Thứ năm 19/03/2026 13:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính Việt Nam

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Trong tố tụng hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đây là một nguyên tắc tố tụng quan trọng được ghi nhận tại Điều 9 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Cung cấp tài liệu, chứng cứ vừa là quyền, đồng thời, cũng là nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính. Dưới góc độ quyền, cung cấp tài liệu, chứng cứ là quyền tố tụng đặc biệt quan trọng để đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng hành chính.

1.1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính

Theo quy định tại khoản 5 Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong từng giai đoạn tố tụng, mức độ và điều kiện thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ là khác nhau.

Thứ nhất, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính:

Là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn trọng tâm của hoạt động tố tụng hành chính[1]. Trong giai đoạn này, các yêu cầu của đương sự được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện. Vì thế, việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong đó, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa. Vì thế, trong giai đoạn này, đương sự có toàn quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính có thể yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính, thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính[2]. Như vậy, trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật Tố tụng hành chính, đối với tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp khi chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với những tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.

Thứ hai, trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính:

Với tính chất là thủ tục xét xử lại nên quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính có những giới hạn nhất định so với giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự chỉ được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp sau đây: (i) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng; (ii) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Quy định này vừa bảo đảm quyền tranh tụng của các đương sự và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính. Bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 219, Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới[3]. Như vậy, bên cạnh các tài liệu, chứng cứ được cung cấp theo Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính.

Thứ ba, trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính:

Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vì thế, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở các thủ tục này phải tuân thủ những điều kiện nhất định. Theo khoản 1 Điều 259 Luật Tố tụng hành chính, đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Vì thế, đương sự chỉ có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và các tài liệu, chứng cứ này phải chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vừa phù hợp với tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo đảm hiệu lực của hoạt động xét xử vụ án hành chính.

1.2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự

Nhằm bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hành chính quy định cụ thể về các biện pháp để đương sự thu thập chứng cứ tại khoản 1 Điều 84. Theo quy định này, đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng. Ngoài ra, đương sự có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản. Bên cạnh đó, tài liệu, chứng cứ trong vụ án hành chính có thể do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau lưu giữ, quản lý. Theo Điều 84 và Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án. Nếu trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ hoặc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được.

2. Một số bất cập, hạn chế trong quy định về quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, về thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ:

Thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ là một trong những quy định mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Trước đây, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2010 không quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Nội dung này được nhận định là nhằm bảo đảm tính linh hoạt tối đa cũng như sự bình đẳng cho các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tranh tụng hành chính; đồng thời, giúp cho Tòa án có đủ chứng cứ giải quyết đúng đắn vụ án[4]. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm bên bị kiện thực hiện nghĩa vụ này, pháp luật tố tụng hành chính cần giới hạn thời gian cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ[5]. Thực tiễn cho thấy, việc không quy định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đã dẫn đến sự lạm dụng của các đương sự, nhất là người bị kiện làm vụ án hành chính bị kéo dài[6]. Ngoài ra, thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ là nội dung được pháp Luật Tố tụng hành chính nhiều quốc gia quy định[7]. Vì thế, quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là hoàn toàn hợp lý và cần thiết nhằm bảo đảm trách nhiệm của các đương sự, hạn chế kéo dài quá trình tố tụng, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa đưa ra cơ sở để xác định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Hạn chế này có thể dẫn đến sự cảm tính và không thống nhất của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trong việc ấn định thời hạn, gây khó khăn cho đương sự trong việc thu thập và giao nộp tài liệu, chứng cứ. Vì thế, Luật Tố tụng hành chính cần quy định nguyên tắc xác định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ. Tác giả cho rằng, trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính về thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự và Tòa án[8], thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án tối thiểu là 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án nhưng không quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Hiện nay, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hành chính được Luật Tố tụng hành chính chia làm hai giai đoạn là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định (không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm) và sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ở đây, do thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nên tùy theo từng trường hợp, thời hạn này hoàn toàn có thể được ấn định kết thúc trước khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Từ đó có thể phát sinh trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ được Tòa án yêu cầu khi đã hết thời hạn ấn định nhưng trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính chưa quy định về cách thức xử lý trong trường hợp này. Để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh của đương sự nói chung và đương sự nó riêng, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Luật Tố tụng hành chính chỉ cần quy định việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ ở hai thời điểm là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ấn định và hết thời hạn được ấn định.

Thứ hai, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp:

Bên cạnh thời hạn cung cấp, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp trong từng giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự. Trong đó, đối với các tài liệu, chứng cứ Tòa án yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp trong thời hạn được ấn định. Đối với các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án không yêu cầu phải giao nộp hoặc các tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án thì có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, trong giai đoạn chuẩn tại phiên tòa sơ thẩm hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Ở thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính, bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, theo quy định tại Điều 219 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trong trường hợp đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính. Do pháp luật chưa hướng dẫn như thế nào là chứng cứ mới nên chứng cứ mới có thể hiểu là: (i) Bất cứ chứng cứ nào chưa được đương sự giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm hoặc (ii) Là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm. Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, có thể là chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp và cả những chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng họ đã không giao nộp. Trong trường hợp chấp nhận chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng đương sự không giao nộp và không có lý do chính đáng sẽ mâu thuẫn với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính và làm cho quy định về thời hạn gian nộp tài liệu, chứng cứ tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính trở nên vô nghĩa. Trong trường hợp chứng cứ mới được hiểu theo nghĩa thứ hai, đó là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, điều này sẽ trùng lắp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính. Ngoài ra, trong trường hợp này, khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm sẽ ảnh hưởng đến quyền tranh tụng của các đương sự khác và hiệu lực của hoạt động xét xử sơ thẩm. Như vậy, quy định tại Điều 219 có sự chồng chéo, mâu thuẫn với Điều 227 của Luật và không hợp lý. Vì thế, để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính, Điều 219 Luật Tố tụng hành chính cần được bãi bỏ.

Ngoài ra, đối với những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu giao nộp, đương sự chỉ có thể giao nộp trong thời hạn được ấn định. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đương sự có quyền cung cấp những tài liệu, chứng cứ này khi có lý do chính đáng. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa hướng dẫn như thế nào là “lý do chính đáng”. Vì thế, Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể về “lý do chính đáng” mà đương sự có thể cung cấp các tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu nhưng họ đã không thể nộp trong thời hạn ấn định.

Thứ ba, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được:

Luật Tố tụng hành chính quy định các cấp độ khác nhau để đương sự có thể thu thập được tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý. Đương sự có thể tự mình thu thập bằng những biện pháp được pháp luật quy định. Nếu tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ, quản lý, trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.

Trong tố tụng hành chính, tài liệu, chứng cứ liên quan đến tính có căn cứ và hợp pháp của đối tượng khởi kiện chủ yếu thuộc quyền lưu giữ, quản lý của người bị kiện hoặc các cơ quan nhà nước khác. Vì thế, quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự, đặc biệt là người khởi kiện có thể thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trong đó, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được có vai trò rất quan trọng. Theo khoản 2 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính đó là trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, giữa khoản Điều 84 và Điều 93 Luật Tố tụng hành chính có sự không thống nhất và mâu thuẫn về nội dung này. Trong đó, khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính quy định về những biện pháp đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ. Trong các biện pháp được liệt kê bao gồm biện pháp yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu. Ngoài ra, biện pháp yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản cũng thuộc các biện pháp do đương sự tự mình thu thập chứng cứ[9]. Vì thế, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của các đương sự, khoản Điều 84 Luật Tố tụng hành chính cần bỏ quy định tại điểm e và điểm g vì đây là những biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ không phải do đương sự tự mình thực hiện.

Nguyễn Hoàng Yến
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Thị Hà (2017), Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 42.

[2] Theo quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này;

2. 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này;

3. Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

[3] Theo Điều 219 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Nguyễn Thị Thu Hương (2011), “Bước tiến quan trọng về quy định chứng cứ, chứng minh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010”, Tạp chí Nghề luật, số 4, tr. 24.

[5] Lê Ngọc Duy (2020), Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, tr. 136.

[6] Theo Báo cáo số 39/TANDTC ngày 19/12/2012 của Tòa án nhân dân tối cao Báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án.

[7] Ở Ukraine, theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng tòa án hành chính, đương sự phải nộp chứng cứ cùng với việc nộp yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, theo Điều 80, trong trường hợp không thể cung cấp chứng cứ một cách độc lập, đương sự có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án cung cấp chứng cứ. Yêu cầu như vậy phải được nộp trong khoảng thời gian nộp đơn. Nếu một yêu cầu như vậy được nộp chậm thời hạn, Tòa án sẽ bác bỏ yêu cầu đó, trừ khi người nộp đơn biện minh cho việc không thể nộp đơn trong thời hạn đã định vì những lý do nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hành chính của Estonia, trong thủ tục tố tụng sơ bộ, Tòa án đặt ra một thời hạn cho những người tham gia tố tụng để cung cấp bằng chứng. Nếu hết thời hạn mà vật chứng minh chưa được nộp, hoặc đơn yêu cầu thu thập bằng chứng chưa được thực hiện thì việc dựa vào vật chứng cứ sau đó chỉ được phép nếu đáp ứng các điều kiện tại mục 4 Điều 51 của Bộ luật. Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hành chính của Nga, Tòa án ban hành một quyết định về trình tự xuất trình chứng cứ, quy định thời hạn và cách thức xuất trình chứng cứ.

[8] Theo khoản 1 Điều 93 của Luật Tố tụng hành chính, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu biết. Theo khoản 3 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án.

[9] Theo điểm e và điểm g khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: