Thứ sáu 16/01/2026 00:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về lãi suất của hợp đồng tín dụng kinh doanh - Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện

Mặc dù quy định về cơ chế lãi suất cho vay của HĐTD kinh doanh đã được điều chỉnh khá đầy đủ theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và các văn bản chuyên ngành khác. Song qua thực tiễn áp dụng, các quy định về lãi suất trong hạn, cách tính lãi suất trong hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất chậm trả nợ lãi đã phát sinh những tồn tại và hạn chế. Các văn bản này chưa quy định rõ, chưa thống nhất về quan điểm tiếp cận, dẫn đến một số khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Điều này, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ tranh chấp HĐTD, gây khó khăn cho cơ quan xét xử trong quá trình giải quyết.

1. Đặt vấn đề

Trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), hoạt động cấp tín dụng đóng vai trò quan trọng. Bởi đây là một trong những nguồn tạo ra lợi nhuận lớn cho NHTM và lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh chính mà các NHTM đặt ra. Chính vì vậy, khi giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng (HĐTD), các NHTM luôn thỏa thuận một tỷ lệ % tiền lãi nhất định. Mức lãi này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên theo từng loại vay tương ứng. Ngoài ra, mức lãi suất còn phụ thuộc vào biên độ giữa mức lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, khoản chênh lệch càng cao thì lợi nhuận mang lại càng nhiều. Việc thu về lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp chi phí kinh doanh mà còn nhằm bù đắp những rủi ro có thể xảy ra cho NHTM và cũng có thể là rủi ro của người gửi tiết kiệm. Như vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng đối với các bên tham gia HĐTD. Nếu có một cơ chế lãi suất đúng đắn sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các bên tham gia giao kết, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong xã hội. Ngược lại, cơ chế lãi suất biến động đột ngột và liên tục, chưa phù hợp với nhu cầu thực tế sẽ gây nhiều khó khăn trong hoạt động tín dụng.

2. Quy định pháp luật về lãi suất cho vay của hợp đồng tín dụng kinh doanh và những hạn chế

2.1. Quy định pháp luật về lãi suất của hợp đồng tín dụng kinh doanh

Dù giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ HĐTD kinh doanh ngày một nhiều, ảnh hưởng lớn đến các chủ thể nhưng cho đến nay ở Việt Nam, chưa có quy định pháp luật cụ thể giải thích khái niệm HĐTD kinh doanh. Với đặc điểm của chủ thể tham gia là các NHTM và bên được cấp tín dụng là các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh, nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh doanh với mục đích sinh lợi. Từ đó, có thể hiểu HĐTD kinh doanh là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là NHTM (bên cấp tín dụng) với bên còn lại là tổ chức, cá nhân kinh doanh (bên được cấp tín dụng) khi thoả mãn điều kiện luật định. Bên cấp tín dụng, cấp cho bên được cấp tín dụng một khoản tiền theo thời hạn đã thoả thuận, hết thời hạn này bên được cấp tín dụng phải hoàn trả cả tiền gốc và tiền lãi.

Hiện nay, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khác hàng (Thông tư số 39/2016/TT-NHNN) nhưng không nêu khái niệm lãi suất. Song, có thể căn cứ vào Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng (Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN), thì lãi suất được hiểu là: “Khoản tiền bên vay, huy động vốn hoặc bên thuê trả cho bên cho vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê. Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất”[1]. Như vậy, lãi là khoản giá trị chênh lệch mà bên cấp tín dụng được hưởng, là khoản doi ra so với giá trị được chuyển giao lúc đầu. Khoản lãi mà bên cấp tín dụng được nhận là một phần tạo nên lợi nhuận trong hoạt động kinh tế. Vì thế khi giao kết HĐTD, các bên đều có thỏa thuận về điều khoản lãi suất và phương thức tính lãi. Hiện nay, lãi suất cho vay của HĐTD nói chung bao gồm lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất cho vay quá hạn.

Trước đây, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004) và Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về mức trần lãi suất do các bên thoả thuận nhưng “không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”[2]. Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định điều khoản riêng về lãi suất trong hoạt động tín dụng (khoản 2, Điều 91) và được hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Quy định hiện hành đã cho phép NHTM và khách hàng được thỏa thuận mức lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Điều này đúng với định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, phù hợp với nhu cầu thực tế đặt ra. Đồng thời, cũng đã giải quyết được lo ngại của các NHTM khi nâng cao lãi suất huy động, nhưng lại không thể nâng lãi suất cho vay cao hơn trần lãi suất, dẫn đến chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay không đủ bù đắp chi phí hoạt động.

Bên cạnh quy định lãi suất cho vay trong hạn theo thỏa thuận, pháp luật còn quy định lãi suất cho vay quá hạn. Khi đó, lãi suất cho vay quá hạn “không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”[3]. Ngoài ra, pháp luật hiện hành đã bổ sung thêm quy định về lãi suất chậm trả nợ lãi tại điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN. Quy định này, góp phần tăng trách nhiệm trả nợ của bên được cấp tín dụng theo đúng thời hạn trong hợp đồng, đồng thời còn đảm bảo quyền lợi của bên cấp tín dụng, đó là quyền phát sinh cơ hội đầu tư từ số tiền đã cho vay. Kế thừa các quy định trước đây, khoản 2 Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN cho phép NHTM và khách hàng thỏa thuận về việc trả nợ trước hạn, nhưng lại không quy định rõ việc xác định lãi tiền vay trong trường hợp này. Vấn đề này có thể căn cứ vào quy định chung tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015[4] để áp dụng. Như vậy, trong hoạt động cấp tín dụng, trường hợp bên được cấp tín dụng trả nợ trước hạn thì ngoài việc phải trả nợ gốc còn phải trả toàn bộ lãi tiền vay trong kỳ hạn vay.

2.2. Những hạn chế trong quy định pháp luật về lãi suất cho vay của hợp đồng tín dụng kinh doanh

Mặc dù quy định về cơ chế lãi suất cho vay của HĐTD kinh doanh đã được điều chỉnh khá đầy đủ theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và các văn bản chuyên ngành khác. Song qua thực tiễn áp dụng, các quy định về lãi suất trong hạn, cách tính lãi suất trong hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất chậm trả nợ lãi đã phát sinh những tồn tại và hạn chế. Các văn bản này chưa quy định rõ, chưa thống nhất về quan điểm tiếp cận, dẫn đến một số khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Điều này, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ tranh chấp HĐTD, gây khó khăn cho cơ quan xét xử trong quá trình giải quyết[5]. Cụ thể đó là:

- Về lãi suất thỏa thuận: Theo Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành và khoản 1 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, dẫn đến thực tế có một số TCTD cho vay với lãi suất đến 7%/tháng, tương đương với 84%/năm nhưng không vi phạm quy định. Bởi chỉ cần mức lãi suất này được các bên trong HĐTD đồng ý và phù hợp với quy định của pháp luật trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất phạt vi phạm (Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP): “Khi giải quyết về lãi, lãi suất trong HĐTD thì Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015”.

- Về lãi suất chậm trả trên nợ gốc: Tại điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN: “Khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”. Theo quy định này, lãi suất chậm trả nợ gốc quá hạn tối đa hoàn toàn phụ thuộc vào lãi suất vay theo hợp đồng. Mặt khác, cũng tại khoản 4 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP: “Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”. Quy định trên gây nhiều bất lợi đối với bên được cấp tín dụng khi đã mất khả năng chi trả, nhưng bên cấp tín dụng cố tình không khởi kiện để kéo dài thời gian tính lãi chậm trả trên nợ gốc. Thêm nữa, khi mà các TCTD có thể được phép cho vay lãi suất khá cao như vừa phân tích trên thì đồng nghĩa với việc lãi suất chậm trả là rất cao[6].

- Về lãi suất chậm trả nợ lãi: Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngoài nghĩa vụ trả nợ gốc trong hạn và lãi quá hạn, bên vay còn phải trả nợ lãi tính trên số lãi chậm trả. Trước đây, khoản lãi này không được quy định rõ, nên hầu như không được Tòa án chấp nhận khi có tranh chấp xảy ra. Quy định mới này ít nhiều có ý nghĩa đối với bên cấp tín dụng, nhưng đã tăng thêm gánh nặng đối với bên được cấp tín dụng (lãi chồng lên lãi). Đồng thời, cũng tồn tại hạn chế là lãi suất trên chỉ là lãi suất chậm trả nợ lãi tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, vậy kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, lãi này sẽ được tính như thế nào? Theo Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong HĐTD kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì “kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”. Với hướng xử lý của Án lệ, còn tồn tại điểm chưa hợp lý là khi vụ án đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật (về nguyên tắc mọi tranh chấp cũng như mọi nghĩa vụ của các bên đã kết thúc) nhưng lãi suất vẫn tiếp tục phát sinh và phải được thực hiện như trước khi Tòa án ra bản án[7]. Trong khi với các giao dịch dân sự của các chủ thể khác thì lại không áp dụng quy định này. Như vậy, quy định chưa bảo đảm bình đẳng giữa các chủ thể trong giao dịch dân sự nói chung, khi mà trường hợp này bên được cấp tín dụng đã mất/rất khó khăn trong việc trả nợ gốc hoặc bên cấp tín dụng cố tình kéo dài thời gian yêu cầu thi hành án.

- Về lãi suất thả nổi: Các NHTM thông thường sử dụng hai phương thức tính lãi là theo phương thức lãi suất thả nổi và cố định. Trong đó, phương thức lãi suất thả nổi được sử dụng phổ biến hơn. Xuất phát từ quy định cho phép NHTM có quyền thỏa thuận lãi suất đối với khách hàng, nên tình trạng thỏa thuận lãi suất thả nổi và công thức tính lãi suất thả nổi giữa các NHTM cũng khác nhau. Mỗi NHTM đưa ra các biên độ cũng khác nhau, có NHTM quy định định kỳ thay đổi lãi suất 03 tháng một lần hoặc có NHTM thay đổi lãi suất 06 tháng một lần và thông thường các NHTM lấy biên độ % cộng với mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm của tổ chức mình[8]. Quy định này, càng làm cho bên được cấp tín dụng vào thế bị động hơn, nên chịu nhiều bất lợi.

- Trả lãi tiền vay trong trường hợp trả nợ trước hạn: Căn cứ vào nội dung khoản 2 Điều 18 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự năm TCT2015, xét thấy các quy định này là khá bất lợi cho bên vay. Bởi quy định chưa rõ ràng và dễ nhầm lẫn “phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn”, nên phía NHTM sẽ hiểu theo hướng có lợi cho mình và thu toàn bộ số tiền lãi của toàn bộ thời gian vay như trong HĐTD. Và thực tế việc thỏa thuận trong trường hợp hầu như chưa thật sự khả thi do bên được cấp tín dụng là bên bị động. Mặt khác, quy định trên còn dẫn đến hiện trạng không thống nhất trong cách tính lãi giữa các NHTM, khi đó rất khó tránh khỏi những vi phạm nếu không có quy định quản lý, kiểm soát kịp thời.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về lãi suất và phí liên quan đến hoạt động cho vay của hợp đồng tín dụng kinh doanh

Một là, đối với lãi suất thỏa thuận cần có quy định cơ chế thỏa thuận mức lãi suất trần tối đa mà NHTM có thể áp dụng, nhằm tránh việc thỏa thuận lãi suất quá cao ở một số tổ chức tín dụng như hiện nay. Bởi suy cho cùng trong quan hệ cấp tín dụng, bên được cấp tín dụng là bên bị động và luôn chịu bất lợi trong hầu hết các thỏa thuận với bên cấp tín dụng. Vấn đề này có thể quy định theo hướng: (i) NHTM và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật nhưng không được vượt quá 50%/năm[9]; (ii) NHTM và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật nhưng không vượt quá một tỷ lệ % (xác định cụ thể) cộng với một biên độ (được tính bằng tỷ lệ %). Việc xác định biên độ cần được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu thận trọng, sao cho phù hợp và đáp ứng được cung cầu vốn của thị trường cũng như sự biến động của nền kinh tế.

Hai là, cần phải quy định rõ hơn về mức trần lãi suất tối đa trên nợ gốc chậm trả, có thể theo hướng: Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng là không vượt quá 150% lãi suất vay theo hợp đồng trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và mức lãi suất này không vượt quá 60%/năm[10].

Ba là, đối với quy định về lãi suất chậm trả nợ lãi, nên cân nhắc để có hướng quy định phù hợp hơn về mức lãi suất chậm trả nợ lãi, nhằm tạo điều kiện cho bên được cấp tín dụng có khả năng thanh toán khoản nợ vay và các khoản lãi. Từ đó, phần nào hạn chế được những tổn thất trong việc thu hồi vốn cho vay và giảm thiểu nợ xấu đối với bên cấp tín dụng. Đồng thời, quy định tính lãi suất chậm trả nợ lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cần được các cơ quan chuyên môn phối hợp xem xét sửa đổi, có thể theo hướng: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất bằng không vượt quá 1/3 mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Bốn là, để tạo sự minh bạch về lãi suất, cũng như để chi tiết hóa quy định tại khoản 3 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành đối với lãi suất thả nổi. Cơ quan có thẩm quyền nên sớm ban hành văn bản quy định chi tiết về cơ chế giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với lãi suất thả nổi.

4. Kết luận

Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết các mối quan hệ trong thị trường tín dụng ở Việt Nam. Quy định pháp luật về lãi suất là một công cụ hữu ích mà Ngân hàng Nhà nước sử dụng để thực hiện chính sách tiền tệ. Đồng thời, đây còn là hành lang pháp lý an toàn, thuận lợi để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên giao kết trong HĐTD kinh doanh. Mặc dù vậy, quy định này cũng dần phát sinh những vướng mắc và bất cập qua thực tiễn áp dụng. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và đề xuất giải pháp là cơ sở quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện hơn quy định lãi suất của HĐTD kinh doanh trong thời gian tới.

Phạm Thị Tuyết Giang
Đại học Đồng Tháp


[1] Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN .

[2] Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005.

[3] Điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khác hàng.

[4] Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

[5] Hoàng Ngọc Thành, “Thực tiễn giải quyết tranh chấp tín dụng và các tranh chấp dân sự khác trong lĩnh vực ngân hàng tại Tòa án nhân dân TP. Hà Nội”. Hội thảo “thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân”

Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Bản án 03/2018/KDTM-PT ngày 05/02/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

[6] Nguyễn Văn Phương, “Vấn đề lãi suất và phạt vi phạm trong hợp đồng cho vay-thực trang và kiến nghị”, Tạp chí Ngân hàng, Số 10, tháng 5/2018, tr.14-19.

[7]Bùi Việt Dũng, “Thời hiệu khởi kiện đối với phần lãi suất của khoản vay trong HĐTD, tr. 9 - 10.

[9] Nguyễn Thái Nam, “Vướng mắc, bất cập trong áp dụng quy định “lãi suất””, Tạp chí Tòa án điện tử

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: