Thứ tư 01/04/2026 16:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

Bài viết này phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, việc xét xử là của Tòa án và Tòa án bảo đảm hai chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Quyền hạn của Hội đồng xét xử vụ án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự. Việc quy định hợp lý quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là cơ sở để giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án dân sự. Do đó, việc đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện vấn đề thực hiện quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.

1. Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành

Dưới góc độ pháp lý thì “quyền hạn” được hiểu là “quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Quyền hạn của một chủ thể được pháp luật quy định đồng thời cũng là nhiệm vụ của chủ thể đó được sử dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định của chủ thể đó”[1]. Theo đó, có thể hiểu, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự là quyền tham gia quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật kể từ khi được Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm phân công giải quyết án cho đến khi ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm.

Theo Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật (việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành). Hội đồng xét xử có quyền hạn thực hiện những hoạt động tố tụng cần thiết nhằm giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm có:

- Về thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: Theo Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, nếu thấy cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Về thẩm quyền và thủ tục áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự thì quyền xem xét và quyết định thuộc về Hội đồng xét xử. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ chứng cứ, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác. Trường hợp lý do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điều này thể hiện sự linh hoạt trong tố tụng, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân.

- Về việc sửa bản án sơ thẩm: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ra quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp được quy định tại Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm: Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không tuân thủ đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Như vậy, khi Hội đồng xét xử phúc thẩm phát hiện việc thu thập chứng cứ và chứng minh trong vụ án không tuân thủ đúng quy định hoặc chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến không thể bổ sung thêm thông tin trong phiên tòa phúc thẩm, họ có quyền hủy bỏ bản án sơ thẩm hoặc một phần bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng và chính xác trong xét xử và giải quyết vụ án.

- Về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án: Theo quy định tại Điều 311 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trường hợp mà trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 và điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình xét xử và giải quyết vụ án dân sự.

- Về tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án có thể được tạm đình chỉ khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Quá trình tạm đình chỉ này kéo dài cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời Tòa án về kết quả xử lý văn bản có dấu hiệu vi phạm.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp: (i) Người kháng cáo đã rút lại toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; (ii) Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có kháng nghị.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm. Điều này có nghĩa là, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết định không sửa đổi hay hủy bỏ bản án sơ thẩm.

Thực tiễn thực hiện quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự cho thấy một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thiếu sót trong việc không quy định căn cứ giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do không quy định căn cứ áp dụng quyền hạn của Hội đồng xét xử thì việc Hội đồng xét xử ra quyết định hoàn toàn căn cứ vào ý chí chủ quan của mình để giải quyết mà không dựa trên các căn cứ pháp lý.

Thứ hai, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm (khoản 1 Điều 308) và sửa bản án sơ thẩm (khoản 2 Điều 308). Trong trường hợp một vụ án dân sự bị kháng cáo và đang trong quá trình xem xét giải quyết vụ án, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của đương sự, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí và Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng không trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn hoặc có vụ án tuyên nghĩa vụ chịu án phí có giá ngạch không đúng theo quy định làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, dẫn đến cấp phúc thẩm phải xem xét sửa bản án sơ thẩm. Về việc áp dụng pháp luật trong trường hợp trên, có hai quan điểm như sau:

(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần áp dụng cả khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì các lý do sau: Kháng cáo của đương sự không được chấp nhận, vì vậy cần áp dụng khoản 1 là giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đồng thời, khi phát hiện vi phạm trong bản án sơ thẩm, cần sửa đổi phần bản án đó. Do đó, cần áp dụng cả khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm tinh thần và quyền lợi của đương sự trong việc áp dụng pháp luật.

(ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, “giữ nguyên bản án sơ thẩm” chỉ áp dụng khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng các quyết định trong bản án sơ thẩm đã có căn cứ và tuân thủ pháp luật. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ giữ nguyên toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm. Việc sửa bản án sơ thẩm chỉ xảy ra khi Hội đồng xét xử phúc thẩm phát hiện vi phạm trong bản án sơ thẩm, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và quyết định thay đổi nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy, tùy thuộc vào các điều kiện và tình huống cụ thể, sẽ được quyết định áp dụng cả khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hoặc chỉ áp dụng khoản 2 để bảo đảm tính thẩm định và quyền lợi của đương sự trong việc áp dụng pháp luật.

Thứ ba, theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 1); việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ (khoản 2).

Quy định của khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, “quyết định không đúng pháp luật” của Tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp này là sai lầm trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án chứ không phải là sai lầm trong áp dụng pháp luật nội dung như trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ tư, quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có sự mâu thuẫn với khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Theo quy định này thì trách nhiệm chứng minh và thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án thuộc về Tòa án, như vậy, có sự mâu thuẫn với quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự và Tòa án chỉ có trách nhiệm xem xét các chứng cứ mà đương sự đưa ra có căn cứ không, trong một số trường hợp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thì Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ như lấy lời khai đương sự, người làm chứng, đối chất, thẩm định, trưng cầu giám định, định giá tài sản... “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp” (khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Do đó, nếu quy định căn cứ cho việc hủy án chỉ dựa trên “việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được”[2] thì chưa bảo đảm nguyên tắc về quyền tự quyết định và tự định đoạt của các bên tham gia vụ án.

2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới

Một là, việc không quy định căn cứ áp dụng quyền hạn của Hội đồng xét xử đối với quyền “giữ nguyên bản án sơ thẩm” dẫn đến Hội đồng xét xử có thể ra quyết định căn cứ vào ý chí chủ quan của mình mà không dựa trên các căn cứ pháp lý. Do đó, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cần sửa đổi, bổ sung căn cứ không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo hướng Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị nếu kháng cáo, kháng nghị hợp lệ nhưng không có căn cứ và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 289, khoản 2 và khoản 3 Điều 296, Điều 299, Điều 300, Điều 309 và Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hai là, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai (nêu trên) về “giữ nguyên bản án sơ thẩm” chỉ áp dụng khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng các quyết định trong bản án sơ thẩm đã có căn cứ và tuân thủ pháp luật. Vấn đề này cần phải có sự nghiên cứu cụ thể và Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể.

Ba là, sửa đổi Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm trong các trường hợp sau đây: (i) Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật; (ii) Tòa án cấp phúc thẩm xác định được những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét và chứng cứ bổ sung.

Bốn là, cần hướng dẫn cụ thể đối với việc hủy án trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để có căn cứ hủy án chính xác.

Năm là, Tòa án các cấp cần tổ chức định kỳ các buổi tập huấn, đào tạo để trau dồi kiến thức chuyên sâu và cung cấp các ấn phẩm phân tích về quyền hạn của Hội đồng xét xử nói chung cũng như Hội đồng xét xử phúc thẩm tố tụng dân sự nói riêng. Tòa án cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi rút kinh nghiệm từ những vụ án có sai sót, đồng thời cần bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán. Ngoài ra, cần chủ động báo cáo và đề nghị Tòa án cấp trên hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất đối với những vướng mắc trong quá trình xét xử các vụ án dân sự.

Vũ Thị Minh Hằng

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa & Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 651.

[2]. Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao Động.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.

Theo dõi chúng tôi trên: