Thứ hai 07/09/2026 04:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Hợp đồng này cần được thể hiện dưới hình thức nhất định. Pháp luật dân sự Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản.

Tuy nhiên, các quy định này khi thực hiện cũng đã nảy sinh một số bất cập cần được nghiên cứu để có giải pháp khắc phục. Với bài viết “Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, TS. Lê Thị Giang sẽ phân tích quy định của pháp luật Việt Nam dựa theo hai trường hợp là hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu và hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu, qua đó chỉ ra một số bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện, trên cơ sở có sự tiếp thu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.

1. Quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản và một số bất cập

Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “cách thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên”[1] hay là “phương tiện ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định”[2]. Việc xác định hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được dựa theo hai trường hợp sau đây:

1.1. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu

Theo nguyên tắc chung, giao dịch phải tuân theo hình thức luật định nếu luật có quy định. Ngược lại, nếu luật không có quy định riêng về hình thức cho loại giao dịch thì hình thức xác lập giao dịch được xác định theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”. Trong toàn bộ 06 điều luật quy định về hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, không có bất cứ điều luật nào quy định riêng về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản, bất động sản không phải đăng ký sở hữu. Do đó, các hợp đồng tặng cho này có thể được xác lập bằng một trong ba hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi theo sự lựa chọn của bên tặng cho và bên được tặng cho. Trước đây, khi khoa học - công nghệ chưa phát triển, hình thức tặng cho tài sản bằng hành vi còn chưa phổ biến. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ như hiện nay thì các hợp đồng tặng cho tài sản được giao kết bằng hành vi ngày càng trở nên quen thuộc, đặc biệt là với những hợp đồng tặng cho tiền được chuyển khoản tự động qua các hệ thống trong cùng ngân hàng và giữa các ngân hàng với nhau.

So sánh hình thức xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với các hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu khác như mua bán, trao đổi, cho vay, thì hình thức của hợp đồng tặng cho chưa được ghi nhận chặt chẽ hơn so với những hợp đồng đó. Ngược lại với Việt Nam, các luật gia của Pháp không đặt ra yêu cầu khắt khe đối với hình thức của các hợp đồng mua bán, trao đổi, cho vay nhưng lại đặt ra yêu cầu chặt chẽ đối hình thức của việc tặng cho tài sản. Cụ thể, Điều 894 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận”. Điều luật này đã lý giải vì sao trong Bộ luật Dân sự Pháp, các nhà làm luật không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng tặng cho tài sản” mà sử dụng thuật ngữ “chứng thư tặng cho”. Việc tặng cho tại Pháp luôn phải thể hiện dưới hình thức văn bản dù đối tượng tặng cho là động sản, bất động sản, tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc không phải đăng ký sở hữu. Điều này cũng được ghi nhận tương tự trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936.

1.2. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu

Hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng sở hữu gồm hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu và hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu. Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định trực tiếp về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu. Tuy nhiên, hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu được thể hiện gián tiếp thông qua khoản 2 Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”. Để thực hiện được thủ tục đăng ký, qua đó hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu có hiệu lực thì hợp đồng tặng cho tài sản cần được lập thành văn bản. Bên cạnh đó, hồ sơ để thực hiện việc đăng ký sở hữu xe cũng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe (Thông tư số 15/2014/TT-BCA) như sau: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”. Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe.

Khác với trường hợp tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trực tiếp, cụ thể về hình thức của tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu là “phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này, bên tặng cho và bên được tặng cho khi xác lập hợp đồng tặng cho với bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà ở... được quyền lựa chọn hình thức văn bản công chứng, hình thức văn bản chứng thực hoặc hình thức văn bản đăng ký. Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho tài sản gây ra một số vấn đề hạn chế, bất cập sau đây:

- Trên thực tế, cơ chế đăng ký giao dịch chỉ được áp dụng phổ biến đối với các giao dịch bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung mà chưa có cơ chế cụ thể với trường hợp đăng ký hợp đồng tặng cho bất động sản. Theo một số quan điểm hiện nay, đăng ký không được xác định là hình thức của hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng mà đây là thủ tục công khai hóa giao dịch để nhằm xác định quyền của bên được tặng cho đối với tài sản tặng cho trong trường hợp tài sản tặng cho bị tranh chấp với người thứ ba.

- Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo ra hệ quả thiếu thống nhất với quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho nhà ở được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014. Cụ thể: Theo các quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, thì ở đó chỉ đặt ra hình thức công chứng, chứng thực đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở mà không có có quy định về thủ tục đăng ký.

Bên cạnh các điểm bất cập liên quan đến thủ tục đăng ký hợp đồng tặng cho tài sản thì khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn chưa tương thích với quy định trong Luật Nhà ở năm 2014 đối với trường hợp tặng cho nhà ở tình nghĩa. Theo kết cấu và nội dung của khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, mọi trường hợp tặng cho bất động sản đều phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật mà không có bất cứ ngoại lệ nào. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì hợp đồng này không phải công chứng, chứng thực. Qua đây tác giả khẳng định, quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức của hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký chưa bao quát và chưa tương thích với Luật Nhà ở năm 2014.

Đối với các hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu, hình thức của hợp đồng là một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu đã được lập thành văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực (khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Tìm hiểu quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, tác giả nhận thấy, hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được quy định chặt chẽ hơn so với các hợp đồng khác. Bộ luật Dân sự Pháp không chỉ đặt ra yêu cầu về hình thức văn bản của hợp đồng tặng cho tài sản mà còn quy định nghiêm ngặt về quy trình, thủ tục lập chứng thư tặng cho. Điều này được thể hiện thông qua quy định tại Điều 931 Bộ luật Dân sự Pháp: “Mọi chứng thư tặng cho phải được lập trước công chứng viên, theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính. Nếu không tuân thủ các quy định này, chứng thư tặng cho sẽ vô hiệu”. Bộ luật dân sự Pháp đề cao tính ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng, do đó, đa phần các hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp đều không ghi nhận về hình thức văn bản bắt buộc. Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong số ít loại hợp đồng mà Bộ luật Dân sự Pháp quy định nghiêm ngặt về hình thức. Điều này được lý giải bởi các nguyên nhân sau đây: (i) Tặng cho là một trong các phương thức định đoạt tài sản không có đền bù; điều này có nghĩa, một người cho đi một lợi ích nhưng không nhận lại được bất kì lợi ích nào. Vì lý do này, việc tặng cho phải lập thành văn bản để chính người tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kĩ lưỡng về việc tặng cho tài sản. (ii) Việc tặng cho tài sản làm giảm một cách đáng kể khối lượng tài sản của người tặng cho. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới cuộc sống của người tặng cho mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của cha mẹ, vợ, con của người tặng cho, đặc biệt trong trường hợp những người này lại sống phụ thuộc vào người tặng cho tài sản. Do vậy, hình thức của tặng cho tài sản phải chặt chẽ vì sự tác động hay hệ lụy của việc tặng cho là rất lớn tới nhiều chủ thể trong xã hội. (iii) Giả thiết trong trường hợp một người không tặng cho tài sản mà tài sản được duy trì cho đến khi họ chết thì khối tài sản này trở thành di sản thừa kế để lại cho những người thân thích của họ. Ngược lại, nếu khối tài sản đã được mang đi tặng cho người khác thì khi người tặng cho chết, trong khối di sản thừa kế không bao gồm những tài sản đã tặng cho. Rõ ràng, việc xác định tài sản đã được tặng cho hay chưa được tặng cho cũng là một trong các căn cứ để xác định di sản thừa kế. Do đó, hình thức tặng cho phải được lập thành văn bản để đề phòng có tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản tặng cho và di sản thừa kế.

Đối với Liên bang Nga, Bộ luật Dân sự không quy định bắt buộc mọi hợp đồng tặng cho tài sản đều phải lập thành văn bản giống như trong Bộ luật Dân sự Pháp mà hình thức tặng cho bằng văn bản hoặc không được thiết lập bằng văn bản phụ thuộc giá trị tài sản tặng cho. Một món quà trị giá hơn 500 rúp phải được công chứng viên công chứng. Đối với quà tặng là nơi trú ngụ (một phần của một căn nhà, nhà nghỉ), các quy tắc xác định hình thức của hợp đồng là phải quan sát thấy được (hình thức lời nói không quan sát thấy được)[3].

Đối với một số tài sản đặc thù như quyền sử dụng đất, nhà ở thì hình thức tặng cho được ghi nhận cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014: (i) Về tặng cho quyền sử dụng đất, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho... quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực…”. Theo quy định này, hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là bằng văn bản, có công chứng, chứng thực mà không bao gồm cả hình thức đăng ký như theo quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015. (ii) Về tặng cho nhà ở, khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp… tặng cho nhà ở… thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng”. Như vậy, về nguyên tắc chung, tặng cho nhà ở phải được lập dưới hình thức văn bản, có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu (khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014).

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, bổ sung quy định về hình thức bắt buộc đối với tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, cụ thể: “Hợp đồng tặng cho động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực nếu động sản phải đăng ký sở hữu theo quy định của pháp luật”. Kiến nghị này xuất phát từ một số cơ sở chính sau đây:

- Xuất phát từ lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho mà các quy định về tặng cho luôn được ghi nhận chặt chẽ hơn so với các quy định về hợp đồng mua bán, trao đổi hay vay tài sản như về hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng... Với hình thức bằng văn bản, bên tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kỹ lưỡng về việc tặng cho tài sản của mình. Qua đó, quyền lợi của bên tặng cho - chủ thể được coi là không có lợi ích trong hợp đồng tặng cho được bảo vệ tốt hơn.

- Tặng cho tài sản làm giảm sút tài sản, thậm chí giảm sút tài sản một cách đáng kể của bên tặng cho. Điều này không chỉ tác động đến cuộc sống của người tặng cho mà kéo theo đó là cuộc sống của những người lệ thuộc vào người tặng cho cũng bị ảnh hưởng. Chính vì hệ lụy của việc tặng cho tài sản tương đối lớn và tác động tới nhiều chủ thể nên sự thắt chặt hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản là điều cần thiết.

- Việc sửa đổi hình thức tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu như ô tô, xe máy phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực sẽ giúp thống nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư số 15/2014/TT-BCA. Quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe. Thiết nghĩ, đây cũng là quy định phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta.

Thứ hai, cần loại bỏ hình thức “đăng ký” ra khỏi quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể sửa đổi quy định này như sau: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Cơ sở của sự sửa đổi này xuất phát từ một số lý do chính sau đây:

- Bản chất của việc đăng ký là nhằm công khai thông tin về tài sản (đối với đăng ký tài sản) và công khai thông tin về giao dịch (đối với đăng ký giao dịch). Thông qua thủ tục đăng ký, bên có quyền công bố quyền của mình đối với tài sản hoặc giao dịch. Do đó, việc nhìn nhận thủ tục “đăng ký” là hình thức của giao dịch nói chung và của hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng không phù hợp.

- Cơ chế thực hiện thủ tục đăng ký trên thực tế gồm đăng ký tài sản và đăng ký giao dịch. Đối với cơ chế đăng ký giao dịch, hiện nay tại nước ta mới có cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung. Do vậy, việc ghi nhận hình thức đăng ký đối với hợp đồng tặng cho chưa phù hợp với thực tiễn và cũng không có cơ sở để thực hiện.

- Bỏ quy định về đăng ký tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm thống nhất quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 bởi theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 thì hình thức được áp dụng đối với tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở là văn bản có công chứng hoặc chứng thực mà không có hình thức văn bản đăng ký.

TS. Lê Thị Giang

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, 2006, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa & Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 363.

[2]. Đinh Văn Thanh & Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), 2006, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 95.

[3]. Citation: 21 Soviet Stat. & Dec. 241 1984-1985.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: