Chủ nhật 17/05/2026 17:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về tạm ngừng phiên tòa và vướng mắc trong thực tiễn xét xử

Tạm ngừng phiên tòa là quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quy định này nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa. Do đây là quy định mới chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên trong thực tiễn xét xử đã nảy sinh những vướng mắc dẫn đến sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Theo quy định tại Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây: (i) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; (ii) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt; (iii) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa; (iv) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại; (v) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải; (vi) Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa là không quá 01 tháng, kể từ ngày Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn này, nếu lý do để ngừng phiên tòa không còn thì Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Hội đồng xét xử phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa.

Nghiên cứu quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về tạm ngừng phiên tòa và vận dụng quy định này vào thực tiễn xét xử thì phát sinh một số vướng mắc sau:

Thứ nhất, theo quy định, nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Vậy Tòa án có phải mở lại phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết này không?

Khoản 2 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định Hội đồng xét xử phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian tiếp tục phiên tòa mà không có quy định thông báo về thời gian mở phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Điều này dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất. Có quan điểm cho rằng, Tòa án phải mở phiên tòa để Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Nhưng theo quan điểm khác thì không cần thiết phải làm như vậy mà Hội đồng xét xử chỉ cần tiến hành nghị án và thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định này cho đương sự, Viện kiểm sát.

Thứ hai, nếu hết thời hạn 01 tháng đương sự vẫn còn đang thỏa thuận thì có coi là lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục không? Trường hợp này, Tòa án tiếp tục phiên tòa hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự?

Thế nào là lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì chưa được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng. Khoản 2 Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định nếu lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà không nêu rõ lý do nào trong các lý do quy định tại khoản 1 Điều này. Vì vậy, có quan điểm cho rằng, việc đương sự vẫn còn đang tự thỏa thuận thì cũng được coi là lý do để ngừng phiên tòa chưa được khắc phục, nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Theo tác giả thì quan điểm này chưa thật sự hợp lý. Bởi việc trước khi đưa vụ án ra xét xử các đương sự đã không tự thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để họ tự thỏa thuận trong thời hạn 01 tháng, nên khi hết thời hạn 01 tháng mà đương sự vẫn không thỏa thuận được thì Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là hợp lý hơn. Hơn nữa, cụm từ “chưa được khắc phục” không thể dùng cho lý do “các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải”.

Thứ ba, nếu hết thời hạn 01 tháng, sức khỏe đương sự ổn định có thể tiếp tục tham gia phiên tòa. Khi đến ngày Tòa án thông báo tiếp tục phiên tòa, đương sự này không có mặt (trong trường hợp đây là phiên tòa lần thứ nhất) mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án xét xử vắng mặt hay hoãn phiên tòa

Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng, đương sự đã có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu nên sau khi không còn lý do tạm ngừng phiên tòa, Tòa án đã thông báo cho đương sự biết thời gian tiếp tục phiên tòa nhưng họ vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành phiên tòa mà không coi là họ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất để hoãn phiên tòa như quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bởi quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 áp dụng cho trường hợp đương sự vắng mặt ngay từ đầu phiên tòa chứ không phải là trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa rồi sau đó vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Cũng có quan điểm cho rằng, Tòa án cần linh động hoãn phiên tòa để triệu tập đương sự lần thứ hai là nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự trong vụ án. Nếu họ tiếp tục vắng mặt thì Tòa án hoàn toàn có căn cứ để xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xem xét quy định về hoãn phiên tòa tại Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thấy rằng, Hội đồng xét xử chỉ được quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật Tố tụng dan sự năm 2015. Mà trường hợp trên theo tác giả không thể xác định là đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất. Chính vì vậy, việc Tòa án hoãn phiên tòa là chưa có căn cứ pháp lý.

Thứ tư, nếu hết thời hạn 01 tháng, thẩm phán chủ tọa phiên tòa vẫn không thể tiếp tục tham gia phiên tòa vì lý do sức khỏe mà không có thẩm phán dự khuyết thay thế thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Khi đó, Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì phải tiến hành nghị án, vậy việc biểu quyết thực hiện như thế nào và ai ký quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án?

Vấn đề này hiện đang vướng về quy định của pháp luật. Theo khoản 2 Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án phải được Hội đồng xét xử thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản. Về nguyên tắc, khi nghị án, Hội đồng xét xử biểu quyết theo đa số nhưng trong trường hợp này chỉ có hai hội thẩm nhân dân nên không thể biểu quyết theo nguyên tắc đa số.

Thứ năm, nếu phiên tòa diễn ra đến kết thúc phần tranh tụng thì Kiểm sát viên vì lý do sức khỏe không thể tiếp tục tham gia phiên tòa. Theo quy định, Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa. Nếu hết thời hạn 01 tháng, kiểm sát viên không thể tiếp tục phiên tòa, Viện kiểm sát cử kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa nhưng kiểm sát viên dự khuyết không tham gia phiên tòa ngay từ đầu thì Tòa án tiếp tục phiên tòa hay quay lại từ đầu?

Nghiên cứu quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa quy định tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì trường hợp kiểm sát viên không thể tiếp tục tham gia phiên tòa xét xử nhưng có kiểm sát viên dự khuyết thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu. Tuy nhiên, trường hợp trên thì kiểm sát viên không có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu và trong thực tiễn xét xử thì đa phần không có kiểm sát viên dự khuyết tham gia phiên tòa ngay từ đầu. Điều này bắt buộc Tòa án phải quay lại từ đầu phiên tòa theo thủ tục chung. Liệu việc Tòa án quay lại từ đầu phiên tòa có hợp lý không trong khi theo quy định nếu sau khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và không cần quay lại hỏi để làm rõ thêm vấn đề gì thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ tuyên án.

Từ những vướng mắc nêu trên, tác giả bài viết mong được các độc giả cùng trao đổi để việc hiểu và áp dụng hướng dẫn quy định tại Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cho thống nhất.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: