quy định nêu trên, tác giả nhận thấy, quy định tại khoản 5 Điều này có sử dụng cụm từ “trả nợ khoản nợ vay”, “dự toán xây dựng công trình” và tại khoản 6 Điều này cũng sử dụng cụm từ “trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác”. Đây là các thuật ngữ chưa thực sự phù hợp với tính chất quy định của pháp luật. Chính vì vậy, Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 312/QĐ-NHNN ngày 14/3/2017 để đính chính lại các cụm từ như sau: (i) Cụm từ “trả nợ khoản nợ vay” được đính chính thành “trả nợ khoản cấp tín dụng”. (ii) Cụm từ “dự toán xây dựng công trình” được đính chính thành “tổng mức đầu tư xây dựng”. (iii) Cụm từ “trả nợ khoản nợ vay tại tổ chức tín dụng khác” được đính chính thành “trả nợ khoản cấp tín dụng tại tổ chức tín dụng khác”.

Mặc dù đã được đính chính trong Quyết định số 312/QĐ-NHNN, tuy nhiên, khi đối chiếu với Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì đây không thuộc hệ thống của văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, cùng một quy định pháp luật mà được tách ra một nửa là thuộc văn bản quy phạm pháp luật và một nửa lại không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, như vậy là chưa hợp lý và chưa mang tính đồng bộ trong quá trình áp dụng pháp luật.

Bên cạnh đó, thông qua điều kiện về mục đích vay vốn, tác giả nhận thấy, trên thực tiễn, rất khó chứng minh rằng khách hàng đó vay vốn sử dụng vào mục đích như thế nào? Bởi lẽ, có thể hợp thức hóa trong hợp đồng tín dụng ghi là sử dụng vào vào mục đích hợp pháp nhưng khi khách hàng mang tiền về sử dụng lại sử dụng vào mục đích bất hợp pháp khác, vấn đề này rất khó kiểm soát về nguồn tiền mà khách hàng sử dụng. Do vậy, việc đặt ra quy định này cũng chỉ là một điều kiện mang tính hợp thức để bảo đảm điều kiện về mặt hình thức trong hợp đồng, mà không có nghĩa rằng sẽ giải quyết triệt để về góc độ thực tiễn.

1.3. Điều kiện về phương án sử dụng vốn

Về phương án sử dụng vốn, tại khoản 3 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN chỉ đưa ra một quy định khá ngắn gọn là có phương án sử dụng vốn mang tính khả thi. Vậy, câu hỏi đặt ra rằng, như thế nào mang tính khả thi? Vấn đề này còn trừu tượng, do vậy, cần phải quy định cụ thể, rõ ràng về phương án mang tính khả thi.

1.4. Điều kiện về khả năng tài chính

Khả năng tài chính ở đây chính là khả năng để trả nợ của khách hàng khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Như vậy, việc minh chứng một khách hàng có khả năng để trả nợ khi vay vốn hiện nay chưa được thể hiện và hướng dẫn cụ thể ở một văn bản pháp luật nào, bởi lẽ, thuật ngữ “có khả năng” cũng còn mang tính “mơ hồ”, “có khả năng” sẽ khác với “có đủ khả năng”. Như vậy, thuật ngữ “có khả năng” vẫn còn mang tính chưa chắc chắn. Vậy, một người bình thường thì họ vẫn có khả năng tài chính, bởi lẽ nếu sử dụng thuật ngữ “có khả năng” thì ai cũng có thể có khả năng tạo ra nguồn thu nhập trong thời gian gần.

1.5. Điều kiện về tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh

Điều kiện này được đặt ra trong trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, khách hàng được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn: (i) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; (ii) Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật Thương mại; (iii) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; (iv) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ; (v) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật Công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật Công nghệ cao.

Như vậy, điều kiện này chỉ được đặt ra trong trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay khi rơi vào 05 trường hợp tại khoản 2 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, khi đó, khách hàng mới được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh. Do vậy, đây không phải là điều kiện bắt buộc phải có để áp dụng đối với khách hàng đi vay vốn tại tổ chức tín dụng, chỉ khi nào khách hàng vay vốn theo mức lãi suất mà rơi vào 05 trường hợp trên thì mới đặt ra điều kiện này để xem xét. Tuy nhiên, ngay tại đoạn đầu tiên của Điều 7 Thông tư này có đề cập quy định: “Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:..” cho thấy, việc sử dụng thuật ngữ “đủ” được hiểu là bắt buộc phải đủ 05 điều kiện như tác giả đã phân tích phía trên, điều này là chưa chính xác và chưa logic, bởi lẽ, tại khoản 5 Điều 7 của Thông tư này thì điều kiện này không phải là điều kiện bắt buộc. Do đó, việc Thông tư số 39/2016/TT-NHNN đề cập thuật ngữ “đủ” khi viện dẫn 05 khoản trong điều luật là chưa phù hợp với tính chất, nội dung và với cách hiểu về quy định pháp luật.

2. Một số kiến nghị

Từ những vấn đề đã phân tích ở trên, tác giả kiến nghị sửa đổi quy định về điều kiện vay vốn trong hợp đồng tín dụng theo hướng: (i) Tại Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cần chia làm 02 khoản, trong đó, khoản 1 quy định về điều kiện cho vay, còn khoản 2 quy định về điều kiện khác ngoài điều kiện tại khoản 1; (ii) Sửa đổi cụm từ “theo quy định của pháp luật” tại khoản 1 thành “theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Cụ thể:

“Điều 7. Điều kiện vay vốn

1. Tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau đây:

a. Đối với pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật.

Đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Đối với trường hợp khách hàng là cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nếu trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay liên quan đến động sản hoặc bất động sản phải đăng ký thì cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.

b. Nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích hợp pháp.

c. Có phương án sử dụng vốn khả thi.

d. Có đủ khả năng tài chính để trả nợ thông qua những minh chứng về nguồn thu nhập thực tế trong thời gian 02 năm trở lại, kể từ thời điểm vay vốn.

2. Trường hợp khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng theo lãi suất cho vay quy định tại khoản 2 Điều 13 Thông tư này, ngoài những điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, thì khách hàng phải được tổ chức tín dụng đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh”.

ThS. Trần Văn Từ

Đại học Luật, Đại học Huế

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: