Thứ hai 13/04/2026 09:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về tuyển dụng công chức và một số giải pháp hoàn thiện

Trong hoạt động của nền hành chính, vấn đề xây dựng đội ngũ công chức luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu. Đội ngũ công chức trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã hội, đảm bảo thực thi pháp luật và là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính. Công tác tuyển dụng là bước đầu tiên để tuyển chọn được đội ngũ công chức có chất lượng cao.

Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức trách nhất định hay để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà nước trao, do vậy việc tuyển dụng công chức phải cẩn trọng. Bài viết bàn về những quy định về tuyển dụng công chức theo pháp luật hiện hành dựa trên các nội dung về: Căn cứ, điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng công chức; về thi tuyển công chức; về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức, về tập sự. Qua đó, tác giả đã chỉ ra được một số khó khăn và vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức.


1. Pháp luật về tuyển dụng công chức

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, căn cứ để tuyển dụng công chức là yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức. Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt để làm căn cứ tuyển dụng công chức. Hàng năm, cơ quan sử dụng công chức xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức, báo cáo cơ quan quản lý công chức để phê duyệt và tổ chức tuyển dụng công chức. Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, xét tuyển hoặc tiếp nhận đối với một số trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, tùy theo mục tiêu và đối tượng cũng như công việc cần tuyển.

Như vậy, tuyển dụng công chức là việc lựa chọn và chấp nhận một người tự nguyện gia nhập hệ thống công vụ sau khi đã xác nhận người đó có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật để bổ nhiệm vào một ngạch công chức theo tiêu chuẩn chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần tuyển. Tuyển dụng công chức là để giao giữ một chức trách nhất định hay để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó, để thi hành nhiệm vụ được Nhà nước trao cho công chức, do vậy việc tuyển dụng công chức phải cẩn trọng.

Các văn bản quy phạm pháp luật về tuyển dụng công chức hiện hành có Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Thông tư số 13/2010/TT-BNV ngày 30/12/2010 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP (Thông tư số 13/2010/TT-BNV); Thông tư số 05/2012/TT-BNV ngày 24/10/2012 của Bộ Nội vụ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-BNV và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác quy định những nội dung cụ thể sau:

Về căn cứ, điều kiện, thẩm quyền tuyển dụng công chức: Quy định cơ quan tuyển dụng công chức phải xác định, mô tả vị trí việc làm, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng. Đây là một trong những nội dung quy định mới nhằm mục đích tuyển dụng được đúng người đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước, hạn chế việc tuyển dụng công chức một các tùy tiện. Trước đây, theo quy định tại Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 giới hạn tuổi tối đa được tuyển dụng vào công chức hành chính là 45 tuổi, nhưng đến nay quy định mới của Nghị định số 24/2010/NĐ-CP không giới hạn tuổi tối đa, pháp luật hiện hành đã mở rộng đối tượng được tham gia dự tuyển vào công chức hành chính, cơ quan tuyển dụng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn được người có tài năng và trình độ chuyên môn phục vụ cho nền hành chính.

Về thi tuyển công chức: Trước đây, văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định cụ thể các môn thi, giao Bộ Nội vụ quy định và chỉ quy định có ba môn thi là môn hành chính nhà nước, môn ngoại ngữ, môn tin học. Hiện nay, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP đã quy định cụ thể 4 môn thi bắt buộc, bao gồm môn kiến thức chung, môn nghiệp vụ chuyên ngành, môn ngoại ngữ, môn tin học. Khi chưa quy định và thực hiện tổ chức thi đối với môn chuyên ngành trên thực tế đã gặp phải hạn chế khi tuyển dụng vào từng vị trí việc làm cụ thể trong cơ quan hành chính nhà nước. Khắc phục tình trạng đó, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP đã quy định thêm môn thi nghiệp vụ chuyên ngành, yêu cầu người tham gia dự tuyển phải có kiến thức tổng hợp, chuyên môn nghiệp vụ được tích lũy trong quá trình đào tạo và phải biết và sử dụng thành thạo một ngoại ngữ, tin học văn phòng để phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế.

Về trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức: Pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm của người tham gia tuyển dụng công chức và người có thẩm quyền tuyển dụng công chức như: Thông báo tuyển dụng, hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng, gia hạn thời hạn hoàn thiện hồ sơ, quyết định tuyển dụng, người trúng tuyển đến nhận việc... Nhìn chung, các quy định về trình tự, thời gian cụ thể chi tiết; bổ sung một số thủ tục tuyển dụng công chức đối với trường hợp đặc biệt trước đó chưa quy định.

Về tập sự: Trước đây đã quy định miễn tập sự đối với người đã là cán bộ, công chức, viên chức, lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước khi tham gia tuyển dụng công chức. Theo quy định mới không phân biệt người tham gia tuyển dụng công chức đã được bầu, bổ nhiệm chức danh, chức vụ gì, làm việc ở cơ quan nào miễn là đã đóng bảo hiểm xã hội bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự thì sẽ được miễn tập sự.

2. Một số khó khăn, vướng mắc

Pháp luật về tuyển dụng cán bộ, công chức đã được quy định khá đầy đủ và rõ ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn vẫn nảy sinh những khó khăn, vướng mắc như:

Thứ nhất, chỉ tiêu biên chế của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương theo khoản 5 Điều 66 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì: “Căn cứ vào quyết định chỉ tiêu biên chế được Chính phủ giao, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức trong cơ quan của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập của Ủy ban nhân dân các cấp”. Theo đó, có nơi ban hành nghị quyết về biên chế hành chính theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Tuy nhiên, cách làm này gặp vướng mắc trong thực tiễn. Thời điểm Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết về biên chế công chức (vào kỳ họp thường lệ giữa năm) thì Chính phủ chưa có quyết định giao chỉ tiêu biên chế cho địa phương năm đó. Do vậy, chưa có căn cứ để Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết theo đúng quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức. Nhưng nếu Hội đồng nhân dân không quyết định giao biên chế hành chính vào năm đó thì đầu năm sau Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có căn cứ xác định tổng quỹ lương và thực hiện chi trả lương cho công chức hành chính của địa phương. Để giải quyết tình huống này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vẫn ban hành nghị quyết giao chính thức tổng biên chế hành chính năm đó bằng số biên chế được Chính phủ giao cho năm trước và giao Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định sau khi Chính phủ giao biên chế hành chính năm đó.

Thứ hai, về công tác thi tuyển công chức vào cơ quan hành chính nhà nước, hiện nay chưa quy định về thời gian tổ chức thi tuyển công chức hàng năm. Do vậy có bộ, ngành, tỉnh tổ chức thi vào đầu năm; có bộ, ngành, tỉnh tổ chức thi vào cuối năm. Thực tế hiện nay quy định chỉ tổ chức thi tuyển đối với ngạch cán sự và ngạch chuyên viên, chưa quy định thi tuyển dụng mới đối với ngạch cao hơn và một số vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước, dẫn đến phạm vi cạnh tranh thi để được bổ nhiệm ngạch chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp hoặc vị trí lãnh đạo, quản lý có phạm vi hẹp trong số công chức nhà nước (cạnh tranh trong nội bộ công chức nhà nước), chưa có cơ hội cho tuyển mới công chức vào ngạch chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, vị trí lãnh đạo, quản lý. Điều đó phần nào đã hạn chế việc thu hút người giỏi, có kinh nghiệm vào làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Thứ ba, về tập sự và bổ nhiệm vào ngạch, theo quy định của pháp luật hiện hành thì người được tuyển dụng vào ngạch công chức đã có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bằng với thời gian tập sự trở lên thì không phải tập sự. Xét về mặt chế độ, chính sách quy định như vậy là phù hợp, vì người được tuyển dụng công chức đương nhiên được hưởng 100% ngạch, bậc lương được tuyển dụng và bổ nhiệm, nhưng trong thực tế thì không phải tất cả những công chức đã có thời gian công tác và tham gia đóng bảo hiểm xã hội trước đó đều làm những công việc phù hợp với vị trí việc làm của công chức mới được tuyển dụng. Do vậy, cần hạn chế về đối tượng đối với người được miễn tập sự.

Thứ tư, yêu cầu đối với việc bổ nhiệm vào ngạch công chức phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước phù hợp với ngạch công chức được bổ nhiệm, tức là, trước khi bổ nhiệm vào ngạch, người công chức phải học kiến thức quản lý hành chính nhà nước và được cấp chứng chỉ. Nhưng trên thực tế, công chức mới được tuyển dụng đang trong thời gian tập sự rất ít khi được cử đi học bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước. Do vậy, thường là hết thời gian tập sự công chức được bổ nhiệm vào ngạch đã dự tuyển và nợ chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, sau đó đi học bổ sung sau, dẫn đến tình trạng đi học có tính chất đối phó cho đầy đủ thủ tục trong hồ sơ theo quy định. Điều đó phần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập.

3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức

Một là, sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 13/2010/TT-BNV theo hướng công chức loại B (ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương) thực hiện theo phương thức kết hợp có tuyển dụng mới và thi nâng ngạch.

Hình thức thi nên quy định theo hướng thi tuyển công chức ngạch cán sự và ngạch chuyên viên quy định như hiện nay. Nhưng hướng tới sửa đổi, bổ sung quy định, thành lập cơ quan tổ chức thi tuyển công chức chung cho tất cả các bộ, ngành và địa phương; thi tuyển 2 vòng độc lập: (i) Vòng thứ nhất, tổ chức thi tuyển chung cho các bộ, ngành và địa phương; (ii) Vòng thứ hai, cơ quan tuyển dụng trực tiếp phỏng vấn sâu đối với người tham gia dự tuyển công chức trong số những người đã trúng tuyển ở vòng một. Thi tuyển ngạch chuyên viên chính tổ chức thi làm 3 vòng: Vòng 1 và vòng 2 tổ chức thi chung cho các bộ, ngành và địa phương, vòng 1 thi trắc nghiệm và tiếng Anh, vòng 2 thi viết tự luận, vòng 3 cơ quan tuyển dụng tổ chức thi phỏng vấn sâu để đánh giá khả năng ngôn ngữ như cách đặt câu, cách hiểu, cách tư duy, cách thể hiện suy nghĩ của mình một cách rõ ràng, hiệu quả, hợp lý; đánh giá khả năng ứng viên về kỹ năng xuất sắc cơ bản và khả năng phân tích các kết quả, sử dụng thông tin; kiểm tra khả năng phân tích và giải quyết vấn đề, khả năng ra quyết định. Đối với ngạch chuyên viên chính nên tổ chức thi thí điểm với số lượng chỉ tiêu tuyển dụng ít để tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm và tiếp tục triển khai rộng trên toàn quốc.

Môn thi chuyên ngành đối với ngạch cán sự và ngạch chuyên viên hiện nay quy định theo hướng đúng hoặc phù hợp với vị trí, việc làm cần tuyển và môn thi đó có trong chương trình đào tạo đã được cấp bằng tốt nghiệp.

- Hiện nay chưa quy định thời gian tổ chức thi tuyển công chức cố định hàng năm cho nên chưa thu hút được tối đa số sinh viên mới tốt nghiệp cao đẳng, đại học chính quy mới ra trường. Do vậy, nên quy định thời gian giao chỉ tiêu biên chế chậm nhất ngày 30/8 hàng năm và thời gian tổ chức thi tuyển công chức cố định vào tháng 11 hàng năm.

Bên cạnh đó, bổ sung quy định trước khi bổ nhiệm chính thức vào ngạch công chức bắt buộc phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước phù hợp với ngạch được bổ nhiệm.

Quy định cụ thể các chế tài xử lý đối với người tham gia công tác tuyển dụng và người tham gia dự tuyển công chức nếu phát hiện sai phạm thì trong 3 năm liên tiếp không được tham gia thi tuyển.

Hai là, sửa đổi khoản 4 Điều 20 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP theo hướng: “Các trường hợp đã có thời gian công tác trước đó phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng không thực hiện chế độ tập sự, còn lại các trường hợp khác thời gian công tác trước đó không phù hợp với vị trí việc làm được tuyển dụng, nhưng đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì phải thực hiện chế độ tập sự và được hưởng 100% mức lương đối với những trường hợp trên đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng hoặc lớn hơn thời gian tập sự…”.

Ba là, đảm bảo cán bộ, công chức thực hiện pháp luật về tuyển dụng công chức là những người có trình độ chuyên môn, kiến thức pháp luật và tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân. Ngay từ khi lựa chọn người để tham gia công tác tuyển dụng công chức cho cơ quan hành chính nhà nước phải có sự xem xét và cử người có khả năng, năng lực phù hợp với mục đích, yêu cầu của công tác tuyển dụng công chức, vì cán bộ, công chức là những người đại diện cho cơ quan nhà nước, để lựa chọn người có đức, có tài vào cơ quan để phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân.

Bốn là, phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn kịp thời đối với những vi phạm pháp luật trong hoạt động tuyển dụng công chức. Thông qua kết quả thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức và công dân. Thường xuyên tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác thi tuyển công chức và bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết cho người làm công tác thi tuyển; đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng công tác thi tuyển công chức.

ThS. Phạm Tuấn Doanh

Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – Bộ Nội vụ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.

Theo dõi chúng tôi trên: