Thứ tư 04/03/2026 01:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Hợp đồng này cần được thể hiện dưới hình thức nhất định. Pháp luật dân sự Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản.

Tuy nhiên, các quy định này khi thực hiện cũng đã nảy sinh một số bất cập cần được nghiên cứu để có giải pháp khắc phục. Với bài viết “Quy định pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, TS. Lê Thị Giang sẽ phân tích quy định của pháp luật Việt Nam dựa theo hai trường hợp là hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu và hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu, qua đó chỉ ra một số bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện, trên cơ sở có sự tiếp thu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.

1. Quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản và một số bất cập

Trong khoa học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “cách thức thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên”[1] hay là “phương tiện ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định”[2]. Việc xác định hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được dựa theo hai trường hợp sau đây:

1.1. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản không phải đăng ký sở hữu

Theo nguyên tắc chung, giao dịch phải tuân theo hình thức luật định nếu luật có quy định. Ngược lại, nếu luật không có quy định riêng về hình thức cho loại giao dịch thì hình thức xác lập giao dịch được xác định theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể”. Trong toàn bộ 06 điều luật quy định về hợp đồng tặng cho tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, không có bất cứ điều luật nào quy định riêng về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản, bất động sản không phải đăng ký sở hữu. Do đó, các hợp đồng tặng cho này có thể được xác lập bằng một trong ba hình thức lời nói, văn bản hoặc hành vi theo sự lựa chọn của bên tặng cho và bên được tặng cho. Trước đây, khi khoa học - công nghệ chưa phát triển, hình thức tặng cho tài sản bằng hành vi còn chưa phổ biến. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ như hiện nay thì các hợp đồng tặng cho tài sản được giao kết bằng hành vi ngày càng trở nên quen thuộc, đặc biệt là với những hợp đồng tặng cho tiền được chuyển khoản tự động qua các hệ thống trong cùng ngân hàng và giữa các ngân hàng với nhau.

So sánh hình thức xác lập hợp đồng tặng cho tài sản với các hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu khác như mua bán, trao đổi, cho vay, thì hình thức của hợp đồng tặng cho chưa được ghi nhận chặt chẽ hơn so với những hợp đồng đó. Ngược lại với Việt Nam, các luật gia của Pháp không đặt ra yêu cầu khắt khe đối với hình thức của các hợp đồng mua bán, trao đổi, cho vay nhưng lại đặt ra yêu cầu chặt chẽ đối hình thức của việc tặng cho tài sản. Cụ thể, Điều 894 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng cho và bên được tặng cho đồng ý nhận”. Điều luật này đã lý giải vì sao trong Bộ luật Dân sự Pháp, các nhà làm luật không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng tặng cho tài sản” mà sử dụng thuật ngữ “chứng thư tặng cho”. Việc tặng cho tại Pháp luôn phải thể hiện dưới hình thức văn bản dù đối tượng tặng cho là động sản, bất động sản, tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc không phải đăng ký sở hữu. Điều này cũng được ghi nhận tương tự trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936.

1.2. Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng ký sở hữu

Hợp đồng tặng cho tài sản phải đăng sở hữu gồm hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu và hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu. Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định trực tiếp về hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu. Tuy nhiên, hình thức của hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu được thể hiện gián tiếp thông qua khoản 2 Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”. Để thực hiện được thủ tục đăng ký, qua đó hợp đồng tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu có hiệu lực thì hợp đồng tặng cho tài sản cần được lập thành văn bản. Bên cạnh đó, hồ sơ để thực hiện việc đăng ký sở hữu xe cũng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe (Thông tư số 15/2014/TT-BCA) như sau: “Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực”. Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe.

Khác với trường hợp tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trực tiếp, cụ thể về hình thức của tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu là “phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Theo quy định này, bên tặng cho và bên được tặng cho khi xác lập hợp đồng tặng cho với bất động sản như quyền sử dụng đất, nhà ở... được quyền lựa chọn hình thức văn bản công chứng, hình thức văn bản chứng thực hoặc hình thức văn bản đăng ký. Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho tài sản gây ra một số vấn đề hạn chế, bất cập sau đây:

- Trên thực tế, cơ chế đăng ký giao dịch chỉ được áp dụng phổ biến đối với các giao dịch bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung mà chưa có cơ chế cụ thể với trường hợp đăng ký hợp đồng tặng cho bất động sản. Theo một số quan điểm hiện nay, đăng ký không được xác định là hình thức của hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng mà đây là thủ tục công khai hóa giao dịch để nhằm xác định quyền của bên được tặng cho đối với tài sản tặng cho trong trường hợp tài sản tặng cho bị tranh chấp với người thứ ba.

- Việc ghi nhận thủ tục đăng ký đối với hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo ra hệ quả thiếu thống nhất với quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho nhà ở được quy định trong Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014. Cụ thể: Theo các quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, thì ở đó chỉ đặt ra hình thức công chứng, chứng thực đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở mà không có có quy định về thủ tục đăng ký.

Bên cạnh các điểm bất cập liên quan đến thủ tục đăng ký hợp đồng tặng cho tài sản thì khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 còn chưa tương thích với quy định trong Luật Nhà ở năm 2014 đối với trường hợp tặng cho nhà ở tình nghĩa. Theo kết cấu và nội dung của khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, mọi trường hợp tặng cho bất động sản đều phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật mà không có bất cứ ngoại lệ nào. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014, trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì hợp đồng này không phải công chứng, chứng thực. Qua đây tác giả khẳng định, quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hình thức của hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký chưa bao quát và chưa tương thích với Luật Nhà ở năm 2014.

Đối với các hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu, hình thức của hợp đồng là một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp hợp đồng tặng cho bất động sản phải đăng ký sở hữu đã được lập thành văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực (khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Tìm hiểu quy định về hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, tác giả nhận thấy, hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản được quy định chặt chẽ hơn so với các hợp đồng khác. Bộ luật Dân sự Pháp không chỉ đặt ra yêu cầu về hình thức văn bản của hợp đồng tặng cho tài sản mà còn quy định nghiêm ngặt về quy trình, thủ tục lập chứng thư tặng cho. Điều này được thể hiện thông qua quy định tại Điều 931 Bộ luật Dân sự Pháp: “Mọi chứng thư tặng cho phải được lập trước công chứng viên, theo hình thức thông thường của hợp đồng và được công chứng viên lưu bản chính. Nếu không tuân thủ các quy định này, chứng thư tặng cho sẽ vô hiệu”. Bộ luật dân sự Pháp đề cao tính ý chí của các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng, do đó, đa phần các hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự Pháp đều không ghi nhận về hình thức văn bản bắt buộc. Hợp đồng tặng cho tài sản là một trong số ít loại hợp đồng mà Bộ luật Dân sự Pháp quy định nghiêm ngặt về hình thức. Điều này được lý giải bởi các nguyên nhân sau đây: (i) Tặng cho là một trong các phương thức định đoạt tài sản không có đền bù; điều này có nghĩa, một người cho đi một lợi ích nhưng không nhận lại được bất kì lợi ích nào. Vì lý do này, việc tặng cho phải lập thành văn bản để chính người tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kĩ lưỡng về việc tặng cho tài sản. (ii) Việc tặng cho tài sản làm giảm một cách đáng kể khối lượng tài sản của người tặng cho. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới cuộc sống của người tặng cho mà còn ảnh hưởng tới cuộc sống của cha mẹ, vợ, con của người tặng cho, đặc biệt trong trường hợp những người này lại sống phụ thuộc vào người tặng cho tài sản. Do vậy, hình thức của tặng cho tài sản phải chặt chẽ vì sự tác động hay hệ lụy của việc tặng cho là rất lớn tới nhiều chủ thể trong xã hội. (iii) Giả thiết trong trường hợp một người không tặng cho tài sản mà tài sản được duy trì cho đến khi họ chết thì khối tài sản này trở thành di sản thừa kế để lại cho những người thân thích của họ. Ngược lại, nếu khối tài sản đã được mang đi tặng cho người khác thì khi người tặng cho chết, trong khối di sản thừa kế không bao gồm những tài sản đã tặng cho. Rõ ràng, việc xác định tài sản đã được tặng cho hay chưa được tặng cho cũng là một trong các căn cứ để xác định di sản thừa kế. Do đó, hình thức tặng cho phải được lập thành văn bản để đề phòng có tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản tặng cho và di sản thừa kế.

Đối với Liên bang Nga, Bộ luật Dân sự không quy định bắt buộc mọi hợp đồng tặng cho tài sản đều phải lập thành văn bản giống như trong Bộ luật Dân sự Pháp mà hình thức tặng cho bằng văn bản hoặc không được thiết lập bằng văn bản phụ thuộc giá trị tài sản tặng cho. Một món quà trị giá hơn 500 rúp phải được công chứng viên công chứng. Đối với quà tặng là nơi trú ngụ (một phần của một căn nhà, nhà nghỉ), các quy tắc xác định hình thức của hợp đồng là phải quan sát thấy được (hình thức lời nói không quan sát thấy được)[3].

Đối với một số tài sản đặc thù như quyền sử dụng đất, nhà ở thì hình thức tặng cho được ghi nhận cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014: (i) Về tặng cho quyền sử dụng đất, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho... quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực…”. Theo quy định này, hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là bằng văn bản, có công chứng, chứng thực mà không bao gồm cả hình thức đăng ký như theo quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015. (ii) Về tặng cho nhà ở, khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Trường hợp… tặng cho nhà ở… thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng”. Như vậy, về nguyên tắc chung, tặng cho nhà ở phải được lập dưới hình thức văn bản, có công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, đối với trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp các bên có nhu cầu (khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014).

2. Một số kiến nghị

Thứ nhất, bổ sung quy định về hình thức bắt buộc đối với tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu, cụ thể: “Hợp đồng tặng cho động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực nếu động sản phải đăng ký sở hữu theo quy định của pháp luật”. Kiến nghị này xuất phát từ một số cơ sở chính sau đây:

- Xuất phát từ lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho mà các quy định về tặng cho luôn được ghi nhận chặt chẽ hơn so với các quy định về hợp đồng mua bán, trao đổi hay vay tài sản như về hình thức của hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng... Với hình thức bằng văn bản, bên tặng cho thể hiện sự nghiêm túc về ý định tặng cho cũng như cân nhắc kỹ lưỡng về việc tặng cho tài sản của mình. Qua đó, quyền lợi của bên tặng cho - chủ thể được coi là không có lợi ích trong hợp đồng tặng cho được bảo vệ tốt hơn.

- Tặng cho tài sản làm giảm sút tài sản, thậm chí giảm sút tài sản một cách đáng kể của bên tặng cho. Điều này không chỉ tác động đến cuộc sống của người tặng cho mà kéo theo đó là cuộc sống của những người lệ thuộc vào người tặng cho cũng bị ảnh hưởng. Chính vì hệ lụy của việc tặng cho tài sản tương đối lớn và tác động tới nhiều chủ thể nên sự thắt chặt hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản là điều cần thiết.

- Việc sửa đổi hình thức tặng cho động sản phải đăng ký sở hữu như ô tô, xe máy phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực sẽ giúp thống nhất giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Thông tư số 15/2014/TT-BCA. Quy định giấy tặng cho xe phải được công chứng, chứng thực nhằm đảm bảo tính xác thực của hợp đồng tặng cho tài sản; qua đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đủ cơ sở để thực hiện thủ tục đăng ký xe. Thiết nghĩ, đây cũng là quy định phù hợp với tình hình thực tiễn của nước ta.

Thứ hai, cần loại bỏ hình thức “đăng ký” ra khỏi quy định tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể sửa đổi quy định này như sau: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật”. Cơ sở của sự sửa đổi này xuất phát từ một số lý do chính sau đây:

- Bản chất của việc đăng ký là nhằm công khai thông tin về tài sản (đối với đăng ký tài sản) và công khai thông tin về giao dịch (đối với đăng ký giao dịch). Thông qua thủ tục đăng ký, bên có quyền công bố quyền của mình đối với tài sản hoặc giao dịch. Do đó, việc nhìn nhận thủ tục “đăng ký” là hình thức của giao dịch nói chung và của hợp đồng tặng cho tài sản nói riêng không phù hợp.

- Cơ chế thực hiện thủ tục đăng ký trên thực tế gồm đăng ký tài sản và đăng ký giao dịch. Đối với cơ chế đăng ký giao dịch, hiện nay tại nước ta mới có cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm và đăng ký hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung. Do vậy, việc ghi nhận hình thức đăng ký đối với hợp đồng tặng cho chưa phù hợp với thực tiễn và cũng không có cơ sở để thực hiện.

- Bỏ quy định về đăng ký tại khoản 1 Điều 459 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm thống nhất quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 bởi theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014 thì hình thức được áp dụng đối với tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở là văn bản có công chứng hoặc chứng thực mà không có hình thức văn bản đăng ký.

TS. Lê Thị Giang

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, 2006, Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa & Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 363.

[2]. Đinh Văn Thanh & Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), 2006, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập 2, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 95.

[3]. Citation: 21 Soviet Stat. & Dec. 241 1984-1985.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: