Thứ ba 14/07/2026 17:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam

Bài viết này phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, từ đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, việc xét xử là của Tòa án và Tòa án bảo đảm hai chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm. Quyền hạn của Hội đồng xét xử vụ án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng dân sự. Việc quy định hợp lý quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là cơ sở để giải quyết nhanh chóng, dứt điểm vụ án dân sự. Do đó, việc đánh giá thực trạng và kiến nghị hoàn thiện vấn đề thực hiện quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.

1. Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành

Dưới góc độ pháp lý thì “quyền hạn” được hiểu là “quyền của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Quyền hạn của một chủ thể được pháp luật quy định đồng thời cũng là nhiệm vụ của chủ thể đó được sử dụng để thực hiện chức năng, trách nhiệm nhất định của chủ thể đó”[1]. Theo đó, có thể hiểu, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong tố tụng dân sự là quyền tham gia quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật kể từ khi được Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm phân công giải quyết án cho đến khi ban hành bản án, quyết định giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm.

Theo Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba thẩm phán, trừ trường hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật (việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một thẩm phán tiến hành). Hội đồng xét xử có quyền hạn thực hiện những hoạt động tố tụng cần thiết nhằm giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, gồm có:

- Về thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: Theo Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, nếu thấy cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Về thẩm quyền và thủ tục áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự thì quyền xem xét và quyết định thuộc về Hội đồng xét xử. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi sai trái, bảo vệ chứng cứ, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác. Trường hợp lý do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không còn thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điều này thể hiện sự linh hoạt trong tố tụng, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân.

- Về việc sửa bản án sơ thẩm: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ra quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp được quy định tại Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm: Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không tuân thủ đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Như vậy, khi Hội đồng xét xử phúc thẩm phát hiện việc thu thập chứng cứ và chứng minh trong vụ án không tuân thủ đúng quy định hoặc chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến không thể bổ sung thêm thông tin trong phiên tòa phúc thẩm, họ có quyền hủy bỏ bản án sơ thẩm hoặc một phần bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng và chính xác trong xét xử và giải quyết vụ án.

- Về hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án: Theo quy định tại Điều 311 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 trường hợp mà trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 217 và điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong quá trình xét xử và giải quyết vụ án dân sự.

- Về tạm đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Theo quy định tại khoản 6 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc giải quyết vụ án có thể được tạm đình chỉ khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Quá trình tạm đình chỉ này kéo dài cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời Tòa án về kết quả xử lý văn bản có dấu hiệu vi phạm.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 312 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi thuộc một trong các trường hợp: (i) Người kháng cáo đã rút lại toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; (ii) Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trừ trường hợp vụ án có người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có kháng nghị.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm. Điều này có nghĩa là, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết định không sửa đổi hay hủy bỏ bản án sơ thẩm.

Thực tiễn thực hiện quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự cho thấy một số bất cập như sau:

Thứ nhất, thiếu sót trong việc không quy định căn cứ giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do không quy định căn cứ áp dụng quyền hạn của Hội đồng xét xử thì việc Hội đồng xét xử ra quyết định hoàn toàn căn cứ vào ý chí chủ quan của mình để giải quyết mà không dựa trên các căn cứ pháp lý.

Thứ hai, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Hội đồng xét xử có quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm (khoản 1 Điều 308) và sửa bản án sơ thẩm (khoản 2 Điều 308). Trong trường hợp một vụ án dân sự bị kháng cáo và đang trong quá trình xem xét giải quyết vụ án, không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của đương sự, nhưng Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí và Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng không trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn hoặc có vụ án tuyên nghĩa vụ chịu án phí có giá ngạch không đúng theo quy định làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, dẫn đến cấp phúc thẩm phải xem xét sửa bản án sơ thẩm. Về việc áp dụng pháp luật trong trường hợp trên, có hai quan điểm như sau:

(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, cần áp dụng cả khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì các lý do sau: Kháng cáo của đương sự không được chấp nhận, vì vậy cần áp dụng khoản 1 là giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đồng thời, khi phát hiện vi phạm trong bản án sơ thẩm, cần sửa đổi phần bản án đó. Do đó, cần áp dụng cả khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm tinh thần và quyền lợi của đương sự trong việc áp dụng pháp luật.

(ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, “giữ nguyên bản án sơ thẩm” chỉ áp dụng khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng các quyết định trong bản án sơ thẩm đã có căn cứ và tuân thủ pháp luật. Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ giữ nguyên toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm. Việc sửa bản án sơ thẩm chỉ xảy ra khi Hội đồng xét xử phúc thẩm phát hiện vi phạm trong bản án sơ thẩm, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và quyết định thay đổi nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy, tùy thuộc vào các điều kiện và tình huống cụ thể, sẽ được quyết định áp dụng cả khoản 1 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 hoặc chỉ áp dụng khoản 2 để bảo đảm tính thẩm định và quyền lợi của đương sự trong việc áp dụng pháp luật.

Thứ ba, theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 1); việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ (khoản 2).

Quy định của khoản 2 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa thực sự hợp lý. Bởi lẽ, “quyết định không đúng pháp luật” của Tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp này là sai lầm trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án chứ không phải là sai lầm trong áp dụng pháp luật nội dung như trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ tư, quy định tại Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có sự mâu thuẫn với khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Theo quy định này thì trách nhiệm chứng minh và thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án thuộc về Tòa án, như vậy, có sự mâu thuẫn với quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đương sự và Tòa án chỉ có trách nhiệm xem xét các chứng cứ mà đương sự đưa ra có căn cứ không, trong một số trường hợp mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thì Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ như lấy lời khai đương sự, người làm chứng, đối chất, thẩm định, trưng cầu giám định, định giá tài sản... “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp” (khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Do đó, nếu quy định căn cứ cho việc hủy án chỉ dựa trên “việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được”[2] thì chưa bảo đảm nguyên tắc về quyền tự quyết định và tự định đoạt của các bên tham gia vụ án.

2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới

Một là, việc không quy định căn cứ áp dụng quyền hạn của Hội đồng xét xử đối với quyền “giữ nguyên bản án sơ thẩm” dẫn đến Hội đồng xét xử có thể ra quyết định căn cứ vào ý chí chủ quan của mình mà không dựa trên các căn cứ pháp lý. Do đó, Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành cần sửa đổi, bổ sung căn cứ không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo hướng Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị nếu kháng cáo, kháng nghị hợp lệ nhưng không có căn cứ và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 289, khoản 2 và khoản 3 Điều 296, Điều 299, Điều 300, Điều 309 và Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Hai là, tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai (nêu trên) về “giữ nguyên bản án sơ thẩm” chỉ áp dụng khi Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy rằng các quyết định trong bản án sơ thẩm đã có căn cứ và tuân thủ pháp luật. Vấn đề này cần phải có sự nghiên cứu cụ thể và Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể.

Ba là, sửa đổi Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm trong các trường hợp sau đây: (i) Tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật; (ii) Tòa án cấp phúc thẩm xác định được những tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét và chứng cứ bổ sung.

Bốn là, cần hướng dẫn cụ thể đối với việc hủy án trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để có căn cứ hủy án chính xác.

Năm là, Tòa án các cấp cần tổ chức định kỳ các buổi tập huấn, đào tạo để trau dồi kiến thức chuyên sâu và cung cấp các ấn phẩm phân tích về quyền hạn của Hội đồng xét xử nói chung cũng như Hội đồng xét xử phúc thẩm tố tụng dân sự nói riêng. Tòa án cũng nên thường xuyên tổ chức các buổi rút kinh nghiệm từ những vụ án có sai sót, đồng thời cần bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán. Ngoài ra, cần chủ động báo cáo và đề nghị Tòa án cấp trên hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất đối với những vướng mắc trong quá trình xét xử các vụ án dân sự.

Vũ Thị Minh Hằng

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa & Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 651.

[2]. Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao Động.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: