Thứ tư 18/03/2026 10:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ và một số kiến nghị hoàn thiện

Quyền của phụ nữ là một vấn đề mang tính thời đại. Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 cũng hướng tới mục tiêu bảo đảm quyền cho phụ nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập của đất nước hiện nay. Việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu song cũng còn những rào cản và khó khăn nhất định.Để phụ nữ có quyền bình đẳng thật sự trong lĩnh vực chính trị, trong thời gian tới, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị cần phối hợp chặt chẽ thực hiện các giải pháp đồng bộ, phù hợp.

1. Quyền chính trị của phụ nữ trong các văn kiện quốc tế và pháp luật Việt Nam

Kể từ khi Cương lĩnh hành động Bắc Kinh ra đời vào năm 1995 và được 189 nước ký kết tham gia tại Đại hội Phụ nữ thế giới lần thứ 4, trao quyền cho phụ nữ trở thành một giải pháp quan trọng. Pháp luật Việt Nam cũng luôn thể hiện sự quan tâm, bảo vệ cho quyền và lợi ích của người phụ nữ.

Thứ nhất, các văn kiện quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ: Trên thế giới đã có một hệ thống các văn kiện mang tính tổng quát cũng như các văn kiện liên quan đề cập đến vấn đề quyền phụ nữ và quyền chính trị của phụ nữ, trong đó có các văn kiện quy định rõ ràng về quyền chính trị của con người và quyền chính trị của phụ nữ. Quyền chính trị của con người đã được nhắc đến trong các văn bản pháp lý quốc tế như Hiến chương Liên Hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ năm 1952 và được thể hiện tập trung trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966.

Trong đó, các quyền chính trị của con người đã được nêu ngay trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948 bao gồm: Quyền tự do ý kiến và biểu đạt, được tự do giữ quan điểm của mình (Điều 19); quyền tự do lập hội và không bị ép buộc vào bất cứ hiệp hội nào (Điều 20); quyền tự do hội họp một cách hòa bình (Điều 20); quyền được tham gia vào đời sống chính trị. Theo đó, mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình một cách trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức đại diện và họ được lựa chọn (Điều 21). Ngoài ra, các quyền trên đều được tái khẳng định, cụ thể hóa trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966.

Thứ hai, văn bản pháp luật Việt Nam về quyền chính trị của phụ nữ: Đặt trong bối cảnh về bình đẳng giới thì quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền con người quan trọng nhất của phụ nữ được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, nó xác lập năng lực pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quản lý nhà nước và xã hội. Cụ thể:

- Hiến pháp:

+ Hiến pháp năm 1946 đã nêu hai quyền cơ bản và khái quát của công dân Việt Nam là “tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); “tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 7). Trong đó, quyền chính trị quan trọng hàng đầu của công dân mà Hiến pháp quy định là “quyền được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7) và quan trọng hơn, Hiến pháp năm 1946 cũng nói rõ việc tham gia đó “không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo” (Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946).

+ Hiến pháp năm 1959 đã kế thừa và bổ sung những điều cụ thể hơn về quyền chính trị của công dân Việt Nam. Trong đó, có quyền bầu cử và ứng cử một cách bình đẳng, quyền bãi miễn, quyền khiếu nại và tố cáo cũng như nhấn mạnh việc bảo đảm tính pháp lý cho các quyền chính trị của công dân Việt Nam.

+ Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân như một nguyên tắc hiến định của việc xác lập các quyền của công dân. Hiến pháp cũng quy định thêm quyền chính trị mới là quyền tham gia quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội.

+ Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”. Hiến pháp quy định cụ thể và rõ ràng hơn về các quyền chính trị cũng như sự bảo đảm của cả hệ thống chính trị cho việc thực hiện các quyền chính trị của công dân một cách nghiêm túc và công bằng nhất.

+ Hiến pháp năm 2013 nêu rõ, công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

- Luật Bình đẳng giới năm 2006: Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 khẳng định, phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong những lĩnh vực và vấn đề cụ thể như: (i) Tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; (ii) Tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; (iii) Tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; (iv) Tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức. Theo đó, có thể thấy hai biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, đó là bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước.

Ngoài ra, để bảo đảm sự tuân thủ các quy định về quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ trên thực tế, Điều 40 Luật Bình đẳng giới năm 2006 đề cập các hành vi bị coi là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực, trong đó, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: (i) Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới; (ii) Không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới; (iii) Đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

- Tham gia các công ước về quyền chính trị của phụ nữ: Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế nhằm cam kết ủng hộ phụ nữ tham chính và nỗ lực giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị, cụ thể như: (i) Tích cực tham gia Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với 12 lĩnh vực quan tâm, trong đó có vấn đề ra quyết định và cơ chế thể chế, bên cạnh các lĩnh vực quan tâm khác như nghèo đói, giáo dục và đào tạo, sức khỏe, bạo lực, xung đột vũ trang, kinh tế, quyền con người, truyền thông, môi trường và trẻ em gái; (ii) Ký kết, tham gia Chương trình nghị sự thế giới về phát triển bền vững, trong đó có Mục tiêu 5: Trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái trên toàn cầu, trong đó có chỉ tiêu bảo đảm phụ nữ có quyền tham gia đầy đủ, hiệu quả, bình đẳng các cơ hội lãnh đạo và ra quyết định.

Như vậy, Việt Nam có khung pháp lý thúc đẩy bình đẳng giới tương đối vững chắc, trong đó có các quy định thúc đẩy bình đẳng giới về mặt chính trị.

2. Thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam

2.1. Thành tựu trong việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam thời gian qua

Hầu hết, các quốc gia trên thế giới đều coi việc thực hiện quyền chính trị là thước đo quan trọng nhất của bình đẳng giới. Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị gồm quyền được bầu cử, ứng cử, tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn khoảng cách khá xa giữa các quyền được quy định trong luật và thực tiễn, khoảng cách chênh lệch giữa nam giới và nữ giới trong lĩnh vực này.

Ở Việt Nam, để thúc đẩy phụ nữ tham chính, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều giải pháp quan trọng như khuyến khích phụ nữ tham chính, có các chính sách hỗ trợ, đưa thêm phụ nữ vào danh sách ứng cử, khuyến khích đề bạt thêm phụ nữ vào Đảng... Nhằm nâng cao năng lực cho các nữ ứng viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, chuẩn bị tốt cho kỳ bầu cử, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Bộ Ngoại giao đã tổ chức nhiều lớp tập huấn với nội dung hữu ích, trang bị cho các ứng cử viên nữ kiến thức về hệ thống chính trị Việt Nam, về quy trình bầu cử, xây dựng chương trình hành động, kỹ năng chuẩn bị cho hội nghị tiếp xúc cử tri và trình bày chương trình hành động... Đặc biệt Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới. Cụ thể, Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định, bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội, xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp... Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng quy định, phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử cũng như các cơ chế để bảo đảm phụ nữ được thực hiện những quyền đó.

2.2. Một số khó khăn trong việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay

Một là, định kiến về văn hóa - xã hội và vai trò giới truyền thống. Ở Việt Nam vẫn tồn tại định kiến liên quan đến khả năng tham chính và năng lực lãnh đạo của phụ nữ như việc cho rằng phụ nữ thiếu kiên quyết, dứt điểm trong việc ra quyết định hay quan niệm “nam trưởng, nữ phó” khiến phụ nữ ít được ủng hộ vào các vị trí lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn. Bên cạnh đó, quan niệm về vai trò giới truyền thống cho rằng, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc nội trợ, chăm sóc con cái, gắn chặt họ với thiên chức của người mẹ, người vợ, người con, khiến vị trí lãnh đạo trên chính trường của họ thường đứng sau nam giới. Thông thường, họ phải rất nỗ lực làm việc mới được thừa nhận.

Hai là, khó khăn trong tiếp cận các chương trình giáo dục của trẻ em gái, đặc biệt là ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa. Nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng, mặc dù Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến việc bảo đảm quyền được giáo dục cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái ở vùng sâu, vùng xa nhưng việc tiếp cận các cơ hội, các chương trình giáo dục của trẻ em gái còn những hạn chế nhất định.

Ba là, rào cản về thể chế có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tham chính của phụ nữ. Sự khác biệt trong độ tuổi nghỉ hưu giữa nam giới và phụ nữ đã hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo cao cấp, hạn chế cơ hội quy hoạch, bổ nhiệm của phụ nữ. Bên cạnh đó, tỷ lệ phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng còn thấp; sự thiếu hụt cán bộ nữ trong một số lĩnh vực quan trọng khiến việc hoạch định và thực thi chính sách đối với nữ giới còn hạn chế.

3. Một số giải pháp nâng cao quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam

Thứ nhất, các khuyến nghị chung: Nâng cao vị thế của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội nói chung cũng như trong thực hiện bình đẳng giới nói riêng. Các tổ chức quốc tế và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã đưa ra khuyến nghị và giải pháp để triển khai thực hiện từ tất cả các cấp, các ngành, địa phương cũng như với nhận thức của mỗi thành viên trong xã hội và chính bản thân người phụ nữ, cụ thể: (i) Cần có nhiều nguồn lực hơn để nâng cao nhận thức về giới cho toàn xã hội và tập trung vào việc thực hiện, giám sát thực hiện Luật Bình đẳng giới; (ii) Tăng cường sự tham gia của nam giới khi giải quyết các vấn đề về giới. Điều này đòi hỏi sự tham gia của các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ...; (iii) Tăng cường nghiên cứu, phân tích và theo dõi tình hình thực hiện bình đẳng giới cho phụ nữ nói chung và thực hiện quyền chính trị của phụ nữ nói riêng; (iv) Quy định tuổi nghỉ hưu bắt buộc cho cả nam và nữ là như nhau theo tinh thần Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW); (v) Xây dựng năng lực để phụ nữ được trao quyền và tham gia vào đời sống chính trị xã hội của đất nước.

Thứ hai, các giải pháp định hướng chung: Theo tác giả, cần tập trung làm tốt một số nhóm giải pháp sau đây để từng bước thúc đẩy và cải thiện sự phát triển về quyền tham chính của phụ nữ trong thời gian tới bao gồm:

- Nhóm giải pháp về giáo dục: Đảng và Nhà nước cần xây dựng và thiết lập cơ chế bảo đảm nền giáo dục công bằng và bình đẳng cho cả nam và nữ, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục, học tập đầy đủ và toàn diện của đối tượng là học sinh nữ, đặt ra các chính sách ưu tiên và bắt buộc trong giáo dục đối với nữ giới. Có trí thức, được học tập và hiểu biết, được trang bị đủ kiến thức và kỹ năng thì nữ giới mới có thể nhìn nhận lại vai trò, vị trí, giá trị bản thân, mạnh dạn và tự tin tham gia vào hoạt động chính trị - xã hội, đấu tranh để đòi hỏi quyền lợi chính đáng mà họ phải được thụ hưởng, từng bước tiến đến xóa bỏ bất bình đẳng nam, nữ trên mọi lĩnh vực.

- Nhóm giải pháp về chủ trương, chính sách, xây dựng hệ thống pháp luật: Có thể thấy, nữ giới chiếm tỷ lệ hơn 50% tổng dân số nước ta. Chính vì vậy, cần chú trọng việc xây dựng và ban hành những chủ trương, chính sách phù hợp và hiệu quả dành cho nhóm đối tượng là lao động nữ; đồng thời thiết lập những chế tài hợp lý, đủ sức răn đe, nhằm xử lý các vi phạm cản trở sự phát triển và tước đoạt cơ hội làm việc, tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, thăng tiến và phát triển của cán bộ nữ.

- Nhóm giải pháp về tuyên truyền, vận động: Đây là nhóm giải pháp cần được tiến hành thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian nhất định nhằm từng bước thay đổi nhận thức của gia đình, cộng đồng và xã hội về vai trò của phụ nữ. Chỉ khi thay đổi được nhận thức của những chủ thể này thì ý thức của toàn xã hội mới có thể chuyển biến mạnh mẽ về cách nhìn nhận, có thái độ đúng đắn, ủng hộ quyền tham chính của phụ nữ, tạo điều kiện và cơ hội khuyến khích nữ giới phát triển.

- Nhóm giải pháp về tài chính: Cần xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp đối với trẻ em gái và phụ nữ trong thụ hưởng giáo dục, trong khám, chữa bệnh.

Thứ ba, các giải pháp cụ thể: (i) Cần xây dựng và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về đội ngũ cán bộ ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương; (ii) Xây dựng, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện tốt các chính sách nhằm phát triển cán bộ nữ trong lãnh đạo, quản lý; (iii) Huy động nguồn lực và sự tham gia của các cơ quan có trách nhiệm trong toàn hệ thống chính trị, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ để triển khai thực hiện thành công các dự án trọng tâm của Chương trình quốc gia về bình đẳng giới; (iv) Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế (đa phương, song phương, phi Chính phủ) trong công tác bình đẳng giới và vận động nguồn lực hỗ trợ việc triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

Để thực hiện được các giải pháp và khuyến nghị nêu trên, điều quan trọng hơn hết là cần nâng cao vai trò của Chính phủ và các tổ chức có chức năng hoạt động bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và quyền chính trị của phụ nữ ở nước ta. Đó là vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng như các cơ quan có thẩm quyền khác.

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, những năm qua, Việt Nam đã có nhiều hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới. Về cơ bản, phụ nữ và nam giới đã có vị trí và vai trò ngang nhau, được hưởng những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ quyền con người, được phát huy năng lực đóng góp cho sự phát triển của cộng đồng.

ThS. Nguyễn Thanh Quyên

Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Động (2006), Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

2. Đỗ Kim Tiên (2018), “Chính sách, pháp luật Việt Nam về sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 19 (371).

3. Võ Khánh Vinh (2011), Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và chính trị, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

4. UNIFEM - Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên Hợp quốc (2009), Giới thiệu tóm tắt về CEDAW, Hà Nội.

5. Bộ Ngoại giao và UNDP (2012), Chương trình lãnh đạo nữ Cambrige - Việt Nam: Nâng cao năng lực cho phụ nữ trong khu vực nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (EOWP), http://undp.org/30282_Factsheet_Women_Political_Representation_in_Vietnam_VN.pdf.

6. Vũ Thị Hoa (2018), Nữ đại biểu Quốc hội - Minh chứng sinh động cho tiến trình bình đẳng giới ở Việt Nam, https://moha.gov.vn/congtaccanbonu/binhdanggioi/nu-dai-bieu-quoc-hoi-minh-chung-sinh-dong-cho-tien-trinh-binh-dang-gioi-o-viet-nam-39958.html.

7. Phạm Thị Hương (2016), Thực tiễn hơn 25 năm thực hiện công ước CEDAW tại Việt Nam, https://cvdvn.net/2016/01/07/thuc-tien-hon-25-nam-thuc-hien-cong-uoc-cedaw-o-viet-nam/.

8. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/819812/tang-cuong-su-tham-gia-cua-phu-nu-trong-he-thong-chinh-tri-cac-cap-o-nuoc-ta-trong-thoi-gian-toi.aspx.

9. https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/quyen-tham-chinh-cua-phu-nu-tai-viet-nam-hien-nay-75216.htm.

10. https://hnmu.edu.vn/vi-su-tien-bo-cua-phu-nu/binh-dang-gioi-la-gi-va-tai-sao-chung-ta-can-binh-dang-gioi.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: