Thứ sáu 16/01/2026 10:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về xét tuyển và trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, viên chức - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Theo quy định hiện hành, việc xét tuyển công chức, viên chức được quy định tại Điều 35, 36, 37, 38 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 20, 21, 22, 23, 24 Luật Viên chức năm 2010. Đến ngày 01/7/2020 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sẽ có hiệu lực thi hành. Theo đó, pháp luật quy định rõ căn cứ, nguyên tắc, điều kiện, phương thức và tổ chức thực hiện tuyển dụng, xác định rõ nguyên tắc tuyển dụng phải: Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm; ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.

1. Quy định hiện hành về xét tuyển và trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, viên chức


Để hướng dẫn cụ thể việc xét tuyển và trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, viên chức, hiện nay Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 161/2018/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2019 đang được thực hiện. Theo đó, Nghị định quy định chi tiết, cụ thể về nội dung và hình thức xét tuyển công chức, viên chức được thực hiện theo 02 vòng như sau: (i) Vòng 1: Kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn của người dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm đã đăng ký tại Phiếu đăng ký dự tuyển, nếu phù hợp thì người dự tuyển được tham dự vòng 02; (ii) Vòng 2: Phỏng vấn để kiểm tra về năng lực, trình độ chuyên môn của người dự tuyển; điểm phỏng vấn được tính theo thang điểm 100; thời gian phỏng vấn 30 phút; không thực hiện việc phúc khảo đối với kết quả phỏng vấn hoặc thực hành (khoản 6 Điều 1; khoản 5 Điều 2 Nghị định 161/2018/NĐ-CP). Như vậy, về cơ bản Nghị định số 161/NĐ-CP đã thể hiện được tinh thần của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức về việc đổi mới từ cơ chế tuyển dụng theo phương thức truyền thống (thi tập trung, cùng chung nội dung, hình thức thi) sang cơ chế tuyển dụng theo tiêu chuẩn chức danh gắn với vị trí việc làm. Đồng thời, góp phần tích cực nâng cao chất lượng tuyển dụng, phòng chống tiêu cực và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong quy trình tổ chức tuyển dụng.

Đối với trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức Nghị định 161/2018/NĐ-CP quy định rõ: Người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được tiếp nhận không qua thi tuyển vào công chức đối với các trường hợp sau: Có ít nhất 05 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (không kể thời gian tập sự, thử việc, nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn), gồm: Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và người làm công tác cơ yếu… (khoản 7 Điều 1).

Đối với trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức được xem xét tiếp nhận vào viên chức đối với các trường hợp sau: Có ít nhất 05 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (không kể thời gian tập sự, thử việc, nếu có thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần thì được cộng dồn), gồm: Người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; người hưởng lương trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và người làm công tác cơ yếu; cán bộ, công chức cấp xã… (khoản 7 Điều 2).

Tiếp đó, ngày 14/5/2019 Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BNV về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập (Thông tư số 03/2019/TT-BNV). Theo đó, Thông tư đưa ra Quy chế tổ chức xét tuyển công chức, viên chức, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức quy định rất chi tiết, cụ thể với nội dung về việc phỏng vấn, thực hành: (i) Thời gian chuẩn bị và trả lời câu hỏi phỏng vấn của mỗi thí sinh không quá 30 phút; (ii) Thời gian thực hành do Chủ tịch Hội đồng xét tuyển quyết định phù hợp với tính chất hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển; (iii) Khi chấm điểm phỏng vấn, thực hành, các thành viên chấm độc lập trên phiếu chấm điểm đối với từng thí sinh… (khoản 2 Điều 5 Quy chế).

Thêm vào đó, quy định rõ ràng về việc lưu trữ tài liệu của kỳ xét tuyển gồm: Các văn bản về tổ chức kỳ xét tuyển do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức, viên chức ký ban hành; các văn bản của Hội đồng xét tuyển; biên bản các cuộc họp Hội đồng xét tuyển; danh sách tổng hợp người dự tuyển; các biên bản giao nhận đề phỏng vấn hoặc thực hành (kèm theo đáp án), biên bản xác định tình trạng niêm phong đề phỏng vấn hoặc thực hành, biên bản vi phạm quy chế, nội quy xét tuyển (nếu có); đề gốc để phỏng vấn hoặc thực hành; bảng tổng hợp kết quả điểm phỏng vấn hoặc thực hành; kết quả xét tuyển; quyết định công nhận kết quả xét tuyển; biên bản giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có) và các loại văn bản khác liên quan đến kỳ xét tuyển.

Đặc biệt Thông tư số 03/2019/TT-BNV đưa ra nội quy kỳ tuyển dụng công chức, viên chức, thi nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức “chỉ được mang vào phòng thi bút viết, thước kẻ; không được mang vào phòng thi điện thoại di động, máy ghi âm, máy ảnh, máy vi tính, các phương tiện kỹ thuật thu, phát truyền tin, phương tiện sao lưu dữ liệu, thiết bị chứa đựng, truyền tải thông tin khác và các loại giấy tờ, tài liệu có liên quan đến nội dung thi…”.

Ngoài các văn bản nêu trên, còn có Quyết định số 546/2019/QĐ-BNV ngày 12/7/2019 của Bộ Nội vụ công bố thủ tục hành chính về lĩnh vực công chức, viên chức Bộ Nội vụ góp phần mạnh mẽ trong việc cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm được quyền và lợi ích của công chức, viên chức nói riêng.

2. Một số bất cập về xét tuyển và trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, viên chức

Thứ nhất, theo quy định tại khoản 6 Điều 1 và khoản 5 Điều 2 Nghị định 161/2019/NĐ-CP thì xét tuyển công chức, viên chức được thực hiện theo 02 vòng: Vòng 1- kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn theo yêu cầu vị trí việc làm tại Phiếu đăng ký dự tuyển; vòng 2 - phỏng vấn để kiểm tra về năng lực, trình độ chuyên môn của người dự tuyển. Nghị định quy định “không thực hiện việc phúc khảo đối với kết quả phỏng vấn hoặc thực hành”, trong khi đó, pháp luật hiện hành không quy định trong quá trình phỏng vấn hoặc thực hành phải có thiết bị ghi âm, ghi hình đối với người phỏng vấn và người thực hiện phỏng vấn. Hơn nữa, khi quy định về lưu trữ tài liệu không có quy định minh chứng, bằng chứng lưu trữ cho việc phỏng vấn hoặc thực hành đối với người tham gia xét tuyển công chức, viên chức (Điều 8 Thông tư số 03/2019/TT-BNV). Điều này, dễ dẫn đến hiện tượng tiêu cực, thiếu sự công bằng, minh bạch trong quá trình phỏng vấn.

Thứ hai, đối với trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức, thực tế nhiều người có kinh nghiệm, bằng cấp đáp ứng đủ yêu cầu để thực hiện việc tiếp nhận đối với công chức, viên chức gồm: (i) Có ít nhất 05 năm công tác ở vị trí làm việc; (ii) Yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng; (iii) Được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và (iv) Người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất đối với viên chức, đặc biệt đối với giáo viên hợp đồng hiện nay đó chính là điều kiện “người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập”. Bởi vì hiện nay, có những đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước mà chưa phải là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Điều này dẫn đến tình trạng viên chức có đủ điều kiện về nội dung (thời gian, trình độ, bảo hiểm) nhưng không đủ điều kiện về hình thức (đơn vị công tác). Do đó, quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp.

Thứ ba, pháp luật quy định về điều kiện, quy trình, quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm và việc xếp ngạch, bậc lương đối với công chức, viên chức được tiếp nhận trong trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, lại không có quy định việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, thời gian, địa điểm về nhu cầu tiếp nhận công chức, viên chức. Trên thực tế, có một số cơ quan, đơn vị trên cả nước đã thông báo công khai nhu cầu tiếp nhận công chức, viên chức về công tác tại đơn vị nhưng còn chiếm tỷ lệ thấp. Chính vì vậy, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức, viên chức được xem xét tiếp nhận không biết hoặc không có nhiều sự lựa chọn, chọn lọc đội ngũ công chức, viên chức đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đồng thời, người có nhu cầu chuyển công tác mặc dù có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhưng không được biết thông tin, tính cạnh tranh không được bảo đảm. Do đó, hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, thiếu khách quan là điều có thể xảy ra, đồng thời không đảm bảo được nguyên tắc công khai, minh bạch trong tuyển dụng.

Thứ tư, nếu như Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức quy định xét tuyển công chức gồm: Xét kết quả học tập của người dự tuyển và phỏng vấn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì Nghị định số 161/2018/NĐ-CP đã bỏ nội dung “xét kết quả học tập của người dự tuyển” mà chỉ kiểm tra điều kiện, tiêu chuẩn (vòng 1) và chuyển sang phỏng vấn (vòng 2 - nội dung mang tính chất quyết định có trúng tuyển hay không). Thêm vào đó, Điều 19 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định 03 đối tượng được xem xét tiếp nhận công chức là: (i) Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; (ii) Người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài; (iii) Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Đến nay, theo quy định hiện hành đã bỏ đối tượng (i) và (ii). Quy định này có thể sẽ “bỏ lọt” đối với người có tài năng, xuất sắc. Để khắc phục tình trạng này Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức đã bổ sung thêm hình thức xét tuyển với các trường hợp: Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng; người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương cử đi học... Điều này đã mở rộng cơ hội được tuyển vào công chức hơn đối với nhiều người.

Đối với việc xét tuyển viên chức, Điều 11 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức quy định nội dung xét tuyển viên chức có “xét kết quả học tập bao gồm điểm học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển”, tuy nhiên đến quy định hiện hành (Nghị định số 161/2019/NĐ-CP, Thông tư số 03/2019/TT-BNV không còn có quy định này). Thêm vào đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức có hiệu lực vào 01/7/2020 cũng không quy định. Điều này, vô hình trung làm cho cơ hội của người có tài năng, xuất sắc được tuyển vào viên chức trở nên hẹp hơn.

Thứ năm, trong Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định rõ có 03 hình thức tuyển dụng là thi tuyển, xét tuyển và tiếp nhận trong trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế, ở một số địa phương việc tổ chức các phương thức tuyển dụng chưa có sự đan xen nhau để lựa chọn được người có năng lực, đáp ứng được nhu cầu và vị trí việc làm. Đặc biệt, kể từ khi Nghị định số 161/2019/NĐ-CP có hiệu lực, một số địa phương chỉ thực hiện hình thức xét tuyển và tiếp nhận trong trường hợp đặc biệt.

3. Kiến nghị hoàn thiện trong xét tuyển công chức, viên chức và trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, viên chức

Một là, cần có quy định chặt chẽ trong văn bản quy pháp pháp luật để hướng dẫn thi hành, theo đó, quy định rõ trong quá trình phỏng vấn hoặc thực hành phải có thiết bị ghi âm, ghi hình đối với người phỏng vấn và người thực hiện phỏng vấn. Thêm vào đó, về lưu trữ tài liệu cần quy định rõ ràng về minh chứng, bằng chứng lưu trữ cho việc phỏng vấn hoặc thực hành đối với người tham gia và người thực hiện xét tuyển công chức, viên chức. Điều này sẽ đảm bảo được nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan trong quá trình phỏng vấn khi xét tuyển công chức, viên chức.

Hai là, đối với trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng viên chức, rào cản lớn nhất (đặc biệt với viên chức hợp đồng hiện nay), chính là điều kiện về hình thức (đơn vị công tác) phải là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp. Do đó, đề xuất quy định theo hướng như sau: “Người ký hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập hoặc đơn vị sự nghiệp ngoài công lập”.

Ba là, cần bổ sung quy định việc thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của cơ quan và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, thời gian, địa điểm về nhu cầu tiếp nhận công chức, viên chức. Điều này góp phần quan trọng trong việc lựa chọn người có năng lực, trình độ đáp ứng được yêu cầu, là cơ hộ mở cho công chức, viên chức.Đặc biệt, đảm bảo được nguyên tắc cạnh trong việc tiếp nhận công chức, viên chức.

Bốn là, đề xuất kế thừa nội dung tại điều 11 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức trong xét tuyển là xét đến cả yếu tố “kết quả học tập bao gồm điểm học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển”. Điều này, góp phần lựa chọn thêm được người có năng lực, người có tài năng trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

Năm là, cần linh hoạt đổi mới hình thức, phương thức tuyển dụng bằng cách đan xen thi tuyển và xét tuyển nhằm chọn đúng người có năng lực. Điều này hoàn toàn phù hợp tinh thần của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức nhằm nâng cao chất lượng đầu vào công chức, bảo đảm công khai, minh bạch, thiết thực, hiệu quả. Việc tuyển dụng không chỉ đơn thuần là hình thức hợp lý hóa vào biên chế mà đây là khâu quan trọng bổ sung nguồn nhân lực nền công vụ nói chung và cho cơ quan, đơn vị riêng. Do đó, cần tăng cường, nâng cao ý thức, trách nhiệm cho người làm công tác tuyển dụng và phải kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm liên quan đến tổ chức kỳ thi. Bên cạnh đó, cần phải có cơ chế kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ từ các khâu trong quy trình tuyển dụng.

ThS. Đèo Thị Thiết

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: