Thứ bảy 07/02/2026 20:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính Việt Nam

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Trong tố tụng hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đây là một nguyên tắc tố tụng quan trọng được ghi nhận tại Điều 9 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Cung cấp tài liệu, chứng cứ vừa là quyền, đồng thời, cũng là nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính. Dưới góc độ quyền, cung cấp tài liệu, chứng cứ là quyền tố tụng đặc biệt quan trọng để đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng hành chính.

1.1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính

Theo quy định tại khoản 5 Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong từng giai đoạn tố tụng, mức độ và điều kiện thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ là khác nhau.

Thứ nhất, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính:

Là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn trọng tâm của hoạt động tố tụng hành chính[1]. Trong giai đoạn này, các yêu cầu của đương sự được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện. Vì thế, việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong đó, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa. Vì thế, trong giai đoạn này, đương sự có toàn quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính có thể yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính, thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính[2]. Như vậy, trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật Tố tụng hành chính, đối với tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp khi chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với những tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.

Thứ hai, trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính:

Với tính chất là thủ tục xét xử lại nên quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính có những giới hạn nhất định so với giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự chỉ được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp sau đây: (i) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng; (ii) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Quy định này vừa bảo đảm quyền tranh tụng của các đương sự và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính. Bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 219, Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới[3]. Như vậy, bên cạnh các tài liệu, chứng cứ được cung cấp theo Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính.

Thứ ba, trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính:

Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vì thế, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở các thủ tục này phải tuân thủ những điều kiện nhất định. Theo khoản 1 Điều 259 Luật Tố tụng hành chính, đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Vì thế, đương sự chỉ có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và các tài liệu, chứng cứ này phải chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vừa phù hợp với tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo đảm hiệu lực của hoạt động xét xử vụ án hành chính.

1.2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự

Nhằm bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hành chính quy định cụ thể về các biện pháp để đương sự thu thập chứng cứ tại khoản 1 Điều 84. Theo quy định này, đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng. Ngoài ra, đương sự có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản. Bên cạnh đó, tài liệu, chứng cứ trong vụ án hành chính có thể do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau lưu giữ, quản lý. Theo Điều 84 và Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án. Nếu trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ hoặc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được.

2. Một số bất cập, hạn chế trong quy định về quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, về thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ:

Thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ là một trong những quy định mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Trước đây, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2010 không quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Nội dung này được nhận định là nhằm bảo đảm tính linh hoạt tối đa cũng như sự bình đẳng cho các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tranh tụng hành chính; đồng thời, giúp cho Tòa án có đủ chứng cứ giải quyết đúng đắn vụ án[4]. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm bên bị kiện thực hiện nghĩa vụ này, pháp luật tố tụng hành chính cần giới hạn thời gian cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ[5]. Thực tiễn cho thấy, việc không quy định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đã dẫn đến sự lạm dụng của các đương sự, nhất là người bị kiện làm vụ án hành chính bị kéo dài[6]. Ngoài ra, thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ là nội dung được pháp Luật Tố tụng hành chính nhiều quốc gia quy định[7]. Vì thế, quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là hoàn toàn hợp lý và cần thiết nhằm bảo đảm trách nhiệm của các đương sự, hạn chế kéo dài quá trình tố tụng, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa đưa ra cơ sở để xác định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Hạn chế này có thể dẫn đến sự cảm tính và không thống nhất của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trong việc ấn định thời hạn, gây khó khăn cho đương sự trong việc thu thập và giao nộp tài liệu, chứng cứ. Vì thế, Luật Tố tụng hành chính cần quy định nguyên tắc xác định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ. Tác giả cho rằng, trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính về thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự và Tòa án[8], thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án tối thiểu là 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án nhưng không quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Hiện nay, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hành chính được Luật Tố tụng hành chính chia làm hai giai đoạn là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định (không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm) và sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ở đây, do thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nên tùy theo từng trường hợp, thời hạn này hoàn toàn có thể được ấn định kết thúc trước khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Từ đó có thể phát sinh trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ được Tòa án yêu cầu khi đã hết thời hạn ấn định nhưng trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính chưa quy định về cách thức xử lý trong trường hợp này. Để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh của đương sự nói chung và đương sự nó riêng, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Luật Tố tụng hành chính chỉ cần quy định việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ ở hai thời điểm là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ấn định và hết thời hạn được ấn định.

Thứ hai, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp:

Bên cạnh thời hạn cung cấp, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp trong từng giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự. Trong đó, đối với các tài liệu, chứng cứ Tòa án yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp trong thời hạn được ấn định. Đối với các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án không yêu cầu phải giao nộp hoặc các tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án thì có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, trong giai đoạn chuẩn tại phiên tòa sơ thẩm hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Ở thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính, bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, theo quy định tại Điều 219 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trong trường hợp đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính. Do pháp luật chưa hướng dẫn như thế nào là chứng cứ mới nên chứng cứ mới có thể hiểu là: (i) Bất cứ chứng cứ nào chưa được đương sự giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm hoặc (ii) Là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm. Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, có thể là chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp và cả những chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng họ đã không giao nộp. Trong trường hợp chấp nhận chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng đương sự không giao nộp và không có lý do chính đáng sẽ mâu thuẫn với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính và làm cho quy định về thời hạn gian nộp tài liệu, chứng cứ tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính trở nên vô nghĩa. Trong trường hợp chứng cứ mới được hiểu theo nghĩa thứ hai, đó là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, điều này sẽ trùng lắp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính. Ngoài ra, trong trường hợp này, khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm sẽ ảnh hưởng đến quyền tranh tụng của các đương sự khác và hiệu lực của hoạt động xét xử sơ thẩm. Như vậy, quy định tại Điều 219 có sự chồng chéo, mâu thuẫn với Điều 227 của Luật và không hợp lý. Vì thế, để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính, Điều 219 Luật Tố tụng hành chính cần được bãi bỏ.

Ngoài ra, đối với những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu giao nộp, đương sự chỉ có thể giao nộp trong thời hạn được ấn định. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đương sự có quyền cung cấp những tài liệu, chứng cứ này khi có lý do chính đáng. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa hướng dẫn như thế nào là “lý do chính đáng”. Vì thế, Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể về “lý do chính đáng” mà đương sự có thể cung cấp các tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu nhưng họ đã không thể nộp trong thời hạn ấn định.

Thứ ba, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được:

Luật Tố tụng hành chính quy định các cấp độ khác nhau để đương sự có thể thu thập được tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý. Đương sự có thể tự mình thu thập bằng những biện pháp được pháp luật quy định. Nếu tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ, quản lý, trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.

Trong tố tụng hành chính, tài liệu, chứng cứ liên quan đến tính có căn cứ và hợp pháp của đối tượng khởi kiện chủ yếu thuộc quyền lưu giữ, quản lý của người bị kiện hoặc các cơ quan nhà nước khác. Vì thế, quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự, đặc biệt là người khởi kiện có thể thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trong đó, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được có vai trò rất quan trọng. Theo khoản 2 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính đó là trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, giữa khoản Điều 84 và Điều 93 Luật Tố tụng hành chính có sự không thống nhất và mâu thuẫn về nội dung này. Trong đó, khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính quy định về những biện pháp đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ. Trong các biện pháp được liệt kê bao gồm biện pháp yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu. Ngoài ra, biện pháp yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản cũng thuộc các biện pháp do đương sự tự mình thu thập chứng cứ[9]. Vì thế, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của các đương sự, khoản Điều 84 Luật Tố tụng hành chính cần bỏ quy định tại điểm e và điểm g vì đây là những biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ không phải do đương sự tự mình thực hiện.

Nguyễn Hoàng Yến
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Thị Hà (2017), Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 42.

[2] Theo quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này;

2. 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này;

3. Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

[3] Theo Điều 219 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Nguyễn Thị Thu Hương (2011), “Bước tiến quan trọng về quy định chứng cứ, chứng minh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010”, Tạp chí Nghề luật, số 4, tr. 24.

[5] Lê Ngọc Duy (2020), Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, tr. 136.

[6] Theo Báo cáo số 39/TANDTC ngày 19/12/2012 của Tòa án nhân dân tối cao Báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án.

[7] Ở Ukraine, theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng tòa án hành chính, đương sự phải nộp chứng cứ cùng với việc nộp yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, theo Điều 80, trong trường hợp không thể cung cấp chứng cứ một cách độc lập, đương sự có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án cung cấp chứng cứ. Yêu cầu như vậy phải được nộp trong khoảng thời gian nộp đơn. Nếu một yêu cầu như vậy được nộp chậm thời hạn, Tòa án sẽ bác bỏ yêu cầu đó, trừ khi người nộp đơn biện minh cho việc không thể nộp đơn trong thời hạn đã định vì những lý do nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hành chính của Estonia, trong thủ tục tố tụng sơ bộ, Tòa án đặt ra một thời hạn cho những người tham gia tố tụng để cung cấp bằng chứng. Nếu hết thời hạn mà vật chứng minh chưa được nộp, hoặc đơn yêu cầu thu thập bằng chứng chưa được thực hiện thì việc dựa vào vật chứng cứ sau đó chỉ được phép nếu đáp ứng các điều kiện tại mục 4 Điều 51 của Bộ luật. Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hành chính của Nga, Tòa án ban hành một quyết định về trình tự xuất trình chứng cứ, quy định thời hạn và cách thức xuất trình chứng cứ.

[8] Theo khoản 1 Điều 93 của Luật Tố tụng hành chính, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu biết. Theo khoản 3 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án.

[9] Theo điểm e và điểm g khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: