Thứ tư 26/08/2026 04:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính Việt Nam

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

Bài viết phân tích nội dung quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, đánh giá những hạn chế và đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính.

1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Trong tố tụng hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đây là một nguyên tắc tố tụng quan trọng được ghi nhận tại Điều 9 Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Cung cấp tài liệu, chứng cứ vừa là quyền, đồng thời, cũng là nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính. Dưới góc độ quyền, cung cấp tài liệu, chứng cứ là quyền tố tụng đặc biệt quan trọng để đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tố tụng hành chính.

1.1. Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hành chính

Theo quy định tại khoản 5 Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong từng giai đoạn tố tụng, mức độ và điều kiện thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ là khác nhau.

Thứ nhất, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính:

Là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn trọng tâm của hoạt động tố tụng hành chính[1]. Trong giai đoạn này, các yêu cầu của đương sự được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện. Vì thế, việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong đó, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử vụ án hành chính tại phiên tòa. Vì thế, trong giai đoạn này, đương sự có toàn quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính có thể yêu cầu đương sự nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Theo quy định tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính, thời gian giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính[2]. Như vậy, trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định, đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Luật Tố tụng hành chính, đối với tài liệu, chứng cứ Tòa án đã yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp khi chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đối với những tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự phải giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.

Thứ hai, trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính:

Với tính chất là thủ tục xét xử lại nên quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ trong thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính có những giới hạn nhất định so với giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính. Theo quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự chỉ được quyền giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm trong những trường hợp sau đây: (i) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng; (ii) Những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Quy định này vừa bảo đảm quyền tranh tụng của các đương sự và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính. Bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 219, Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới[3]. Như vậy, bên cạnh các tài liệu, chứng cứ được cung cấp theo Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính.

Thứ ba, trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hành chính:

Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, vì thế, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở các thủ tục này phải tuân thủ những điều kiện nhất định. Theo khoản 1 Điều 259 Luật Tố tụng hành chính, đương sự được quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu những tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Vì thế, đương sự chỉ có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và các tài liệu, chứng cứ này phải chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc những tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định này vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vừa phù hợp với tính chất của giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo đảm hiệu lực của hoạt động xét xử vụ án hành chính.

1.2. Các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự

Nhằm bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự trong tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hành chính quy định cụ thể về các biện pháp để đương sự thu thập chứng cứ tại khoản 1 Điều 84. Theo quy định này, đương sự có quyền tự mình thu thập tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, thông điệp dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng. Ngoài ra, đương sự có quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng; yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản. Bên cạnh đó, tài liệu, chứng cứ trong vụ án hành chính có thể do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác nhau lưu giữ, quản lý. Theo Điều 84 và Điều 55 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án. Nếu trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, thì đương sự có quyền đề nghị Tòa án ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ hoặc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được.

2. Một số bất cập, hạn chế trong quy định về quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, về thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ:

Thời hạn cung cấp tài liệu, chứng cứ là một trong những quy định mới của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Trước đây, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2010 không quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Nội dung này được nhận định là nhằm bảo đảm tính linh hoạt tối đa cũng như sự bình đẳng cho các bên đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tranh tụng hành chính; đồng thời, giúp cho Tòa án có đủ chứng cứ giải quyết đúng đắn vụ án[4]. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm bên bị kiện thực hiện nghĩa vụ này, pháp luật tố tụng hành chính cần giới hạn thời gian cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ[5]. Thực tiễn cho thấy, việc không quy định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đã dẫn đến sự lạm dụng của các đương sự, nhất là người bị kiện làm vụ án hành chính bị kéo dài[6]. Ngoài ra, thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ là nội dung được pháp Luật Tố tụng hành chính nhiều quốc gia quy định[7]. Vì thế, quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là hoàn toàn hợp lý và cần thiết nhằm bảo đảm trách nhiệm của các đương sự, hạn chế kéo dài quá trình tố tụng, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa đưa ra cơ sở để xác định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ. Hạn chế này có thể dẫn đến sự cảm tính và không thống nhất của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trong việc ấn định thời hạn, gây khó khăn cho đương sự trong việc thu thập và giao nộp tài liệu, chứng cứ. Vì thế, Luật Tố tụng hành chính cần quy định nguyên tắc xác định thời hạn cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ. Tác giả cho rằng, trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính về thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự và Tòa án[8], thời hạn đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án tối thiểu là 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án nhưng không quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Hiện nay, quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh ở thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hành chính được Luật Tố tụng hành chính chia làm hai giai đoạn là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định (không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm) và sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ở đây, do thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nên tùy theo từng trường hợp, thời hạn này hoàn toàn có thể được ấn định kết thúc trước khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Từ đó có thể phát sinh trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ được Tòa án yêu cầu khi đã hết thời hạn ấn định nhưng trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính chưa quy định về cách thức xử lý trong trường hợp này. Để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh của đương sự nói chung và đương sự nó riêng, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Luật Tố tụng hành chính chỉ cần quy định việc thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ ở hai thời điểm là trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính ấn định và hết thời hạn được ấn định.

Thứ hai, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp:

Bên cạnh thời hạn cung cấp, phạm vi tài liệu, chứng cứ được giao nộp trong từng giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự. Trong đó, đối với các tài liệu, chứng cứ Tòa án yêu cầu, đương sự chỉ có quyền giao nộp trong thời hạn được ấn định. Đối với các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án không yêu cầu phải giao nộp hoặc các tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án thì có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, trong giai đoạn chuẩn tại phiên tòa sơ thẩm hoặc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Ở thủ tục phúc thẩm vụ án hành chính, bên cạnh quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh được quy định tại Điều 227 Luật Tố tụng hành chính, theo quy định tại Điều 219 Luật Tố tụng hành chính, đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới. Theo quy định này, trong trường hợp đương sự là người kháng cáo hoặc có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo sẽ có quyền bổ sung chứng cứ mới trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm vụ án hành chính. Do pháp luật chưa hướng dẫn như thế nào là chứng cứ mới nên chứng cứ mới có thể hiểu là: (i) Bất cứ chứng cứ nào chưa được đương sự giao nộp trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm hoặc (ii) Là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm. Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, có thể là chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự giao nộp và cả những chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng họ đã không giao nộp. Trong trường hợp chấp nhận chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu đương sự giao nộp nhưng đương sự không giao nộp và không có lý do chính đáng sẽ mâu thuẫn với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính và làm cho quy định về thời hạn gian nộp tài liệu, chứng cứ tại khoản 4 Điều 83 Luật Tố tụng hành chính trở nên vô nghĩa. Trong trường hợp chứng cứ mới được hiểu theo nghĩa thứ hai, đó là những chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, điều này sẽ trùng lắp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227 Luật Tố tụng hành chính. Ngoài ra, trong trường hợp này, khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm sẽ ảnh hưởng đến quyền tranh tụng của các đương sự khác và hiệu lực của hoạt động xét xử sơ thẩm. Như vậy, quy định tại Điều 219 có sự chồng chéo, mâu thuẫn với Điều 227 của Luật và không hợp lý. Vì thế, để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh và hiệu lực của hoạt động xét xử hành chính, Điều 219 Luật Tố tụng hành chính cần được bãi bỏ.

Ngoài ra, đối với những tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu giao nộp, đương sự chỉ có thể giao nộp trong thời hạn được ấn định. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp trước đó thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, đương sự có quyền cung cấp những tài liệu, chứng cứ này khi có lý do chính đáng. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật tố tụng hành chính chưa hướng dẫn như thế nào là “lý do chính đáng”. Vì thế, Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể về “lý do chính đáng” mà đương sự có thể cung cấp các tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu nhưng họ đã không thể nộp trong thời hạn ấn định.

Thứ ba, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được:

Luật Tố tụng hành chính quy định các cấp độ khác nhau để đương sự có thể thu thập được tài liệu, chứng cứ do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý. Đương sự có thể tự mình thu thập bằng những biện pháp được pháp luật quy định. Nếu tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lưu giữ, quản lý, trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.

Trong tố tụng hành chính, tài liệu, chứng cứ liên quan đến tính có căn cứ và hợp pháp của đối tượng khởi kiện chủ yếu thuộc quyền lưu giữ, quản lý của người bị kiện hoặc các cơ quan nhà nước khác. Vì thế, quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự, đặc biệt là người khởi kiện có thể thực hiện quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ. Trong đó, quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được có vai trò rất quan trọng. Theo khoản 2 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính đó là trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được. Tuy nhiên, giữa khoản Điều 84 và Điều 93 Luật Tố tụng hành chính có sự không thống nhất và mâu thuẫn về nội dung này. Trong đó, khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính quy định về những biện pháp đương sự có quyền tự mình thu thập chứng cứ. Trong các biện pháp được liệt kê bao gồm biện pháp yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu. Ngoài ra, biện pháp yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản cũng thuộc các biện pháp do đương sự tự mình thu thập chứng cứ[9]. Vì thế, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, bảo đảm quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của các đương sự, khoản Điều 84 Luật Tố tụng hành chính cần bỏ quy định tại điểm e và điểm g vì đây là những biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ không phải do đương sự tự mình thực hiện.

Nguyễn Hoàng Yến
Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Nguyễn Thị Hà (2017), Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 42.

[2] Theo quy định tại Điều 130 Luật Tố tụng hành chính, thời hạn chuẩn bị xét xử các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri được quy định như sau:

1. 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật này;

2. 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 116 của Luật này;

3. Đối với vụ án phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử một lần, nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

[3] Theo Điều 219 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Nguyễn Thị Thu Hương (2011), “Bước tiến quan trọng về quy định chứng cứ, chứng minh trong Luật Tố tụng hành chính năm 2010”, Tạp chí Nghề luật, số 4, tr. 24.

[5] Lê Ngọc Duy (2020), Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, tr. 136.

[6] Theo Báo cáo số 39/TANDTC ngày 19/12/2012 của Tòa án nhân dân tối cao Báo cáo tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động tố tụng của Tòa án.

[7] Ở Ukraine, theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng tòa án hành chính, đương sự phải nộp chứng cứ cùng với việc nộp yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, theo Điều 80, trong trường hợp không thể cung cấp chứng cứ một cách độc lập, đương sự có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án cung cấp chứng cứ. Yêu cầu như vậy phải được nộp trong khoảng thời gian nộp đơn. Nếu một yêu cầu như vậy được nộp chậm thời hạn, Tòa án sẽ bác bỏ yêu cầu đó, trừ khi người nộp đơn biện minh cho việc không thể nộp đơn trong thời hạn đã định vì những lý do nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hành chính của Estonia, trong thủ tục tố tụng sơ bộ, Tòa án đặt ra một thời hạn cho những người tham gia tố tụng để cung cấp bằng chứng. Nếu hết thời hạn mà vật chứng minh chưa được nộp, hoặc đơn yêu cầu thu thập bằng chứng chưa được thực hiện thì việc dựa vào vật chứng cứ sau đó chỉ được phép nếu đáp ứng các điều kiện tại mục 4 Điều 51 của Bộ luật. Theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hành chính của Nga, Tòa án ban hành một quyết định về trình tự xuất trình chứng cứ, quy định thời hạn và cách thức xuất trình chứng cứ.

[8] Theo khoản 1 Điều 93 của Luật Tố tụng hành chính, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người có yêu cầu biết. Theo khoản 3 Điều 93 Luật Tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án.

[9] Theo điểm e và điểm g khoản 1 Điều 84 Luật Tố tụng hành chính.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: