Thứ tư 26/08/2026 18:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hoạt động công vụ của công chức chính là việc thực hiện nghĩa vụ và quyền do nhà nước quy định. Những yếu tố này có mối quan hệ mật thiết tạo thành chỉnh thể về quy chế pháp lý của công chức và tác động đến nền hành chính. Bài viết nghiên cứu các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức, qua đó nêu một số bất cập và đề xuất các giải pháp tăng cường trách nhiệm của công chức trong nền công vụ hiện đại.


1. Các quy định về nghĩa vụ của công chức

Pháp luật Việt Nam quy định các nghĩa vụ chung của công chức: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Các quy định này không chỉ là các nghĩa vụ chung của công chức mà cũng chính là các nguyên tắc của chế độ công vụ mà công chức cần phải tuân thủ khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Đồng thời, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có quy định cụ thể qua nguyên tắc quản lý cán bộ: “Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng”[1] nhằm làm rõ và xác định trách nhiệm của cá nhân thông qua vị trí việc làm, phân công, phân cấp rõ ràng.

Để đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động công vụ, công chức có nghĩa vụ liên quan đến thể chế chính trị, chế độ nhà nước và nhân dân theo Điều 8 Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Các nghĩa vụ trong thi hành công vụ: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Đồng thời, đối với công chức là người đứng đầu còn thực hiện các nghĩa vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức.

Trong hoạt động công vụ, công chức cần thực hiện các quy định về đạo đức công vụ; văn hóa giao tiếp với nhân dân ở công sở; những việc công chức không được làm như phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ; phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ; không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao. Những quy định này cũng thể hiện bổn phận của công chức cần thực hiện, đề cao trách nhiệm của công chức.

Ngoài ra, trách nhiệm của công chức còn thể hiện qua quy định đánh giá công chức thuộc quyền, cụ thể: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền”[2]. Điều 7 Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ cũng đã nêu rõ nội dung của chế độ trách nhiệm này.

2. Các quy định về quyền của công chức

Quyền của công chức là cơ sở bảo đảm, là điều kiện và phương tiện, động lực thúc đẩy để công chức thực thi có hiệu quả các nghĩa vụ được giao, tận tâm, tận lực với công vụ mà không bị chi phối bởi những lo toan về cuộc sống thường ngày. Quyền của công chức bao gồm quyền hạn, quyền lợi và các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ.

Theo Điều 11 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức có các quyền và những bảo đảm để thực hiện công vụ đó là: Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ. Trên cơ sở này, Luật cũng đã có những quy định cụ thể hơn về quyền của công chức.

Về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương: Bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Đối với những công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp làm thêm giờ, làm đêm, đi công tác thì được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí.

Về các quyền lợi vật chất khác: Được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh, liệt sĩ; được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

Về các quyền lợi tinh thần: Quyền được khen thưởng, bảo vệ danh dự, nhân phẩm; được bảo đảm quyền học tập, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ; được thăng tiến trong con đường chức nghiệp, nâng bậc lương trước hạn.

Về trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có dành một chương riêng (Chương VII) quy định về các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ gồm công sở, nhà ở công vụ, trang thiết bị làm việc trong công sở, phương tiện đi lại để thi hành công vụ. Quy định này nhằm khẳng định rằng việc hoàn thành tốt trách nhiệm công vụ của công chức lãnh đạo, quản lý không thể thiếu trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện làm việc liên quan.

Ngoài ra, để đảm bảo cho công chức thực thi công vụ, pháp luật còn quy định quyền của từng chức vụ, chức danh trong các luật về tổ chức bộ máy, về quản lý nhà nước chuyên ngành; các văn bản dưới luật về chức trách, phân công nhiệm vụ của công chức; các nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, đối với công chức, bên cạnh việc quy định quyền chung, còn có những quy định về quyền riêng phù hợp với từng chức danh mà họ đảm nhiệm.

3. Một số bất cập và kiến nghị

Một là, nhìn một cách tổng thể, các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức chủ yếu mang tính định hướng, rất ít các quy định mang tính cụ thể để làm chuẩn mực đo lường kết quả thực thi công vụ, đánh giá hiệu quả nhiệm vụ và quản lý công chức; chưa xác định rõ ràng về công vụ, về công chức. Chẳng hạn, quy định phải trung thành với Tổ quốc, Đảng và Nhà nước thì phải sử dụng định lượng hay quy định nào để đo lường sự trung thành của công chức; các quy định về nghĩa vụ của công chức không được làm (như phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư hay không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao) cũng rất khó thực hiện khi mà các nghĩa vụ đó thuộc về chuẩn mực đạo đức nhưng không được làm rõ. Với mục tiêu của nền công vụ là phải đảm bảo mọi công vụ được hoàn thành với chất lượng cao, do đó, cần phải quy định rõ trong luật những vấn đề như: Công vụ là gì, yêu cầu chất lượng thực thi công vụ như thế nào, xác định công chức chỉ là những người hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước.

Hai là, pháp luật còn quy định khá chung chung về nghĩa vụ giữa tập thể cơ quan, đơn vị và cá nhân công chức. Hầu như các văn bản chỉ đề cập việc thực hiện nghĩa vụ của công chức bằng cách sử dụng các cụm từ: Phân công, ủy quyền, các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền; trong khi hoạt động của các cơ quan, đơn vị chủ yếu theo hướng các vấn đề sẽ được thảo luận tập thể và công chức đưa ra các quyết định hành chính để thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Ví dụ như khoản 1, Điều 7 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định: “Sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm việc theo chế độ thủ trưởng và theo Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Với những quy định như vậy dẫn đến thực tế hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thường xảy ra tình trạng những vấn đề thuộc thẩm quyền của công chức sẽ có quyết định không khác gì với ý kiến của tập thể. Điều này gây khó khăn trong việc phân định trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân. Do đó, cần có những quy phạm quy định rõ trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân theo hướng xác định rõ nhiệm vụ nào của cá nhân hay tập thể.

Làm rõ quan niệm về người có chức vụ, quyền hạn và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để có sự điều chỉnh phù hợp về nghĩa vụ, quyền hạn của từng chủ thể. Xác định rõ nội hàm về trách nhiệm công vụ của công chức cho thống nhất trong các văn bản pháp luật vì hiện nay có văn bản quy định trách nhiệm là nhiệm vụ, quyền hạn; có văn bản quy định trách nhiệm là nghĩa vụ phải làm; có văn bản quy định trách nhiệm bao hàm cả hai ý niệm trên; đồng thời, bố trí và sử dụng thuật ngữ trách nhiệm công vụ của công chức tương thích với các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức.

Cần bổ sung quy định về trách nhiệm của người giao công vụ trong việc bảo đảm quyền cho công chức vì tại Điều 10 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không quy định về nghĩa vụ của Thủ trưởng cơ quan bảo đảm quyền cho công chức khi thi hành công vụ, cũng không quy định về trách nhiệm khi Thủ trưởng cơ quan không làm tròn trách nhiệm này.

Ba là, pháp luật có quy định công chức được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ và trong quá trình thực hiện thì phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của từng công chức cũng như trách nhiệm tập thể với trách nhiệm cá nhân gắn với vị trí việc làm, do đó, trong nhiều trường hợp quy định quyền chưa tương xứng với nhiệm vụ. Trong hoạt động công vụ vẫn còn tồn tại tình trạng lẩn tránh trách nhiệm. Để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của công chức cần phải quy định rõ ràng, cụ thể nghĩa vụ, quyền hạn gắn liền với vị trí việc làm để công chức biết họ phải làm gì và phải chịu trách nhiệm như thế nào về kết quả công việc của họ.

Bên cạnh đó còn tồn tại một số quy định chưa phù hợp, chưa gắn thẩm quyền của người trực tiếp sử dụng lao động với thẩm quyền quyết định tuyển dụng; chế độ tiền lương, thu nhập còn thấp so với mặt bằng chung nên chưa làm thay đổi về nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức, cũng chưa thực sự bảo đảm tính cạnh tranh trong hoạt động công vụ. Việc quy định về nghĩa vụ của công chức cũng còn hạn chế trong trường hợp công chức làm đúng các quy định nhưng chưa đạt kết quả theo yêu cầu; hoặc làm việc cầm chừng, vừa đủ bổn phận vì ngại trách nhiệm.

Bốn là, các quy định về chuẩn mực đạo đức công vụ, quy tắc ứng xử vẫn chưa được quy định chi tiết. Ngoài ra, cần xem thái độ thực hiện trách nhiệm, bổn phận của công chức là một trong những tiêu chí đánh giá đạo đức công vụ của công chức khi thi hành công vụ.

Điều 15 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về đạo đức của công chức trong công vụ phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư[3]. Đây là phẩm chất đạo đức cần phải có của công chức trong thi hành công vụ, bởi mọi hành vi của công chức đều ảnh hưởng đến Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, quy định này đã làm hạn chế nội hàm về đạo đức công vụ của công chức, nghĩa là trong hoạt động công vụ, công chức còn phải tuân thủ Hiến pháp, luật và các quy chế làm việc của cơ quan.

Năm là, quyền của công chức mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính chất “quyền lợi” tức là các cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo cần thiết để công chức thực thi công vụ. Do vậy, các thuật ngữ sử dụng trong luật để diễn đạt quyền của công chức chủ yếu là “được đảm bảo”, “được giao quyền”, “được nghỉ”. Có thể thấy, những quy định như vậy không tạo ra được quyền thực thụ cho công chức mà đặt công chức ở thế bị động. Trên thực tế, trong quá trình thực thi công vụ, công chức cũng cần có những quyền hạn nhất định đối với nhiệm vụ của bản thân (ra quyết định hành chính, hành vi hành chính, điều hành, quản lý…), vì vậy cần chỉnh sửa các thuật ngữ thành “có quyền”, “phải được”.

Sáu là, thuật ngữ tránh nhiệm của công chức không được sử dụng trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và cũng không quy định thành một chương độc lập mà được quy định chung với nội dung khen thưởng và xử lý vi phạm. Với cách quy định như vậy làm giảm đi trách nhiệm của công chức và cũng không thể hiện mối quan hệ giữa nghĩa vụ, quyền và trách nhiệm. Vì vậy, cần phải thiết lập một chương quy định về trách nhiệm của công chức với tư cách là yếu tố để xác định khi công chức được đảm bảo đủ quyền mà không hoàn thành nghĩa vụ thì sẽ bị xử lý.

Thực tế hoạt động của các cơ quan nhà nước ở các quốc gia đã chứng minh bằng các chính sách, quyết định, việc thực thi các trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, công chức có thể làm thay đổi đời sống dân cư, xã hội[4] và theo tác giả Nguyễn Minh Đoan: “Một trong những trách nhiệm quan trọng của Nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước là phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, phải tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở pháp luật, phải quản lý xã hội và tiến hành các hoạt động đúng với các quy định của pháp luật”[5]. Vì vậy, để tăng cường trách nhiệm của công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ và dân chủ, thiết nghĩ cần phải có sự điều chỉnh các quy định pháp luật về nghĩa vụ và quyền của công chức cho phù hợp với thực tiễn.

Thái Thị Phương Lan

Đại học Tài chính - Kế toán







[1]. Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[2]. Điều 57 Luật Cán bộ, công chức năm 2008

[3]. Điều 15 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008.

[4]. Phạm Hồng Thái (2009), “Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, tr. 67 - 73.

[5]. Nguyễn Minh Đoan (2014), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: