Thứ năm 11/12/2025 04:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Hợp đồng này cần được thể hiện dưới hình thức nhất định. Pháp luật dân sự Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản.

Tuy nhiên, các quy định này khi thực hiện cũng đã nảy sinh một số bất cập cần được nghiên cứu để có giải pháp khắc phục. Với bài viết “Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, TS. Lê Thị Giang sẽ phân tích quy định của pháp luật Việt Nam dựa theo hai trường hợp là hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu và hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu, qua đó chỉ ra một số bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện, trên cơ sở có sự tiếp thu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.

1. Quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản và một số bất cập

Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “cách thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên”[1] hay là “phương tiện ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định”[2]. Việc xác định hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được dựa theo hai trường hợp sau đây:

1.1. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu

Theo nguyên tắc chung, giao dịch phải tuân theo hình thức luật định nếu luật có quy định. Ngược lại, nếu luật không có quy định riêng về hình thức cho loại giao dịch thì hình thức xác lập giao dịch được xác định theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”. Trong toàn bộ 06 điều luật quy định về hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, không có bất cứ điều luật nào quy định riêng về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản, bất động sản không phải đăng ký sở hữu. Do đó, các hợp đồng tặng cho này có thể được xác lập bằng một trong ba hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi theo sự lựa chọn của bên tặng cho và bên được tặng cho. Trước đây, khi khoa học - công nghệ chưa phát triển, hình thức tặng cho tài sản bằng hành vi còn chưa phổ biến. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ như hiện nay thì các hợp đồng tặng cho tài sản được giao kết bằng hành vi ngày càng trở nên quen thuộc, đặc biệt là với những hợp đồng tặng cho tiền được chuyển khoản tự động qua các hệ thống trong cùng ngân hàng và giữa các ngân hàng với nhau.

So sánh hình thức xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với các hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu khác như mua bán, trao đổi, cho vay, thì hình thức của hợp đồng tặng cho chưa được ghi nhận chặt chẽ hơn so với những hợp đồng đó. Ngược lại với Việt Nam, các luật gia của Pháp không đặt ra yêu cầu khắt khe đối với hình thức của các hợp đồng mua bán, trao đổi, cho vay nhưng lại đặt ra yêu cầu chặt chẽ đối hình thức của việc tặng cho tài sản. Cụ thể, Điều 894 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận”. Điều luật này đã lý giải vì sao trong Bộ luật Dân sự Pháp, các nhà làm luật không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng tặng cho tài sản” mà sử dụng thuật ngữ “chứng thư tặng cho”. Việc tặng cho tại Pháp luôn phải thể hiện dưới hình thức văn bản dù đối tượng tặng cho là động sản, bất động sản, tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc không phải đăng ký sở hữu. Điều này cũng được ghi nhận tương tự trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936.

1.2. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu

Hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng sở hữu gồm hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu và hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu. Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định trực tiếp về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu. Tuy nhiên, hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu được thể hiện gián tiếp thông qua khoản 2 Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”. Để thực hiện được thủ tục đăng ký, qua đó hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu có hiệu lực thì hợp đồng tặng cho tài sản cần được lập thành văn bản. Bên cạnh đó, hồ sơ để thực hiện việc đăng ký sở hữu xe cũng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe (Thông tư số 15/2014/TT-BCA) như sau: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”. Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe.

Khác với trường hợp tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trực tiếp, cụ thể về hình thức của tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu là “phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này, bên tặng cho và bên được tặng cho khi xác lập hợp đồng tặng cho với bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà ở... được quyền lựa chọn hình thức văn bản công chứng, hình thức văn bản chứng thực hoặc hình thức văn bản đăng ký. Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho tài sản gây ra một số vấn đề hạn chế, bất cập sau đây:

- Trên thực tế, cơ chế đăng ký giao dịch chỉ được áp dụng phổ biến đối với các giao dịch bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung mà chưa có cơ chế cụ thể với trường hợp đăng ký hợp đồng tặng cho bất động sản. Theo một số quan điểm hiện nay, đăng ký không được xác định là hình thức của hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng mà đây là thủ tục công khai hóa giao dịch để nhằm xác định quyền của bên được tặng cho đối với tài sản tặng cho trong trường hợp tài sản tặng cho bị tranh chấp với người thứ ba.

- Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo ra hệ quả thiếu thống nhất với quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho nhà ở được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014. Cụ thể: Theo các quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, thì ở đó chỉ đặt ra hình thức công chứng, chứng thực đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở mà không có có quy định về thủ tục đăng ký.

Bên cạnh các điểm bất cập liên quan đến thủ tục đăng ký hợp đồng tặng cho tài sản thì khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn chưa tương thích với quy định trong Luật Nhà ở năm 2014 đối với trường hợp tặng cho nhà ở tình nghĩa. Theo kết cấu và nội dung của khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, mọi trường hợp tặng cho bất động sản đều phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật mà không có bất cứ ngoại lệ nào. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì hợp đồng này không phải công chứng, chứng thực. Qua đây tác giả khẳng định, quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức của hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký chưa bao quát và chưa tương thích với Luật Nhà ở năm 2014.

Đối với các hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu, hình thức của hợp đồng là một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu đã được lập thành văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực (khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Tìm hiểu quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, tác giả nhận thấy, hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được quy định chặt chẽ hơn so với các hợp đồng khác. Bộ luật Dân sự Pháp không chỉ đặt ra yêu cầu về hình thức văn bản của hợp đồng tặng cho tài sản mà còn quy định nghiêm ngặt về quy trình, thủ tục lập chứng thư tặng cho. Điều này được thể hiện thông qua quy định tại Điều 931 Bộ luật Dân sự Pháp: “Mọi chứng thư tặng cho phải được lập trước công chứng viên, theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính. Nếu không tuân thủ các quy định này, chứng thư tặng cho sẽ vô hiệu”. Bộ luật dân sự Pháp đề cao tính ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng, do đó, đa phần các hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp đều không ghi nhận về hình thức văn bản bắt buộc. Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong số ít loại hợp đồng mà Bộ luật Dân sự Pháp quy định nghiêm ngặt về hình thức. Điều này được lý giải bởi các nguyên nhân sau đây: (i) Tặng cho là một trong các phương thức định đoạt tài sản không có đền bù; điều này có nghĩa, một người cho đi một lợi ích nhưng không nhận lại được bất kì lợi ích nào. Vì lý do này, việc tặng cho phải lập thành văn bản để chính người tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kĩ lưỡng về việc tặng cho tài sản. (ii) Việc tặng cho tài sản làm giảm một cách đáng kể khối lượng tài sản của người tặng cho. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới cuộc sống của người tặng cho mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của cha mẹ, vợ, con của người tặng cho, đặc biệt trong trường hợp những người này lại sống phụ thuộc vào người tặng cho tài sản. Do vậy, hình thức của tặng cho tài sản phải chặt chẽ vì sự tác động hay hệ lụy của việc tặng cho là rất lớn tới nhiều chủ thể trong xã hội. (iii) Giả thiết trong trường hợp một người không tặng cho tài sản mà tài sản được duy trì cho đến khi họ chết thì khối tài sản này trở thành di sản thừa kế để lại cho những người thân thích của họ. Ngược lại, nếu khối tài sản đã được mang đi tặng cho người khác thì khi người tặng cho chết, trong khối di sản thừa kế không bao gồm những tài sản đã tặng cho. Rõ ràng, việc xác định tài sản đã được tặng cho hay chưa được tặng cho cũng là một trong các căn cứ để xác định di sản thừa kế. Do đó, hình thức tặng cho phải được lập thành văn bản để đề phòng có tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản tặng cho và di sản thừa kế.

Đối với Liên bang Nga, Bộ luật Dân sự không quy định bắt buộc mọi hợp đồng tặng cho tài sản đều phải lập thành văn bản giống như trong Bộ luật Dân sự Pháp mà hình thức tặng cho bằng văn bản hoặc không được thiết lập bằng văn bản phụ thuộc giá trị tài sản tặng cho. Một món quà trị giá hơn 500 rúp phải được công chứng viên công chứng. Đối với quà tặng là nơi trú ngụ (một phần của một căn nhà, nhà nghỉ), các quy tắc xác định hình thức của hợp đồng là phải quan sát thấy được (hình thức lời nói không quan sát thấy được)[3].

Đối với một số tài sản đặc thù như quyền sử dụng đất, nhà ở thì hình thức tặng cho được ghi nhận cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014: (i) Về tặng cho quyền sử dụng đất, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho... quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực…”. Theo quy định này, hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là bằng văn bản, có công chứng, chứng thực mà không bao gồm cả hình thức đăng ký như theo quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015. (ii) Về tặng cho nhà ở, khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp… tặng cho nhà ở… thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng”. Như vậy, về nguyên tắc chung, tặng cho nhà ở phải được lập dưới hình thức văn bản, có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu (khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014).

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, bổ sung quy định về hình thức bắt buộc đối với tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, cụ thể: “Hợp đồng tặng cho động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực nếu động sản phải đăng ký sở hữu theo quy định của pháp luật”. Kiến nghị này xuất phát từ một số cơ sở chính sau đây:

- Xuất phát từ lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho mà các quy định về tặng cho luôn được ghi nhận chặt chẽ hơn so với các quy định về hợp đồng mua bán, trao đổi hay vay tài sản như về hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng... Với hình thức bằng văn bản, bên tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kỹ lưỡng về việc tặng cho tài sản của mình. Qua đó, quyền lợi của bên tặng cho - chủ thể được coi là không có lợi ích trong hợp đồng tặng cho được bảo vệ tốt hơn.

- Tặng cho tài sản làm giảm sút tài sản, thậm chí giảm sút tài sản một cách đáng kể của bên tặng cho. Điều này không chỉ tác động đến cuộc sống của người tặng cho mà kéo theo đó là cuộc sống của những người lệ thuộc vào người tặng cho cũng bị ảnh hưởng. Chính vì hệ lụy của việc tặng cho tài sản tương đối lớn và tác động tới nhiều chủ thể nên sự thắt chặt hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản là điều cần thiết.

- Việc sửa đổi hình thức tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu như ô tô, xe máy phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực sẽ giúp thống nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư số 15/2014/TT-BCA. Quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe. Thiết nghĩ, đây cũng là quy định phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta.

Thứ hai, cần loại bỏ hình thức “đăng ký” ra khỏi quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể sửa đổi quy định này như sau: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Cơ sở của sự sửa đổi này xuất phát từ một số lý do chính sau đây:

- Bản chất của việc đăng ký là nhằm công khai thông tin về tài sản (đối với đăng ký tài sản) và công khai thông tin về giao dịch (đối với đăng ký giao dịch). Thông qua thủ tục đăng ký, bên có quyền công bố quyền của mình đối với tài sản hoặc giao dịch. Do đó, việc nhìn nhận thủ tục “đăng ký” là hình thức của giao dịch nói chung và của hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng không phù hợp.

- Cơ chế thực hiện thủ tục đăng ký trên thực tế gồm đăng ký tài sản và đăng ký giao dịch. Đối với cơ chế đăng ký giao dịch, hiện nay tại nước ta mới có cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung. Do vậy, việc ghi nhận hình thức đăng ký đối với hợp đồng tặng cho chưa phù hợp với thực tiễn và cũng không có cơ sở để thực hiện.

- Bỏ quy định về đăng ký tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm thống nhất quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 bởi theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 thì hình thức được áp dụng đối với tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở là văn bản có công chứng hoặc chứng thực mà không có hình thức văn bản đăng ký.

TS. Lê Thị Giang

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, 2006, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa & Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 363.

[2]. Đinh Văn Thanh & Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), 2006, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 95.

[3]. Citation: 21 Soviet Stat. & Dec. 241 1984-1985.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: