Thứ bảy 14/03/2026 08:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần được hướng dẫn cụ thể hơn

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016, so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những đổi mới đáng kể trong đó có bổ sung thêm các quy định về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định tạm ngưng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý trong một thời hạn khi có những căn cứ do pháp luật quy định. Khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn Tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó. Bài viết đã chỉ ra được những điểm mới về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đồng thời tác giả cũng phân tích kỹ một số căn cứ cần được tiếp tục nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể hơn như: Căn cứ đương sự là cá nhân đã chết mà chưa có cơ quan, tổ chức, các nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; căn cứ chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế…, thời hạn và hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý trong một thời hạn khi có những căn cứ do pháp luật quy định. Khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn, thì Tòa án lại tiếp tục giải quyết vụ án dân sự đó.

1. Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Về cơ bản, các căn cứ tạm đình chỉ được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định tương đối cụ thể trên cơ sở kế thừa các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011)[1]. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm ba căn cứ mới quy định tại các điểm đ, e, g khoản 1 Điều 214[2]. Tuy nhiên, có một số căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án cần được tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể hơn:

- Đối với căn cứ đương sự là cá nhân đã chết mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó

Căn cứ trên được áp dụng khi một trong các đương sự là cá nhân đang tham gia vào việc giải quyết vụ án đã chết mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó. Theo Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng”. Như vậy, chỉ trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền và nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế sẽ tham gia tố tụng, còn đối với các quan hệ về nhân thân thì không có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, nên nếu quyền và nghĩa vụ đương sự đang yêu cầu Tòa án giải quyết là quyền nhân thân mà có một trong các đương sự chết thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Đối với vụ việc có nhiều quan hệ pháp luật vừa có quan hệ nhân thân, vừa có quan hệ tài sản cần giải quyết (ly hôn, chia tài sản của vợ chồng đồng thời giải quyết yêu cầu của chủ nợ đối với vợ chồng…) thì việc một trong các đương sự chết cũng không làm chấm dứt việc giải quyết các quan hệ tài sản. Trong những trường hợp này, Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với quan hệ nhân thân, tạm đình chỉ đối với việc giải quyết quan hệ tài sản mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, điều này cần được giải thích rõ.

Ngoài ra, cũng giống như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định đối với trường hợp đương sự chết khi Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự mà quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo pháp luật quy định là được kế thừa nhưng không có người thừa kế. Theo Điều 622 Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017) thì trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước. Do đó, cần hướng dẫn cụ thể, trường hợp vụ án tranh chấp về tài sản mà đương sự là cá nhân chết không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản mà chưa xác định được cơ quan nhà nước nhận tài sản kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự đã chết thì Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

- Đối với căn cứ đương sự là cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó

Đây là trường hợp đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa có đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật đối với loại hình cơ quan, tổ chức đó. Cần phân biệt với trường hợp các cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn chấm dứt hoạt động trên thực tế (do bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản) nếu “không có” cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng bị giải thể, bị tuyên bố phá sản thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Việc xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, so với Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì căn cứ tạm đình chỉ tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn bỏ sót trường hợp tổ chức chuyển đổi hình thức tổ chức, thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ sở hữu mới, trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết[3]. Do đó, việc hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ cho phù hợp với Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Đối với căn cứ đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật

Trong trường hợp này, khi chưa xác định được người đại diện theo pháp luật của đương sự thì Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Quy định này là phù hợp, bởi nếu Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ việc mà chưa có người đại diện thay đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự thì sẽ không bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân, việc giải quyết vụ án dân sự khó có thể chính xác và đúng đắn. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung thêm trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ[4]. Việc bổ sung này là hợp lý nhằm đáp ứng thực tế hiện nay. Vì vậy, để tương thích với Bộ luật Dân sự năm 2015, cần quy định hướng dẫn thêm trường hợp đương sự là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.

- Đối với căn cứ chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế

Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, trường hợp chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự nhưng chưa có người thay thế ngay, thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hợp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật của đương sự là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà đương sự là cá nhân được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự, thì đương sự sẽ tiếp tục tham gia tố tụng hoặc có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Ngoài ra, khi quan hệ ủy quyền chấm dứt thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự sẽ tiếp tục hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng. Vì vậy, trong trường hợp quan hệ ủy quyền đã chấm dứt, nhưng đương sự hoặc người thừa kế của đương sự lại tiếp tục tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết.

- Đối với căn cứ cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án

Đối với trường hợp sau khi Tòa án thụ lý vụ án thì phát hiện được sự việc mà đương sự yêu cầu phải do cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết trước, nhưng đương sự chưa yêu cầu hoặc đã yêu cầu mà chưa có kết quả giải quyết, thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và hướng dẫn đương sự gửi đơn yêu cầu đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết đó. Sau khi có kết quả giải quyết, đương sự không đồng ý hoặc không được giải quyết trong thời hạn, thì Tòa án lại tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án.

Theo quy định hiện nay, các trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước là:

+ Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án, trong đó quy định đối với tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động, mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đối với tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết. Quy định này là tương thích với Điều 201 và 204 Bộ luật Lao động năm 2012.

+ Điều 22 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quy định quyền khởi kiện tại Tòa án của người bị thiệt hại trong trường hợp không tán thành với quyết định giải quyết bồi thường.

+ Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà không thành, thì đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án. Như vậy, khi đơn kiện về các tranh chấp đất đai mà chưa được hòa giải theo quy định của pháp luật đất đai, Tòa án đã thụ lý vụ án và phát hiện ra căn cứ này, thì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án và hướng dẫn đương sự nộp đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giải quyết trước. Theo khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Tuy nhiên, có phải tất cả các tranh chấp đất đai đều phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã trước khi khởi kiện đến Tòa án hay không là vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể. Theo tác giả, việc hướng dẫn thi hành vấn đề này nên kế thừa hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự[5].

- Đối với căn cứ cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì mới giải quyết được vụ án

Đây là căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mới được áp dụng đối với những vụ án mà việc giải quyết vụ án phải thực hiện bằng biện pháp ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ thì thời gian để chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ thường mất nhiều thời gian nên việc bổ sung căn cứ này là phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

- Đối với căn cứ cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ

Quy định mới này phù hợp với Điều 221 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật.

- Đối với căn cứ theo Điều 41 của Luật Phá sản năm 2014

Điều 41 Luật Phá sản năm 2014 quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, Tòa án nhân dân phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Vì vậy, việc bổ sung căn cứ này nhằm bảo đảm sự đồng bộ với quy định của Luật Phá sản năm 2014.

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Đây là quy định mở, mang tính dự phòng đối với những trường hợp phát sinh lý do mà Tòa án cần thiết phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự mới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo quy định tại khoản 18 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Quy định này chưa thực sự rõ ràng, bởi đề nghị này có cần phải phù hợp với các căn cứ quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hay không và có cần phải tất cả các đương sự khác đồng ý hay không? Theo tác giả, quy định tại khoản 18 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là quyền của đương sự, nhưng việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án lại ảnh hưởng tới quyền lợi của các đương sự khác, nhất là khi vụ án có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Do vậy, khi đương sự đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì thẩm phán phải xem xét đề nghị đó có hợp lý không và có phù hợp với các quy định của pháp luật không. Nếu phù hợp thì Tòa án mới chấp nhận yêu cầu đề nghị của đương sự. Tuy nhiên, từ góc nhìn này, tác giả cho rằng, nếu trong trường hợp tất cả các đương sự trong vụ việc dân sự đều thỏa thuận và cùng đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong một thời hạn nhất định để các bên có thời gian hòa giải hoặc một bên đương sự yêu cầu và các đương sự khác đều đồng ý, thì nhà lập pháp cũng nên ghi nhận sự kiện này là một căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự. Sự ghi nhận này là phù hợp với quyền tự định đoạt của đương sự.

2. Thời hạn và hậu quả tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

So với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), thời hạn Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 rút ngắn hơn, còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Quy định này là nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của đương sự và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhưng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa khắc phục được. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) không quy định về thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự dẫn đến hậu quả khi áp dụng trong thực tiễn, một số Tòa án chậm ra quyết định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, việc hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần thiết phải quy định thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Về cơ bản, hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được giữ nguyên theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011):

- Tòa án không xóa tên vụ án trong sổ thụ lý mà chỉ ghi vào sổ thụ lý ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ.

- Tiền tạm ứng án phí, lệ phí đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

- Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bên cạnh đó, do Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ quy định tại điểm e khoản 1, nên Điều 215 Bộ luật Tố tụng dân sự bổ sung thêm hậu quả pháp lý trong trường hợp này là trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này. Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời. Hết thời hạn này mà cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời, thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Ngoài ra, để bảo đảm giải quyết nhanh chóng vụ án dân sự, Điều 215 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án.

So với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể hơn về thời hạn Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự là trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, đồng thời Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên, theo chúng tôi, sẽ hợp lý hơn nếu quy định cụ thể thời hạn Tòa án phải gửi quyết định tiếp tục giải quyết vụ án cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và gửi choViện kiểm sát cùng cấp.

Điểm mới quan trọng nữa của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đã quy định cụ thể ngày hết hiệu lực của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự. Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

TS. Bùi Thị Huyền

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Như các căn cứ: Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó; đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

[2]. Đó là các căn cứ: Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án; cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ; theo quy định tại Điều 41 của Luật Phá sản năm 2014.

[3]. Xem Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4]. Xem Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Trên thực tế, các tranh chấp đất đai thường là tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung là quyền sử dụng đất, các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Khoản 3 Điều 8 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai năm 2003. Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo tác giả, hướng dẫn trên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là hợp lý, không làm hạn chế quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

TS. Bùi Thị Huyền

Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: