Thứ tư 21/01/2026 00:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; theo đó, doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường nước hoặc xảy ra sự cố môi trường nước liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thì doanh nghiệp này phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất nhằm bù đắp những tổn thất cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Bài viết này phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền khởi kiện của người bị thiệt hại trong các vụ doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước, chỉ ra một số bất cập của pháp luật về vấn đề này, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để tạo điều kiện cho người bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện.


1. Cơ sở pháp lý và điều kiện để thực hiện khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

Về cơ sở pháp lý, hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có các quy định bảo đảm quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước. Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại” (Điều 170). Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu BTTH khi bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác (khoản 1 Điều 584). Bộ luật này còn quy định các căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH và nguyên tắc BTTH tại Điều 584 và Điều 585. Trong lĩnh vực BTTH do làm ô nhiễm môi trường, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi” (Điều 602).

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định tổ chức gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, BTTH và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật (khoản 8 Điều 4, khoản 3 Điều 164). Khi khởi kiện để giải quyết yêu cầu BTTH sẽ áp dụng quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng (khoản 3 Điều 161).

Luật Tài nguyên nước năm 2012 cũng quy định: “Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố ô nhiễm nguồn nước, ngoài việc bị xử phạt vi phạm theo quy định của pháp luật còn có trách nhiệm khắc phục hậu quả ô nhiễm, suy thoái nguồn nước trước mắt, cải thiện, phục hồi chất lượng nước về lâu dài và bồi thường thiệt hại do mình gây ra” (điểm d khoản 1 Điều 27).

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định, tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng là tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án (Điều 26).

Về điều kiện, người khởi kiện phải bảo đảm các điều kiện sau để chứng minh một trường hợp có phát sinh trách nhiệm BTTH, cụ thể:

Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra: Có thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH, vừa là cơ sở để tính mức bồi thường. Bởi mục đích của kiện đòi BTTH là khoản bù đắp cho những tổn thất mà bên yêu cầu đã phải chịu. Khi có thiệt hại, mới xem xét đến các yếu tố còn lại của căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại về ô nhiễm môi trường nước được quy định tại Điều 163 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 bao gồm: (i) Thiệt hại làm môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích. Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường hay còn gọi là thiệt hại đối với môi trường tự nhiên được thể hiện qua chất lượng của các yếu tố môi trường bị tác động thấp hơn với tiêu chuẩn chất lượng; sự suy giảm hệ sinh thái, giống loài; khả năng phục hồi, tái tạo. Loại thiệt hại này thường được gọi là thiệt hại trực tiếp hay thiệt hại nguyên phát và gắn liền với chủ thể là Nhà nước, cộng đồng dân cư; (ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Cách xác định thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản được quy định lần lượt tại Điều 591, 590, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, phải có hành vi gây ra thiệt hại: Doanh nghiệp có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm BTTH khi: (i) Hành vi gây ra thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật bảo vệ môi trường[1], bao gồm hành vi thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường[2] như xả thải chưa qua xử lý hoặc không thực hiện hành vi mà pháp luật quy định doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện như không tiến hành đánh giá tác động môi trường khi triển khai dự án… gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng của cá nhân, tổ chức; (ii) Xác định cụ thể hành vi do doanh nghiệp nào thực hiện[3], doanh nghiệp này có năng lực chủ thể (tư cách pháp nhân) và có khả năng thực hiện việc BTTH hay không. Bởi, trong việc gây ô nhiễm môi trường nước tại một lưu vực không phải chỉ do doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm, hoặc khi có thiệt hại nhưng lại không xác định được chủ thể gây ô nhiễm.

Thứ ba, có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: Khi có thiệt hại xảy ra, người khởi kiện cần phải chứng minh rằng hậu quả này là kết quả tất yếu của hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp, ngược lại, hành vi gây ô nhiễm môi trường nước là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra[4]. Bởi lẽ, có những hành vi vi phạm pháp luật môi trường nhưng không làm rõ được mối quan hệ với thiệt hại xảy ra, nên chủ thể thực hiện hành vi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc xác định mối quan hệ giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực môi trường nói chung, môi trường nước nói riêng là khó xác định. Các thiệt hại không xảy ra tức thời ngay sau khi có hành vi, mà có những thiệt hại cần khoảng thời gian rất dài, như việc xác định thiệt hại về sức khỏe phải cần đến 05 năm đến 10 năm mới thấy rõ. Trong quá trình xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp và thiệt hại xảy ra, cần lưu ý: (i) Thời gian của mối quan hệ nhân quả sẽ ảnh hưởng thời hiệu yêu cầu BTTH; (ii) Tính hiển nhiên trong quan hệ nhân quả; (iii) Tính khách quan trong quan hệ nhân quả mà không ai có thể tác động để xóa bỏ mối quan hệ này.

Thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi: Khi có khởi kiện yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước được thực hiện theo quy định về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng[5], lỗi không phải là yếu tố để doanh nghiệp có trách nhiệm bồi thường có thể loại bỏ hoặc giảm trừ trách nhiệm[6]. Điều này có nghĩa, chỉ cần có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước thì doanh nghiệp có hành vi vi phạm phải có trách nhiệm BTTH. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc: Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân[7]. Hơn nữa, do hậu quả rất lớn, nguy hiểm đối với môi trường nước của hành vi gây ô nhiễm môi trường đối với xã hội, nên doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước đều bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.

2. Một số bất cập của pháp luật trong việc thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

Thứ nhất, bất cập về quyền khởi kiện của các chủ thể bị thiệt hại

Trong vụ kiện dân sự đòi BTTH thì quyền khởi kiện là vấn đề pháp lý đầu tiên. Bởi vì, phải thực hiện được quyền khởi kiện mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp[8]. Tuy nhiên, đặc thù của tranh chấp về môi trường là có hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại không chỉ tại một khu vực hành chính mà tại nhiều tỉnh, thành. Không phải tất cả các cá nhân bị thiệt hại đều có thể trực tiếp thực hiện quyền khởi kiện và nếu có thực hiện thì sẽ dẫn đến hiện tượng trong cùng một vụ ô nhiễm môi trường, có bao nhiêu người bị thiệt hại thì tương ứng với số đơn khởi kiện và Tòa án phải thụ lý tách ra thành từng vụ việc khác nhau. Điều này vừa gây áp lực cho Tòa án thụ lý đơn khởi kiện nhưng cũng là trở ngại cho các hộ dân bị thiệt hại trong quá trình cung cấp chứng cứ để chứng minh các điều kiện để tiến hành khởi kiện. Mặc dù, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về nhập vụ án tại Điều 42, nhưng trên thực tế, căn cứ để nhập nhiều vụ án thành một vụ án không phụ thuộc vào nhu cầu của người khởi kiện mà phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của Tòa án. Do đó, nhu cầu về quyền khởi kiện tập thể thông qua cơ chế đại diện là thực sự cần thiết.

Thứ hai, bất cập về nghĩa vụ chứng minh thiệt hại

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bên yêu cầu bên khởi kiện phải chứng minh cho yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp[9]. Đây là một “gánh nặng” đã làm nhiều người bị thiệt hại phải từ bỏ quyền khởi kiện của mình. Bởi vì, việc điều tra, giám định để xác định mức độ thiệt hại, mối liên hệ nhân quả giữa hành vi xả thải vào môi trường nước và thiệt hại do nguồn nước bị ô nhiễm yêu cầu phải bỏ chi phí cao ngay từ ban đầu. Bên cạnh đó, các hộ nông dân là chủ thể chủ yếu chịu sự tác động từ việc ô nhiễm nguồn nước, họ bị hạn chế bởi nhận thức quy định pháp luật và không rõ cách thức để yêu cầu BTTH bằng việc khởi kiện. Vì vậy, các yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước hiện nay tại Việt Nam chủ yếu giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Nếu có khởi kiện ra Tòa thì cũng được hòa giải tại Tòa[10].

Thứ ba, bất cập về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước là 03 năm[11], kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Mặc dù thời hiệu này đã được kéo dài thêm 01 năm so với Bộ luật Dân sự năm 2005 nhưng vẫn còn những tranh cãi về việc cần kéo dài thời hiệu khởi kiện[12]. Bởi, pháp luật đã không có sự tách bạch giữa thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH về tài sản và yêu cầu BTTH đối với sức khỏe và tính mạng con người cũng như việc đòi BTTH đối với môi trường tự nhiên. Trong khi hai loại thiệt hại sức khỏe, tính mạng con người và thiệt hại về môi trường tự nhiên cần nhiều thời gian hơn để xác định có hậu quả xảy ra.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật

Thực tế cho thấy, các phương án giải quyết yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là thông qua phương thức hòa giải và thương lượng để chuyển hóa khoản tiền “bồi thường” thành khoản tiền “hỗ trợ” người dân bị thiệt hại và hỗ trợ cải tạo môi trường. Nếu có khởi kiện, thì thời hạn giải quyết quá lâu hoặc được hòa giải ngay tại Tòa án. Những khó khăn, vướng mắc mà các thẩm phán gặp phải khi xử lý các vụ kiện giải quyết yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước một phần từ việc các doanh nghiệp không hợp tác và không nhận trách nhiệm, nhưng lý do chính là sự thiếu vắng các quy định để hỗ trợ người bị thiệt hại tiến hành khởi kiện, hoặc nếu có thì mang tính chung chung và chưa được hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về quyền khởi kiện tập thể thông qua người đại diện. Để giảm áp lực cho Tòa án thụ lý từng vụ kiện và tạo điều kiện cho các hộ dân cùng bị thiệt hại có thể được BTTH do cùng chịu ảnh hưởng ô nhiễm môi trường nước, pháp luật cần ghi nhận hình thức khởi kiện tập thể theo hướng: (i) Tòa án cần có thông báo rộng rãi về việc nhận đơn khởi kiện của một hộ gia đình khi có yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp trên địa bàn gây ô nhiễm môi trường nước ngay sau khi Tòa án nhận được đơn; (ii) Quy định về chủ thể có quyền đại diện người bị thiệt hại khi có ủy quyền hoặc là đại diện đương nhiên để khởi kiện yêu cầu BTTH. Thực tế cho thấy rằng, rất ít có vụ kiện mà chính cơ quan nhà nước đứng ra khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp phải BTTH khi có thiệt hại về tài sản, tính mạng và sức khỏe của người dân; nếu có, thì vụ việc đó vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, đó là vụ kiện mà Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Tư pháp là đại diện pháp lý (do Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ủy quyền) để khởi kiện yêu cầu chủ tàu Kasco Monrovia quốc tịch Liberia bồi thường hơn 14 tỷ đồng[13] nhưng chưa được giải quyết.

Có một số tranh luận về việc cơ quan nào sẽ đứng ra đại diện khởi kiện khi mà hiện nay cũng chưa có quy định cụ thể về quyền khởi kiện yêu cầu BTTH đối với môi trường tự nhiên của cơ quan quản lý nhà nước. Vì thế, khi có thiệt hại về tính mạng, tài sản và sức khỏe của các hộ dân thì người bị thiệt hại sẽ “đơn thương độc mã” trong vụ kiện đòi BTTH. Mặc dù quy định pháp luật đã quy định về chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu BTTH để bảo vệ lợi ích công cộng liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ quan tài nguyên và môi trường[14], nhưng lại không rõ là Bộ Tài Nguyên và Môi trường hay Sở Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, cũng có đề xuất là tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hoặc các tổ chức xã hội mà những nguyên đơn là thành viên như Hội Nông dân có thể làm đại diện nhằm giúp người được bồi thường bảo vệ được quyền lợi của mình tốt hơn. Tuy nhiên, đề xuất này chưa áp dụng được trong giai đoạn hiện nay, bởi chưa có Luật về Hội nên chưa rõ về quyền hạn và chức năng của các hội này. Vì vậy, Ủy ban nhân dân lại là lựa chọn hợp lý hơn, bởi đây là cơ quan hành chính địa phương[15] có nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên môi trường tại địa phương[16].

Thứ hai, tham khảo quy định “hoán đổi nghĩa vụ chứng minh” của pháp luật nước ngoài. Để khắc phục nghĩa vụ chứng minh trong vụ kiện gây ô nhiễm môi trường nước, pháp luật Việt Nam cần có sự thay đổi theo hướng đưa vào luật quy định “hoán đổi nghĩa vụ chứng minh” như pháp luật Trung Quốc[17]. Các doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm chứng minh các cáo buộc là không có căn cứ hay đưa ra quyền miễn giảm trách nhiệm pháp lý cùng với việc phải chứng minh không có mối liên hệ giữa thiệt hại xảy ra và hành vi của các doanh nghiệp. Theo đó, người khởi kiện chỉ cần chứng minh có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Việc chứng minh mức độ thiệt hại, chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra thuộc về doanh nghiệp. Để hướng dẫn các bên trong việc chứng minh thiệt hại[18], Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan xây dựng văn bản hướng dẫn cách xác định thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của chủ thể gây ô nhiễm (chủ yếu là các doanh nghiệp).

Thứ ba, sửa đổi thời hiệu khởi kiện. Như đã phân tích, việc không phân biệt rõ ràng giữa thiệt hại đối với môi trường tự nhiên với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của cá nhân và thiệt hại về tài sản sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Sự suy giảm của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người cần phải có khoảng thời gian dài mới thấy rõ hậu quả. Vì vậy, pháp luật cần tách thời hiệu yêu cầu BTTH đối với các loại thiệt hại trên và sửa đổi thời hiệu khởi kiện đòi BTTH về tính mạng, sức khỏe đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung là 10 năm.

ThS. Đào Nguyễn Hương Duyên
Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh



[1]. Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[3]. Khoản 6 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Điều 161(3) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[6]. Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[8]. Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Vụ 4.700 hộ dân tại tỉnh Đồng Nai làm hồ sơ khởi kiện đã hòa giải tại cấp sơ thẩm; Vụ 33 hộ dân tại sông Chà Và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi kiện 13 doanh nghiệp tại địa phương và yêu cầu mức bồi thường hơn 13 tỷ, sau đó, được hòa giải tại cấp phúc thẩm theo Bản án số 84/2017/DS-PT ngày 01/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường”.

[11]. Khoản 1 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[12]. Bùi Đức Hiển (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 02+03, tháng 02/2020.

[13]. Tân Châu (2014), Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh kiện chủ tàu Kasco đòi BTTH 14,3 tỷ đồng về môi trường

[14]. Khoản 4 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[15]. Khoản 1 Điều 144 Hiến pháp năm 2013.

[16]. Koản 3 Điều 21, khoản 3 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[17]. Nguyễn Minh Thư & Trần Thị Hải Hà (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp - Kinh nghiệm của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/trach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-do-gay-o-nhiem-moi-truong-cua-doanh-nghiep-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam truy cập ngày 11/6/2021

[18]. Khoản 2 Điều 132 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: