Thứ sáu 10/04/2026 19:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Hoạt động công vụ của công chức chính là việc thực hiện nghĩa vụ và quyền do nhà nước quy định. Những yếu tố này có mối quan hệ mật thiết tạo thành chỉnh thể về quy chế pháp lý của công chức và tác động đến nền hành chính. Bài viết nghiên cứu các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức, qua đó nêu một số bất cập và đề xuất các giải pháp tăng cường trách nhiệm của công chức trong nền công vụ hiện đại.


1. Các quy định về nghĩa vụ của công chức

Pháp luật Việt Nam quy định các nghĩa vụ chung của công chức: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Các quy định này không chỉ là các nghĩa vụ chung của công chức mà cũng chính là các nguyên tắc của chế độ công vụ mà công chức cần phải tuân thủ khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Đồng thời, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có quy định cụ thể qua nguyên tắc quản lý cán bộ: “Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng”[1] nhằm làm rõ và xác định trách nhiệm của cá nhân thông qua vị trí việc làm, phân công, phân cấp rõ ràng.

Để đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động công vụ, công chức có nghĩa vụ liên quan đến thể chế chính trị, chế độ nhà nước và nhân dân theo Điều 8 Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Các nghĩa vụ trong thi hành công vụ: Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Đồng thời, đối với công chức là người đứng đầu còn thực hiện các nghĩa vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân; giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức.

Trong hoạt động công vụ, công chức cần thực hiện các quy định về đạo đức công vụ; văn hóa giao tiếp với nhân dân ở công sở; những việc công chức không được làm như phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ; phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc; không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thi hành công vụ; không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao. Những quy định này cũng thể hiện bổn phận của công chức cần thực hiện, đề cao trách nhiệm của công chức.

Ngoài ra, trách nhiệm của công chức còn thể hiện qua quy định đánh giá công chức thuộc quyền, cụ thể: “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền”[2]. Điều 7 Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ cũng đã nêu rõ nội dung của chế độ trách nhiệm này.

2. Các quy định về quyền của công chức

Quyền của công chức là cơ sở bảo đảm, là điều kiện và phương tiện, động lực thúc đẩy để công chức thực thi có hiệu quả các nghĩa vụ được giao, tận tâm, tận lực với công vụ mà không bị chi phối bởi những lo toan về cuộc sống thường ngày. Quyền của công chức bao gồm quyền hạn, quyền lợi và các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ.

Theo Điều 11 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức có các quyền và những bảo đảm để thực hiện công vụ đó là: Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ. Trên cơ sở này, Luật cũng đã có những quy định cụ thể hơn về quyền của công chức.

Về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương: Bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Đối với những công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp làm thêm giờ, làm đêm, đi công tác thì được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí.

Về các quyền lợi vật chất khác: Được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh, liệt sĩ; được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.

Về các quyền lợi tinh thần: Quyền được khen thưởng, bảo vệ danh dự, nhân phẩm; được bảo đảm quyền học tập, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ; được thăng tiến trong con đường chức nghiệp, nâng bậc lương trước hạn.

Về trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có dành một chương riêng (Chương VII) quy định về các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ gồm công sở, nhà ở công vụ, trang thiết bị làm việc trong công sở, phương tiện đi lại để thi hành công vụ. Quy định này nhằm khẳng định rằng việc hoàn thành tốt trách nhiệm công vụ của công chức lãnh đạo, quản lý không thể thiếu trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện làm việc liên quan.

Ngoài ra, để đảm bảo cho công chức thực thi công vụ, pháp luật còn quy định quyền của từng chức vụ, chức danh trong các luật về tổ chức bộ máy, về quản lý nhà nước chuyên ngành; các văn bản dưới luật về chức trách, phân công nhiệm vụ của công chức; các nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, đối với công chức, bên cạnh việc quy định quyền chung, còn có những quy định về quyền riêng phù hợp với từng chức danh mà họ đảm nhiệm.

3. Một số bất cập và kiến nghị

Một là, nhìn một cách tổng thể, các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức chủ yếu mang tính định hướng, rất ít các quy định mang tính cụ thể để làm chuẩn mực đo lường kết quả thực thi công vụ, đánh giá hiệu quả nhiệm vụ và quản lý công chức; chưa xác định rõ ràng về công vụ, về công chức. Chẳng hạn, quy định phải trung thành với Tổ quốc, Đảng và Nhà nước thì phải sử dụng định lượng hay quy định nào để đo lường sự trung thành của công chức; các quy định về nghĩa vụ của công chức không được làm (như phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư hay không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao) cũng rất khó thực hiện khi mà các nghĩa vụ đó thuộc về chuẩn mực đạo đức nhưng không được làm rõ. Với mục tiêu của nền công vụ là phải đảm bảo mọi công vụ được hoàn thành với chất lượng cao, do đó, cần phải quy định rõ trong luật những vấn đề như: Công vụ là gì, yêu cầu chất lượng thực thi công vụ như thế nào, xác định công chức chỉ là những người hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước.

Hai là, pháp luật còn quy định khá chung chung về nghĩa vụ giữa tập thể cơ quan, đơn vị và cá nhân công chức. Hầu như các văn bản chỉ đề cập việc thực hiện nghĩa vụ của công chức bằng cách sử dụng các cụm từ: Phân công, ủy quyền, các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền; trong khi hoạt động của các cơ quan, đơn vị chủ yếu theo hướng các vấn đề sẽ được thảo luận tập thể và công chức đưa ra các quyết định hành chính để thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Ví dụ như khoản 1, Điều 7 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định: “Sở thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm việc theo chế độ thủ trưởng và theo Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Với những quy định như vậy dẫn đến thực tế hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thường xảy ra tình trạng những vấn đề thuộc thẩm quyền của công chức sẽ có quyết định không khác gì với ý kiến của tập thể. Điều này gây khó khăn trong việc phân định trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân. Do đó, cần có những quy phạm quy định rõ trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm của cá nhân theo hướng xác định rõ nhiệm vụ nào của cá nhân hay tập thể.

Làm rõ quan niệm về người có chức vụ, quyền hạn và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để có sự điều chỉnh phù hợp về nghĩa vụ, quyền hạn của từng chủ thể. Xác định rõ nội hàm về trách nhiệm công vụ của công chức cho thống nhất trong các văn bản pháp luật vì hiện nay có văn bản quy định trách nhiệm là nhiệm vụ, quyền hạn; có văn bản quy định trách nhiệm là nghĩa vụ phải làm; có văn bản quy định trách nhiệm bao hàm cả hai ý niệm trên; đồng thời, bố trí và sử dụng thuật ngữ trách nhiệm công vụ của công chức tương thích với các quy định về nghĩa vụ và quyền của công chức.

Cần bổ sung quy định về trách nhiệm của người giao công vụ trong việc bảo đảm quyền cho công chức vì tại Điều 10 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không quy định về nghĩa vụ của Thủ trưởng cơ quan bảo đảm quyền cho công chức khi thi hành công vụ, cũng không quy định về trách nhiệm khi Thủ trưởng cơ quan không làm tròn trách nhiệm này.

Ba là, pháp luật có quy định công chức được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ và trong quá trình thực hiện thì phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của từng công chức cũng như trách nhiệm tập thể với trách nhiệm cá nhân gắn với vị trí việc làm, do đó, trong nhiều trường hợp quy định quyền chưa tương xứng với nhiệm vụ. Trong hoạt động công vụ vẫn còn tồn tại tình trạng lẩn tránh trách nhiệm. Để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của công chức cần phải quy định rõ ràng, cụ thể nghĩa vụ, quyền hạn gắn liền với vị trí việc làm để công chức biết họ phải làm gì và phải chịu trách nhiệm như thế nào về kết quả công việc của họ.

Bên cạnh đó còn tồn tại một số quy định chưa phù hợp, chưa gắn thẩm quyền của người trực tiếp sử dụng lao động với thẩm quyền quyết định tuyển dụng; chế độ tiền lương, thu nhập còn thấp so với mặt bằng chung nên chưa làm thay đổi về nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức, cũng chưa thực sự bảo đảm tính cạnh tranh trong hoạt động công vụ. Việc quy định về nghĩa vụ của công chức cũng còn hạn chế trong trường hợp công chức làm đúng các quy định nhưng chưa đạt kết quả theo yêu cầu; hoặc làm việc cầm chừng, vừa đủ bổn phận vì ngại trách nhiệm.

Bốn là, các quy định về chuẩn mực đạo đức công vụ, quy tắc ứng xử vẫn chưa được quy định chi tiết. Ngoài ra, cần xem thái độ thực hiện trách nhiệm, bổn phận của công chức là một trong những tiêu chí đánh giá đạo đức công vụ của công chức khi thi hành công vụ.

Điều 15 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về đạo đức của công chức trong công vụ phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư[3]. Đây là phẩm chất đạo đức cần phải có của công chức trong thi hành công vụ, bởi mọi hành vi của công chức đều ảnh hưởng đến Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, quy định này đã làm hạn chế nội hàm về đạo đức công vụ của công chức, nghĩa là trong hoạt động công vụ, công chức còn phải tuân thủ Hiến pháp, luật và các quy chế làm việc của cơ quan.

Năm là, quyền của công chức mới chỉ dừng lại ở các quy định mang tính chất “quyền lợi” tức là các cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo cần thiết để công chức thực thi công vụ. Do vậy, các thuật ngữ sử dụng trong luật để diễn đạt quyền của công chức chủ yếu là “được đảm bảo”, “được giao quyền”, “được nghỉ”. Có thể thấy, những quy định như vậy không tạo ra được quyền thực thụ cho công chức mà đặt công chức ở thế bị động. Trên thực tế, trong quá trình thực thi công vụ, công chức cũng cần có những quyền hạn nhất định đối với nhiệm vụ của bản thân (ra quyết định hành chính, hành vi hành chính, điều hành, quản lý…), vì vậy cần chỉnh sửa các thuật ngữ thành “có quyền”, “phải được”.

Sáu là, thuật ngữ tránh nhiệm của công chức không được sử dụng trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và cũng không quy định thành một chương độc lập mà được quy định chung với nội dung khen thưởng và xử lý vi phạm. Với cách quy định như vậy làm giảm đi trách nhiệm của công chức và cũng không thể hiện mối quan hệ giữa nghĩa vụ, quyền và trách nhiệm. Vì vậy, cần phải thiết lập một chương quy định về trách nhiệm của công chức với tư cách là yếu tố để xác định khi công chức được đảm bảo đủ quyền mà không hoàn thành nghĩa vụ thì sẽ bị xử lý.

Thực tế hoạt động của các cơ quan nhà nước ở các quốc gia đã chứng minh bằng các chính sách, quyết định, việc thực thi các trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, công chức có thể làm thay đổi đời sống dân cư, xã hội[4] và theo tác giả Nguyễn Minh Đoan: “Một trong những trách nhiệm quan trọng của Nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước là phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, phải tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở pháp luật, phải quản lý xã hội và tiến hành các hoạt động đúng với các quy định của pháp luật”[5]. Vì vậy, để tăng cường trách nhiệm của công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ và dân chủ, thiết nghĩ cần phải có sự điều chỉnh các quy định pháp luật về nghĩa vụ và quyền của công chức cho phù hợp với thực tiễn.

Thái Thị Phương Lan

Đại học Tài chính - Kế toán







[1]. Điều 5 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

[2]. Điều 57 Luật Cán bộ, công chức năm 2008

[3]. Điều 15 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008.

[4]. Phạm Hồng Thái (2009), “Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, tr. 67 - 73.

[5]. Nguyễn Minh Đoan (2014), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: