Thứ tư 04/03/2026 14:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc qua thực tiễn xét xử tại Tòa án

Trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc, quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án các cấp nhìn chung đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo việc xét xử các vụ án thừa kế công bằng, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên liên quan. Mặc dù vậy, tác giả nhận thấy, vẫn còn một số trường hợp Tòa án áp dụng chưa đúng tinh thần của các quy định pháp luật, dẫn đến phán quyết của Tòa án thiếu tính thuyết phục, do đó, cần có giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án.


1. Quyền hưởng di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ/chồng và con thành niên mà không có khả năng lao động thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc trong trường hợp người lập di chúc không cho hưởng di sản theo di chúc hoặc có cho hưởng nhưng phần mà họ được hưởng theo di chúc ít hơn 2/3 của một suất thừa kế nếu di sản được chia theo pháp luật. Không cho hưởng được hiểu là người lập di chúc thể hiện rõ ý chí truất quyền hưởng di sản của những người nói trên hoặc là không đề cập đến những người này trong di chúc. Trường hợp người lập di chúc cho những người này hưởng di sản nhưng ít hơn 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật thì họ cũng được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, họ phải được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất thừa kế nói trên.

Quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc trong Bộ luật Dân sự hướng tới bảo vệ quyền lợi của các chủ thể là cha, mẹ của người lập di chúc, vợ hoặc chồng của người lập di chúc, con của người lập di chúc mà chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Như vậy, theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể hiểu rằng, người thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nếu là cha, mẹ thì không phân biệt cha, mẹ đẻ hay cha, mẹ nuôi; đối với con thì không phân biệt là con đẻ hay con nuôi và con đã thành niên mất khả năng lao động không phân biệt mất khả năng lao động vào thời điểm nào; đối với vợ/chồng được hưởng loại thừa kế này phải là vợ/chồng hợp pháp theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Khi phân chia di sản thừa kế theo di chúc, nếu có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì Tòa án cần đưa họ vào diện được hưởng thừa kế để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ. Mặc dù vậy, không phải tất cả các vụ án tranh chấp về thừa kế mà Tòa án xét xử đều đảm bảo được điều này.

2. Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nhìn từ thực tiễn xét xử tại Tòa án

Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định khá hoàn chỉnh vấn đề thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế, tuy nhiên, dưới góc độ thực tiễn xét xử vẫn còn một số bất cập cần sớm khắc phục. Để có cái nhìn rõ nét hơn, tác giả xin viện dẫn một số ví dụ cụ thể sau đây:

Ví dụ 1:

Ông Đ và bà T là vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 26/5/1967 tại Ủy ban nhân dân xã M huyện N tỉnh B, có một con chung là chị H. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông Đ chuyển công tác vào tỉnh G còn mẹ con bà T vẫn ở lại tỉnh B. Ngày 07/10/1992, ông Đ nhận chuyển nhượng 500m2 đất tại xã X huyện Y tỉnh G để cất nhà. Ngày 20/10/1994, ông Đ làm thủ tục đăng ký kết hôn với bà C và chung sống với bà C. Năm 2001, ông Đ có lập di chúc cho bà C hưởng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, đồ dùng trong gia đình. Năm 2003, ông Đ chết thì vợ chồng chị H đã vào ở tại căn nhà này cùng bà C, sau đó xảy ra tranh chấp khối di sản nói trên. Bà C yêu cầu được hưởng thừa kế theo di chúc ông Đ để lại. Chị H cho rằng, bà C lấy ông Đ là bất hợp pháp nên chị không đồng ý yêu cầu hưởng thừa kế của bà C. Bà T có ý kiến rằng, căn nhà nói trên là do ông Đ tạo lập khi đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với bà nên đây là tài sản chung của bà và ông Đ, do đó, bà không nhất trí theo yêu cầu của bà C. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật để bà cùng chị H được hưởng thừa kế của ông T.

Tòa án nhân dân huyện Y tỉnh G đã nhận định: Bà T là vợ hợp pháp của ông Đ, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông Đ là trái pháp luật do khi lấy bà C, ông Đ đã có vợ hợp pháp và chưa ly hôn. Tuy căn nhà trên diện tích 500m2 đất tại xã X huyện Y tỉnh G được ông Đ tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà T vẫn tồn tại, nhưng giữa ông Đ và bà T có kinh tế riêng và ông Đ đứng tên riêng đối với nhà đất trên, hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, bà T thừa nhận căn nhà là do ông Đ tạo lập và là tài sản riêng của ông Đ và thực tế thì ông Đ đã chuyển vào tỉnh G công tác từ năm 1975, đến năm 1992, ông Đ mới nhận chuyển nhượng mảnh đất nói trên để xây nhà, còn bà T và chị H vẫn ở tỉnh B, do đó, có cơ sở xác định căn nhà trên diện tích 500m2 đất tọa lạc tại xã X huyện Y tỉnh G là tài sản riêng của ông Đ. Vì vậy, ông Đ có quyền lập di chúc cho bà C thừa kế. Xác định di chúc của ông Đ lập ngày 27/02/2001 do ông Đ viết có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã X huyện Y tỉnh G là di chúc hợp pháp.

Từ đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà C, tuyên: Bà C được hưởng thừa kế theo di chúc ngày 27/02/2001 của ông Đ gồm các tài sản và nhà đất tọa lạc tại xã X huyện Y tỉnh G đã được ghi nhận tại biên bản xác minh đo đạc ngày 26/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Y. Bác yêu cầu phản tố của chị H và bà T kiện bà C tranh chấp chia tài sản thừa kế theo pháp luật đối với căn nhà và đất nói trên.

Có thể thấy, trong bản án, Tòa án đã áp dụng đúng quy định của Bộ luật Dân sự về chia thừa kế theo di chúc. Theo đó, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, trước đây là Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005). Như vậy, khi cá nhân chết có để lại di chúc và di chúc đó đảm bảo các điều kiện có hiệu lực theo quy định của Bộ luật Dân sự thì di chúc phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết và người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc đủ điều kiện sẽ được hưởng di sản theo di chúc đó. Pháp luật nước ta không giới hạn quan hệ giữa người lập di chúc và người thừa kế theo di chúc, do đó, cá nhân có quyền lập di chúc để lại di sản cho bất kỳ ai, không phân biệt người đó có quan hệ thân thích hay không. Vì vậy, trong trường hợp này, Tòa án xác định bà C không phải là vợ hợp pháp của ông Đ nhưng do bà C là người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc của ông Đ nên Tòa án quyết định cho bà C được hưởng di sản của ông Đ để lại theo di chúc là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi vì ông Đ có quyền lập di chúc cho bất kỳ người nào hưởng di sản, không phụ thuộc việc bà C có là vợ hợp pháp hay không vẫn được thừa kế theo di chúc. Hơn nữa, Tòa án đã xác định ông Đ và bà T mặc dù còn tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng đã không sống chung từ năm 1975 và có kinh tế độc lập, do đó, ông Đ có toàn quyền định đoạt khối tài sản nói trên theo di chúc. Việc quyết định như của Tòa án là hoàn toàn thuyết phục và phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, pháp luật có liên quan.

Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ quyền hưởng thừa kế của bà T vì xác định tài sản ông Đ định đoạt trong di chúc là tài sản riêng của ông Đ nên không liên quan đến bà T, để cho bà C được hưởng toàn bộ di sản của ông Đ là có sự thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật, chưa thuyết phục và ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Bà T là vợ hợp pháp của ông Đ (theo xác định của Tòa án), theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 (trước đây là Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005) thì bà T thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, cho nên phải được hưởng một kỷ phần thừa kế ít nhất bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong trường hợp người lập di chúc không cho hưởng.

Ví dụ 2:

Cụ Nguyễn Thị K có ba người con là bà M, ông Q và ông N. Năm 2005, cụ K chết có để lại di chúc cho ông N được hưởng thừa kế căn nhà tại phường T, thành phố H. Mặc dù theo di chúc của cụ K thì toàn bộ căn nhà này được để lại cho ông N nhưng vì tại thời điểm mở thừa kế, bà M đã 71 tuổi lại mang nhiều bệnh tật như huyết áp, tiểu đường, năm 2006 bị ngã và nằm liệt cho đến nay nên bà M yêu cầu được hưởng thừa kế di sản của cụ K theo quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Ông Q cũng yêu cầu được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc vì tại thời điểm mở thừa kế, ông Q đã 68 tuổi, thương binh hạng 2/4, không có khả năng lao động. Ông N xác định phần trình bày của các nguyên đơn về quan hệ huyết thống là đúng; về nhà đất tranh chấp, năm 2004, cụ K đã lập di chúc để lại cho ông toàn bộ căn nhà này nên ông không đồng ý với yêu cầu được hưởng thừa kế di sản mà các nguyên đơn nêu ra.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhận định: Xét yêu cầu của ông Q, bà M về việc được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, tại Điều 140, Điều 145 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định độ tuổi lao động của người Việt Nam là từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động còn có các quy định về chế độ đối với người lao động từ 56 tuổi trở lên đối với nữ và từ 61 tuổi trở lên đối với nam. Như vậy, pháp luật không đặt ra giới hạn tuổi tối đa được tham gia các quan hệ lao động mà việc tham gia quan hệ lao động tùy thuộc vào thể lực, trí lực và tinh thần của từng người. Do đó, độ tuổi lao động là cơ sở xác định người hết tuổi lao động để được hưởng các chế độ đãi ngộ chứ không phải là căn cứ để xác định một người không còn khả năng lao động. Hơn nữa, từ trước đến nay, ông Q, bà M có đời sống kinh tế độc lập, không phụ thuộc vào cụ K. Bà M có gia đình, có tài sản riêng, bản thân bà hàng tháng còn được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước theo diện người có công với cách mạng, còn ông Q tuy là thương binh hạng 2/4, theo quy định thì ông bị suy giảm khả năng lao động là 62% nhưng ông cũng đã được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước, nên Hội đồng xét xử nhận thấy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà M, ông Q về người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Trên cơ sở nhận định này, Tòa án đã không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà M và ông Q về việc được hưởng di sản của cụ K theo diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Theo tác giả, cách giải quyết của Tòa án với việc nhận định để xác định bà M và ông Q không thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như trên là chưa thuyết phục vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 669 (hiện nay là Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định về đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Những người này được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc với kỷ phần thừa kế là “bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật” khi “không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó”. Như vậy, pháp luật không có quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 669 Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay là điểm b khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015) phải là người không có khả năng lao động tại thời điểm mở thừa kế, do đó, có thể hiểu rằng, một người thừa kế tại thời điểm mở thừa kế có khả năng lao động, nhưng tại thời điểm chia di sản họ bị mất khả năng lao động do tai nạn hoặc bệnh tật thì vẫn thuộc trường hợp là người không có khả năng lao động.

Thứ hai, trong ví dụ 2, bà M không chỉ nại rằng tại thời điểm mở thừa kế, bà đã 71 tuổi mà còn trình bày bà bị ngã vào năm 2006 và nằm liệt cho đến nay để xin hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Tòa án căn cứ vào quy định về độ tuổi của người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và căn cứ vào việc bà M hàng tháng đã được hưởng chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với người có công với cách mạng để bác yêu cầu của bà M là chưa hợp tình, hợp lý. Bởi quyền thừa kế khác với quyền hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước, không thể đánh đồng hai quyền này. Việc bà M được hưởng chế độ đãi ngộ là do bà có công với cách mạng, không liên quan gì đến việc bà có quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của bà M là do bà có quan hệ huyết thống với người lập di chúc nên thuộc diện được hưởng quyền này.

Quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là nhằm bảo vệ những người thân thích, gần gũi nhất của người chết khi họ không được cho hưởng di sản, giúp đỡ họ vơi bớt khó khăn trong cuộc sống. Người không có khả năng lao động là con của người lập di chúc là một trong số những người thuộc diện đó. Bà M không chỉ đã cao tuổi mà còn bệnh tật nằm liệt giường. Nếu chỉ căn cứ vào thời điểm mở thừa kế để xem xét khả năng lao động của một người nhằm gạt họ ra khỏi diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là vô tình đẩy họ vào con đường khó khăn mà chắc chắn nếu người lập di chúc còn sống cũng không muốn điều đó và khi đó thì quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn thể hiện được tính nhân văn của nó nữa.

3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án

Pháp luật không quy định thời điểm xác định người “không có khả năng lao động” để làm căn cứ cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là thời điểm nào. Do đó, việc áp dụng pháp luật cần đặt lợi ích của người đó lên trước để cân bằng quyền lợi giữa những người thừa kế.

Mặt khác, bản thân Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định con chưa thành niên được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, nhưng việc xác định con chưa thành niên tại thời điểm mở thừa kế hay tại thời điểm chia di sản thì Bộ luật Dân sự cũng chưa quy định. Nếu xác định độ tuổi của người chưa thành niên và khả năng lao động của người đã thành niên theo quy định tại Điều 644 nêu trên vào thời điểm mở thừa kế sẽ có những trường hợp không “hợp tình”. Chúng tôi đặt ra giả thiết như sau: Ông A có ba người con là B (sinh năm 1990, chưa có vợ con, công việc ổn định), C (sinh năm 1993, chưa có vợ con, công việc ổn định và D (sinh năm 1998, đang là sinh viên). Vợ ông A đã chết trong một tai nạn, cha mẹ của ông A đều đã chết. Năm 2017, ông A lập di chúc cho C hưởng toàn bộ di sản. Năm 2018, ông A bị bệnh chết. Năm 2019, B bị tai nạn giao thông bị bại liệt, mất khả năng lao động. Năm 2020, khi chia di sản thừa kế của ông A, cả D và B yêu cầu được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Tòa án xác định D thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nên cho hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, bác yêu cầu của B, vì tại thời điểm mở thừa kế, B có khả năng lao động, kinh tế ổn định. Vậy, chúng ta thấy rằng, cách giải quyết này vừa không hợp tình vừa không hợp lý. Không hợp tình vì lúc này, người cần bảo vệ hơn ai hết là B, không hợp lý vì Bộ luật Dân sự chỉ quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản…” chứ không quy định: “Tại thời điểm mở thừa kế, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản …”.

Do đó, thiết nghĩ, cần có cách hiểu thống nhất về quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất quy định này theo hướng: Xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là con chưa thành niên hoặc con đã thành niên của người chết mà không có khả năng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời điểm xác định là thời điểm chia di sản mà không xác định vào thời điểm mở thừa kế.

Trong khi luật không có quy định cụ thể, chúng ta nên giải thích luật theo hướng có lợi nhất cho đương sự để bảo đảm hài hòa lợi ích cho các bên. Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập nêu trên, thiết nghĩ, khi giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc, nếu Tòa án quyết định chia di sản thừa kế theo di chúc thì cần xem xét có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc hay không để chia phần thừa kế này cho họ mới đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người thừa kế. Trường hợp Tòa án xác định có người thừa kế được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nhưng họ đã được hưởng di sản theo pháp luật hoặc theo di chúc lớn hơn 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật thì Tòa án phải lập luận trong bản án để giải thích cho họ hiểu vì sao người đó thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc nhưng Tòa án không xem xét chia phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cho họ. Có như vậy, lập luận của Tòa án trong bản án mới có tính thuyết phục cao và đương sự cũng hiểu được quyền lợi của họ đã được bảo vệ trên cơ sở thượng tôn pháp luật.

ThS. Phan Thị Hồng
Trường Đại học Luật, Đại học Huế




Tài liệu tham khảo:

1. TS. Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: