Thứ năm 30/04/2026 07:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, mang đặc điểm riêng so với tài sản thông thường, do vậy cơ chế bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm cũng có những nét đặc thù.

1. Quyền khởi kiện
Quyền sở hữu công nghiệp là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, mang đặc điểm riêng so với tài sản thông thường, do vậy cơ chế bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm cũng có những nét đặc thù. Khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra hành vi xâm phạm, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền tự bảo vệ bằng việc áp dụng những biện pháp nhất định quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ). Một trong những biện pháp đó là khởi kiện ra Tòa án bằng vụ án dân sự. Khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng khẳng định tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm nhóm quyền sở hữu công nghiệp) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp dân sự, biện pháp hình sự, biện pháp hành chính… Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể thực hiện những hành vi theo quy định pháp luật để ngăn chặn các hành vi xâm phạm xảy ra trên thực tế, yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải khắc phục hậu quả[1] cũng như yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình. Đặc biệt, trong số các biện pháp bảo vệ quyền dân sự nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án. Khởi kiện là bắt đầu việc kiện trước Toà án[2], là hành vi tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. So với những biện pháp xử lý hành vi xâm phạm khác, khởi kiện tại Tòa án có ưu thế hơn vì hành vi xâm phạm (nếu có) sẽ bị xử lý bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước[3]. Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thông qua việc khởi kiện vụ án dân sự: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”. Quyền được khởi kiện và được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là minh họa rõ nhất về quyền tiếp cận công lý của công dân. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể về quyền khởi kiện, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, khi quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, chủ thể liên quan có quyền khởi kiện ra Tòa án với tư cách là một biện pháp tự bảo vệ quyền theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ. Các nội dung liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp được quy định chi tiết ở Mục II và III Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân. Điều 41 Hiệp định TRIPS cũng quy định các thành viên phải bảo đảm rằng các thủ tục thực thi quyền phải được quy định trong luật quốc gia của mình để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong Hiệp định này. Trong đó, hai nội dung chính có những nét đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp so với quyền khởi kiện theo pháp luật tố tụng dân sự là chủ thể khởi kiện và điều kiện khởi kiện.

2. Chủ thể khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp rất đa dạng, bởi lẽ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng với tính chất là tài sản vô hình, nội dung quyền bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân trao cho tác giả, chủ sở hữu và chủ thể được hưởng quyền sử dụng hợp pháp. Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này đều có liên quan ít nhiều bởi việc bảo hộ và xâm phạm các đối tượng sở hữu công nghiệp, do vậy, cho phép họ khởi kiện tại Tòa án là điều cần thiết. Chủ thể khởi kiện quyền sở hữu công nghiệp có thể chia thành ba nhóm: (i) Chủ thể tranh chấp về quyền đăng ký; (ii) Tác giả và chủ sở hữu; (iii) Chủ thể nhận chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp.

- Nhóm chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp đầu tiên là các cá nhân, tổ chức tranh chấp về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền trên cơ sở đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc xác định chủ thể nào có quyền đăng ký là vô cùng quan trọng vì đây chính là cơ hội để hưởng quyền sở hữu đối tượng đó. Quyền đăng ký sở hữu công nghiệp được quy định tại các điều 86, 87, 88 Luật Sở hữu trí tuệ. Chủ thể có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là tác giả hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc. Quyền đăng ký nhãn hiệu thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc đóng vai trò đưa sản phẩm ra thị trường… Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà nước. Trong đó, Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương thực hiện quyền đăng ký. Khi quyền đăng ký có tranh chấp, các chủ thể liên quan được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nhóm chủ thể thứ hai là tác giả và chủ sở hữu đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm: Tác giả, đồng tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; chủ sở hữu giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, đăng ký quốc tế nhãn hiệu được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng; chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại; cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho cá nhân, tổ chức được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý; tổ chức, cá nhân có đối tượng sở hữu công nghiệp liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

+ Chủ thể khởi kiện là tác giả: Dựa vào những nét đặc thù về bản chất, các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp theo thông lệ quốc tế được chia thành hai đối tượng[4] là: (i) Đối tượng mà việc bảo hộ xuất phát từ giá trị của sự sáng tạo, bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và bí mật kinh doanh. Điểm nổi bật trong điều kiện bảo hộ của các đối tượng này đó là thành quả của sự sáng tạo. Tôn trọng giá trị trí tuệ trong quá trình tạo ra sản phẩm, pháp luật bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng này được phép khai thác độc quyền trong thời hạn bảo hộ tương ứng; (ii) Những đối tượng còn lại bao gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại. Bản chất của những đối tượng này là dấu hiệu có khả năng truyền tin tới người tiêu dùng về mối liên hệ giữa sản phẩm, dịch vụ đang lưu thông trên thị trường với nhà sản xuất, nhà cung cấp nhằm phân biệt các sản phẩm cùng loại[5]. Do đó, chủ thể là “tác giả” chỉ được đặt ra cho nhóm đối tượng thứ nhất bảo hộ trên cơ sở thành quả sáng tạo bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.

+ Chủ thể khởi kiện là chủ sở hữu: Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là chủ thể trực tiếp khai thác giá trị lợi ích từ tài sản trí tuệ nên đây là nhóm chủ thể khởi kiện quan trọng và phổ biến nhất, đặc biệt là khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên thực tế. Tại các quốc gia khác, chủ thể khởi kiện tranh chấp sở hữu công nghiệp phổ biến nhất cũng là chủ sở hữu, vì hơn ai hết đây là chủ thể bị ảnh hưởng lớn nhất khi có tranh chấp xảy ra.

+ Chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý: Với đặc thù chỉ dẫn địa lý là đối tượng thuộc sở hữu Nhà nước (Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ) và Nhà nước trao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân, trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến chỉ dẫn địa lý thì chính các tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền trực tiếp sẽ thực hiện việc khởi kiện.

Bên cạnh đó, còn có những chủ thể được nhận chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: Người thừa kế hợp pháp của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; hoặc người thừa kế hợp pháp, người kế thừa quyền sở hữu công nghiệp của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể quyền khác theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu công nghiệp mang bản chất là một loại quyền tài sản, do đó chủ sở hữu có quyền chuyển giao cho các chủ thể khác trong khuôn khổ quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng là bảo hộ có thời hạn, do vậy có thể khi chủ sở hữu không còn tồn tại thì quyền sở hữu công nghiệp vẫn còn được bảo hộ, lúc này quyền được chuyển giao cho người thừa kế hoặc kế thừa hợp pháp. Những chủ thể nhận chuyển giao quyền (bao gồm quyền sở hữu và quyền sử dụng) cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp mình sở hữu hoặc sử dụng.

Từ những quy định chung trong Bộ luật Tố tụng dân sự, pháp luật sở hữu trí tuệ đã có các quy định cụ thể những tổ chức, cá nhân nào có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp. Điểm chung của các chủ thể này là quyền và lợi ích của họ có liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp. Để có thể thực hiện quyền khởi kiện, ngoài việc thỏa mãn về yêu cầu chủ thể nêu trên thì pháp luật còn đặt ra điều kiện khởi kiện.

3. Điều kiện khởi kiện

Bên cạnh điều kiện khởi kiện chung được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyền khởi kiện tranh chấp sở hữu công nghiệp còn có những điều kiện riêng, xuất phát từ đặc trưng của loại tài sản này. Khởi kiện là giai đoạn đầu tiên của quá trình giải quyết một vụ án dân sự tại Tòa án, là giai đoạn mà người khởi kiện đưa ra yêu cầu của mình để Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, yêu cầu của người khởi kiện không phải đương nhiên được Tòa án chấp nhận mà chỉ được chấp nhận nếu Tòa án xét thấy rằng yêu cầu này là có căn cứ và hợp pháp. Điều kiện khởi kiện là giả thiết phải có lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp, cụ thể đó là các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đang xem xét phải được xác lập quyền hợp pháp và được bảo hộ theo quy định pháp luật. Các đối tượng được bảo hộ vừa là điều kiện để thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự vừa là động lực để thúc đẩy các đương sự tham gia tố tụng[6].

Việc bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp cần xem xét đến căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ. Chỉ khi đối tượng được xác lập quyền hợp pháp và còn thời hạn bảo hộ thì mới có cơ sở thực hiện quyền khởi kiện.

- Điều kiện về căn cứ xác lập quyền

Để khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp, trước hết quyền sở hữu công nghiệp phải được xác lập theo các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 6 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Khi quyết định gửi đơn khởi kiện, tổ chức, cá nhân phải gửi kèm theo các tài liệu chứng minh mình là chủ thể có quyền. Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền dựa trên văn bằng bảo hộ được cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc thông qua việc sử dụng hợp pháp đối tượng đó. Do vậy, điều kiện về căn cứ xác lập quyền cũng được nghiên cứu theo hai nhóm đối tượng.

+ Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Cụ thể, để được bảo hộ thì tác giả, chủ sở hữu đối tượng phải thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Qua quá trình xử lý đơn đăng ký, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành cấp văn bằng bảo hộ cho các đối tượng đáp ứng điều kiện bảo hộ. Nếu chưa thực hiện thủ tục đăng ký, cơ chế bảo hộ của Nhà nước chưa được thực thi thì các tổ chức, cá nhân không thể khởi kiện cho các đối tượng này. Khi khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể chứng minh mình đã xác lập quyền hợp pháp bằng văn bằng bảo hộ được cấp hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia các đối tượng trên. Nếu nhãn hiệu đăng ký quốc tế thì tài liệu chứng minh chủ thể quyền là bản gốc giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam hoặc các bản sao công báo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), giấy chứng nhận đăng ký quốc tế, công báo sở hữu công nghiệp của Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp có được các đối tượng trên thông qua chuyển nhượng quyền sở hữu, thì phải có hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ (hình thức hợp đồng theo quy định tại Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ).

+ Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng hợp pháp: Ngoài các đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ, các đối tượng sở hữu công nghiệp như bí mật kinh doanh, tên thương mại và nhãn hiệu nổi tiếng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng mà không cần qua thủ tục đăng ký theo điểm a, b, c khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ. Xác lập trên cơ sở sử dụng do đó khi có tranh chấp xảy ra, việc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp các đối tượng này tương đối phức tạp hơn so với các đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ.

- Điều kiện về thời hạn bảo hộ

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ có thời hạn theo quy định của pháp luật mà trong thời hạn đó, quyền sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo vệ, chống lại sự xâm phạm của các chủ thể khác. Bảo hộ sở hữu trí tuệ đề cao và tôn vinh giá trị của các tài sản sáng tạo, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhưng mặt khác cũng cần có sự hài hoà lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia. Thời hạn bảo hộ được tính toán phù hợp sao cho trong khoảng thời gian này, chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền đã nhận lại được những lợi ích từ hoạt động lao động sáng tạo đó. Hết thời hạn bảo hộ, các tài sản trí tuệ được phục vụ rộng rãi cho mọi người, trở thành tài sản chung của nhân loại. Do đó, một trong những điều kiện khởi kiện quyền sở hữu công nghiệp là đối tượng đó còn trong thời hạn bảo hộ. Quy định về thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng dựa trên căn cứ xác lập quyền của các đối tượng này. Hầu hết, các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ có thời hạn bảo hộ xác định. Thời hạn bảo hộ các đối tượng này được quy định tại Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ và được tính dựa trên ngày nộp đơn và ngày cấp văn bằng bảo hộ. Hết thời hạn này, việc bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp chấm dứt tạo cơ hội cho các chủ thể khác trong xã hội tiếp cận những sản phẩm mới. Do vậy, khi đã hết thời hạn bảo hộ thì việc khởi kiện không còn ý nghĩa.

Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng hợp pháp: Luật Sở hữu trí tuệ không quy định thời hạn bảo hộ cụ thể cho các đối tượng này. Có thể hiểu, đối với tên thương mại nhãn hiệu nổi tiếng và bí mật kinh doanh, thời hạn bảo hộ sẽ chấm dứt khi các đối tượng này không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ. Cụ thể, mục III.2.1.b Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định: “Phải căn cứ vào các điều kiện bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, quy định tại các mục 4, 5 và 7 Chương VII của Luật Sở hữu trí tuệ” để xác định việc bảo hộ hợp pháp.

Nếu hết thời hạn bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bị chấm dứt hoặc bị huỷ bỏ hiệu lực, thì các quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp không còn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Theo Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP, Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết nếu hành vi xâm phạm xảy ra vào thời điểm văn bằng bảo hộ còn hiệu lực hoặc đối tượng quyền sở hữu công nghiệp vẫn còn trong thời hạn được bảo hộ. Liệu rằng chủ thể có quyền khởi kiện cho hành vi xâm phạm xảy ra trong quá khứ và nay đã chấm dứt thời hạn bảo hộ hay không? Cần phải làm rõ trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra vào thời điểm mà thời hạn bảo hộ đối tượng này vẫn còn nhưng vào thời điểm khởi kiện thì đã hết thời hạn bảo hộ. Trong trường hợp này, việc khởi kiện có phù hợp với quy định pháp luật không và có ý nghĩa đối với các bên trong tranh chấp không? Chẳng hạn, Công ty A là chủ văn bằng bảo hộ sáng chế phát hiện Công ty B vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình và gây ra thiệt hại nhất định. Tuy nhiên, sau khi văn bằng bảo hộ sáng chế đã chấm dứt hiệu lực, Công ty A mới khởi kiện Công ty B yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo tác giả, trường hợp này vẫn đáp ứng điều kiện khởi kiện về thời hạn bảo hộ. Vào thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm, đối tượng này vẫn còn được bảo hộ và do vậy đáp ứng tiêu chí “có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Tất nhiên, khi xem xét về mức độ và phạm vi của hành vi xâm phạm thì chỉ tính trong thời hạn bảo hộ của đối tượng sở hữu công nghiệp.

Khởi kiện vụ án dân sự để vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước là một hình thức để chủ thể quyền được tiếp cận công lý, là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Hiệp định TRIPS cũng đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo quyền tham gia thủ tục tố tụng dân sự một cách đúng đắn, công bằng và có chứng cứ, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm. Trong đó, đảm bảo quyền khởi kiện là yêu cầu tiên quyết. Đối với quyền sở hữu công nghiệp, căn cứ xác lập quyền và cơ chế bảo hộ có nhiều điểm khác biệt so với các loại tài sản thông thường, do đó chủ thể khởi kiện và điều kiện khởi kiện mang tính đặc thù.

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2008), Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, Nxb. Tư pháp, tr. 394.

[2]. Từ điển Luật học (1999), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 253.

[3]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 333.

[4]. Đinh Thị Mai Phương (2009), Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 13.

[5]. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Chủ biên Lê Hồng Hạnh và Đinh Thị Mai Phương, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 66, 67.

[6]. Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 215 - 217.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: