Thứ ba 25/08/2026 10:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, mang đặc điểm riêng so với tài sản thông thường, do vậy cơ chế bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm cũng có những nét đặc thù.

1. Quyền khởi kiện
Quyền sở hữu công nghiệp là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, mang đặc điểm riêng so với tài sản thông thường, do vậy cơ chế bảo hộ và xử lý hành vi xâm phạm cũng có những nét đặc thù. Khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra hành vi xâm phạm, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền tự bảo vệ bằng việc áp dụng những biện pháp nhất định quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ). Một trong những biện pháp đó là khởi kiện ra Tòa án bằng vụ án dân sự. Khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng khẳng định tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm nhóm quyền sở hữu công nghiệp) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp khác nhau như biện pháp dân sự, biện pháp hình sự, biện pháp hành chính… Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể thực hiện những hành vi theo quy định pháp luật để ngăn chặn các hành vi xâm phạm xảy ra trên thực tế, yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải khắc phục hậu quả[1] cũng như yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi cho mình. Đặc biệt, trong số các biện pháp bảo vệ quyền dân sự nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có biện pháp khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự tại Tòa án. Khởi kiện là bắt đầu việc kiện trước Toà án[2], là hành vi tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. So với những biện pháp xử lý hành vi xâm phạm khác, khởi kiện tại Tòa án có ưu thế hơn vì hành vi xâm phạm (nếu có) sẽ bị xử lý bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước[3]. Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thông qua việc khởi kiện vụ án dân sự: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác”. Quyền được khởi kiện và được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là minh họa rõ nhất về quyền tiếp cận công lý của công dân. Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cụ thể về quyền khởi kiện, theo đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, khi quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, chủ thể liên quan có quyền khởi kiện ra Tòa án với tư cách là một biện pháp tự bảo vệ quyền theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ. Các nội dung liên quan đến quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp được quy định chi tiết ở Mục II và III Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân. Điều 41 Hiệp định TRIPS cũng quy định các thành viên phải bảo đảm rằng các thủ tục thực thi quyền phải được quy định trong luật quốc gia của mình để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi xâm phạm các loại quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong Hiệp định này. Trong đó, hai nội dung chính có những nét đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp so với quyền khởi kiện theo pháp luật tố tụng dân sự là chủ thể khởi kiện và điều kiện khởi kiện.

2. Chủ thể khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp rất đa dạng, bởi lẽ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng với tính chất là tài sản vô hình, nội dung quyền bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân trao cho tác giả, chủ sở hữu và chủ thể được hưởng quyền sử dụng hợp pháp. Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này đều có liên quan ít nhiều bởi việc bảo hộ và xâm phạm các đối tượng sở hữu công nghiệp, do vậy, cho phép họ khởi kiện tại Tòa án là điều cần thiết. Chủ thể khởi kiện quyền sở hữu công nghiệp có thể chia thành ba nhóm: (i) Chủ thể tranh chấp về quyền đăng ký; (ii) Tác giả và chủ sở hữu; (iii) Chủ thể nhận chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp.

- Nhóm chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp đầu tiên là các cá nhân, tổ chức tranh chấp về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Một số đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền trên cơ sở đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc xác định chủ thể nào có quyền đăng ký là vô cùng quan trọng vì đây chính là cơ hội để hưởng quyền sở hữu đối tượng đó. Quyền đăng ký sở hữu công nghiệp được quy định tại các điều 86, 87, 88 Luật Sở hữu trí tuệ. Chủ thể có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí là tác giả hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc. Quyền đăng ký nhãn hiệu thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc đóng vai trò đưa sản phẩm ra thị trường… Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà nước. Trong đó, Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương thực hiện quyền đăng ký. Khi quyền đăng ký có tranh chấp, các chủ thể liên quan được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nhóm chủ thể thứ hai là tác giả và chủ sở hữu đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm: Tác giả, đồng tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; chủ sở hữu giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, đăng ký quốc tế nhãn hiệu được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng; chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, tên thương mại; cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho cá nhân, tổ chức được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý; tổ chức, cá nhân có đối tượng sở hữu công nghiệp liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

+ Chủ thể khởi kiện là tác giả: Dựa vào những nét đặc thù về bản chất, các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp theo thông lệ quốc tế được chia thành hai đối tượng[4] là: (i) Đối tượng mà việc bảo hộ xuất phát từ giá trị của sự sáng tạo, bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và bí mật kinh doanh. Điểm nổi bật trong điều kiện bảo hộ của các đối tượng này đó là thành quả của sự sáng tạo. Tôn trọng giá trị trí tuệ trong quá trình tạo ra sản phẩm, pháp luật bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng này được phép khai thác độc quyền trong thời hạn bảo hộ tương ứng; (ii) Những đối tượng còn lại bao gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại. Bản chất của những đối tượng này là dấu hiệu có khả năng truyền tin tới người tiêu dùng về mối liên hệ giữa sản phẩm, dịch vụ đang lưu thông trên thị trường với nhà sản xuất, nhà cung cấp nhằm phân biệt các sản phẩm cùng loại[5]. Do đó, chủ thể là “tác giả” chỉ được đặt ra cho nhóm đối tượng thứ nhất bảo hộ trên cơ sở thành quả sáng tạo bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.

+ Chủ thể khởi kiện là chủ sở hữu: Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là chủ thể trực tiếp khai thác giá trị lợi ích từ tài sản trí tuệ nên đây là nhóm chủ thể khởi kiện quan trọng và phổ biến nhất, đặc biệt là khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên thực tế. Tại các quốc gia khác, chủ thể khởi kiện tranh chấp sở hữu công nghiệp phổ biến nhất cũng là chủ sở hữu, vì hơn ai hết đây là chủ thể bị ảnh hưởng lớn nhất khi có tranh chấp xảy ra.

+ Chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp chỉ dẫn địa lý: Với đặc thù chỉ dẫn địa lý là đối tượng thuộc sở hữu Nhà nước (Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ) và Nhà nước trao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân, trong trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến chỉ dẫn địa lý thì chính các tổ chức, cá nhân bị xâm phạm quyền trực tiếp sẽ thực hiện việc khởi kiện.

Bên cạnh đó, còn có những chủ thể được nhận chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: Người thừa kế hợp pháp của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; hoặc người thừa kế hợp pháp, người kế thừa quyền sở hữu công nghiệp của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp; cá nhân, tổ chức được chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể quyền khác theo quy định của pháp luật. Quyền sở hữu công nghiệp mang bản chất là một loại quyền tài sản, do đó chủ sở hữu có quyền chuyển giao cho các chủ thể khác trong khuôn khổ quy định pháp luật. Bên cạnh đó, bảo hộ sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng là bảo hộ có thời hạn, do vậy có thể khi chủ sở hữu không còn tồn tại thì quyền sở hữu công nghiệp vẫn còn được bảo hộ, lúc này quyền được chuyển giao cho người thừa kế hoặc kế thừa hợp pháp. Những chủ thể nhận chuyển giao quyền (bao gồm quyền sở hữu và quyền sử dụng) cũng có quyền khởi kiện vụ án dân sự liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp mình sở hữu hoặc sử dụng.

Từ những quy định chung trong Bộ luật Tố tụng dân sự, pháp luật sở hữu trí tuệ đã có các quy định cụ thể những tổ chức, cá nhân nào có quyền khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp. Điểm chung của các chủ thể này là quyền và lợi ích của họ có liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp. Để có thể thực hiện quyền khởi kiện, ngoài việc thỏa mãn về yêu cầu chủ thể nêu trên thì pháp luật còn đặt ra điều kiện khởi kiện.

3. Điều kiện khởi kiện

Bên cạnh điều kiện khởi kiện chung được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyền khởi kiện tranh chấp sở hữu công nghiệp còn có những điều kiện riêng, xuất phát từ đặc trưng của loại tài sản này. Khởi kiện là giai đoạn đầu tiên của quá trình giải quyết một vụ án dân sự tại Tòa án, là giai đoạn mà người khởi kiện đưa ra yêu cầu của mình để Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, yêu cầu của người khởi kiện không phải đương nhiên được Tòa án chấp nhận mà chỉ được chấp nhận nếu Tòa án xét thấy rằng yêu cầu này là có căn cứ và hợp pháp. Điều kiện khởi kiện là giả thiết phải có lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp, cụ thể đó là các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đang xem xét phải được xác lập quyền hợp pháp và được bảo hộ theo quy định pháp luật. Các đối tượng được bảo hộ vừa là điều kiện để thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự vừa là động lực để thúc đẩy các đương sự tham gia tố tụng[6].

Việc bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp cần xem xét đến căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ. Chỉ khi đối tượng được xác lập quyền hợp pháp và còn thời hạn bảo hộ thì mới có cơ sở thực hiện quyền khởi kiện.

- Điều kiện về căn cứ xác lập quyền

Để khởi kiện vụ án dân sự về quyền sở hữu công nghiệp, trước hết quyền sở hữu công nghiệp phải được xác lập theo các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 6 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Khi quyết định gửi đơn khởi kiện, tổ chức, cá nhân phải gửi kèm theo các tài liệu chứng minh mình là chủ thể có quyền. Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền dựa trên văn bằng bảo hộ được cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc thông qua việc sử dụng hợp pháp đối tượng đó. Do vậy, điều kiện về căn cứ xác lập quyền cũng được nghiên cứu theo hai nhóm đối tượng.

+ Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Cụ thể, để được bảo hộ thì tác giả, chủ sở hữu đối tượng phải thực hiện thủ tục đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ. Qua quá trình xử lý đơn đăng ký, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành cấp văn bằng bảo hộ cho các đối tượng đáp ứng điều kiện bảo hộ. Nếu chưa thực hiện thủ tục đăng ký, cơ chế bảo hộ của Nhà nước chưa được thực thi thì các tổ chức, cá nhân không thể khởi kiện cho các đối tượng này. Khi khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể chứng minh mình đã xác lập quyền hợp pháp bằng văn bằng bảo hộ được cấp hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia các đối tượng trên. Nếu nhãn hiệu đăng ký quốc tế thì tài liệu chứng minh chủ thể quyền là bản gốc giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam hoặc các bản sao công báo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), giấy chứng nhận đăng ký quốc tế, công báo sở hữu công nghiệp của Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp có được các đối tượng trên thông qua chuyển nhượng quyền sở hữu, thì phải có hợp đồng chuyển nhượng được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ (hình thức hợp đồng theo quy định tại Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ).

+ Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng hợp pháp: Ngoài các đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ, các đối tượng sở hữu công nghiệp như bí mật kinh doanh, tên thương mại và nhãn hiệu nổi tiếng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng mà không cần qua thủ tục đăng ký theo điểm a, b, c khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ. Xác lập trên cơ sở sử dụng do đó khi có tranh chấp xảy ra, việc chứng minh quyền sở hữu hợp pháp các đối tượng này tương đối phức tạp hơn so với các đối tượng xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ.

- Điều kiện về thời hạn bảo hộ

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ có thời hạn theo quy định của pháp luật mà trong thời hạn đó, quyền sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo vệ, chống lại sự xâm phạm của các chủ thể khác. Bảo hộ sở hữu trí tuệ đề cao và tôn vinh giá trị của các tài sản sáng tạo, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhưng mặt khác cũng cần có sự hài hoà lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia. Thời hạn bảo hộ được tính toán phù hợp sao cho trong khoảng thời gian này, chủ thể sáng tạo/chủ sở hữu quyền đã nhận lại được những lợi ích từ hoạt động lao động sáng tạo đó. Hết thời hạn bảo hộ, các tài sản trí tuệ được phục vụ rộng rãi cho mọi người, trở thành tài sản chung của nhân loại. Do đó, một trong những điều kiện khởi kiện quyền sở hữu công nghiệp là đối tượng đó còn trong thời hạn bảo hộ. Quy định về thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng dựa trên căn cứ xác lập quyền của các đối tượng này. Hầu hết, các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp xác lập quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ có thời hạn bảo hộ xác định. Thời hạn bảo hộ các đối tượng này được quy định tại Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ và được tính dựa trên ngày nộp đơn và ngày cấp văn bằng bảo hộ. Hết thời hạn này, việc bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp chấm dứt tạo cơ hội cho các chủ thể khác trong xã hội tiếp cận những sản phẩm mới. Do vậy, khi đã hết thời hạn bảo hộ thì việc khởi kiện không còn ý nghĩa.

Đối tượng xác lập quyền trên cơ sở sử dụng hợp pháp: Luật Sở hữu trí tuệ không quy định thời hạn bảo hộ cụ thể cho các đối tượng này. Có thể hiểu, đối với tên thương mại nhãn hiệu nổi tiếng và bí mật kinh doanh, thời hạn bảo hộ sẽ chấm dứt khi các đối tượng này không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ. Cụ thể, mục III.2.1.b Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP quy định: “Phải căn cứ vào các điều kiện bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp là nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, quy định tại các mục 4, 5 và 7 Chương VII của Luật Sở hữu trí tuệ” để xác định việc bảo hộ hợp pháp.

Nếu hết thời hạn bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bị chấm dứt hoặc bị huỷ bỏ hiệu lực, thì các quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp không còn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ. Theo Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP, Toà án chỉ thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết nếu hành vi xâm phạm xảy ra vào thời điểm văn bằng bảo hộ còn hiệu lực hoặc đối tượng quyền sở hữu công nghiệp vẫn còn trong thời hạn được bảo hộ. Liệu rằng chủ thể có quyền khởi kiện cho hành vi xâm phạm xảy ra trong quá khứ và nay đã chấm dứt thời hạn bảo hộ hay không? Cần phải làm rõ trường hợp hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra vào thời điểm mà thời hạn bảo hộ đối tượng này vẫn còn nhưng vào thời điểm khởi kiện thì đã hết thời hạn bảo hộ. Trong trường hợp này, việc khởi kiện có phù hợp với quy định pháp luật không và có ý nghĩa đối với các bên trong tranh chấp không? Chẳng hạn, Công ty A là chủ văn bằng bảo hộ sáng chế phát hiện Công ty B vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình và gây ra thiệt hại nhất định. Tuy nhiên, sau khi văn bằng bảo hộ sáng chế đã chấm dứt hiệu lực, Công ty A mới khởi kiện Công ty B yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo tác giả, trường hợp này vẫn đáp ứng điều kiện khởi kiện về thời hạn bảo hộ. Vào thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm, đối tượng này vẫn còn được bảo hộ và do vậy đáp ứng tiêu chí “có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Tất nhiên, khi xem xét về mức độ và phạm vi của hành vi xâm phạm thì chỉ tính trong thời hạn bảo hộ của đối tượng sở hữu công nghiệp.

Khởi kiện vụ án dân sự để vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước là một hình thức để chủ thể quyền được tiếp cận công lý, là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Hiệp định TRIPS cũng đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo quyền tham gia thủ tục tố tụng dân sự một cách đúng đắn, công bằng và có chứng cứ, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm. Trong đó, đảm bảo quyền khởi kiện là yêu cầu tiên quyết. Đối với quyền sở hữu công nghiệp, căn cứ xác lập quyền và cơ chế bảo hộ có nhiều điểm khác biệt so với các loại tài sản thông thường, do đó chủ thể khởi kiện và điều kiện khởi kiện mang tính đặc thù.

ThS. Nguyễn Phương Thảo

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh





[1]. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2008), Sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, Nxb. Tư pháp, tr. 394.

[2]. Từ điển Luật học (1999), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 253.

[3]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh, tr. 333.

[4]. Đinh Thị Mai Phương (2009), Về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 13.

[5]. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Chủ biên Lê Hồng Hạnh và Đinh Thị Mai Phương, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 66, 67.

[6]. Tống Công Cường (2007), Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Nghiên cứu so sánh, Nxb. Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 215 - 217.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: