Thứ hai 10/08/2026 20:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp là một loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng; theo đó, doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật làm suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường nước hoặc xảy ra sự cố môi trường nước liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác thì doanh nghiệp này phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất nhằm bù đắp những tổn thất cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Bài viết này phân tích quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền khởi kiện của người bị thiệt hại trong các vụ doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước, chỉ ra một số bất cập của pháp luật về vấn đề này, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật để tạo điều kiện cho người bị thiệt hại thực hiện quyền khởi kiện.


1. Cơ sở pháp lý và điều kiện để thực hiện khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

Về cơ sở pháp lý, hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có các quy định bảo đảm quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (BTTH) đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước. Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại” (Điều 170). Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu BTTH khi bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác (khoản 1 Điều 584). Bộ luật này còn quy định các căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH và nguyên tắc BTTH tại Điều 584 và Điều 585. Trong lĩnh vực BTTH do làm ô nhiễm môi trường, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi” (Điều 602).

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định tổ chức gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, BTTH và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật (khoản 8 Điều 4, khoản 3 Điều 164). Khi khởi kiện để giải quyết yêu cầu BTTH sẽ áp dụng quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng (khoản 3 Điều 161).

Luật Tài nguyên nước năm 2012 cũng quy định: “Tổ chức, cá nhân gây ra sự cố ô nhiễm nguồn nước, ngoài việc bị xử phạt vi phạm theo quy định của pháp luật còn có trách nhiệm khắc phục hậu quả ô nhiễm, suy thoái nguồn nước trước mắt, cải thiện, phục hồi chất lượng nước về lâu dài và bồi thường thiệt hại do mình gây ra” (điểm d khoản 1 Điều 27).

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định, tranh chấp về BTTH ngoài hợp đồng là tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án (Điều 26).

Về điều kiện, người khởi kiện phải bảo đảm các điều kiện sau để chứng minh một trường hợp có phát sinh trách nhiệm BTTH, cụ thể:

Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra: Có thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH, vừa là cơ sở để tính mức bồi thường. Bởi mục đích của kiện đòi BTTH là khoản bù đắp cho những tổn thất mà bên yêu cầu đã phải chịu. Khi có thiệt hại, mới xem xét đến các yếu tố còn lại của căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại về ô nhiễm môi trường nước được quy định tại Điều 163 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 bao gồm: (i) Thiệt hại làm môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích. Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường hay còn gọi là thiệt hại đối với môi trường tự nhiên được thể hiện qua chất lượng của các yếu tố môi trường bị tác động thấp hơn với tiêu chuẩn chất lượng; sự suy giảm hệ sinh thái, giống loài; khả năng phục hồi, tái tạo. Loại thiệt hại này thường được gọi là thiệt hại trực tiếp hay thiệt hại nguyên phát và gắn liền với chủ thể là Nhà nước, cộng đồng dân cư; (ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra. Cách xác định thiệt hại đối với tính mạng, sức khỏe và tài sản được quy định lần lượt tại Điều 591, 590, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thứ hai, phải có hành vi gây ra thiệt hại: Doanh nghiệp có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm BTTH khi: (i) Hành vi gây ra thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật bảo vệ môi trường[1], bao gồm hành vi thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường[2] như xả thải chưa qua xử lý hoặc không thực hiện hành vi mà pháp luật quy định doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện như không tiến hành đánh giá tác động môi trường khi triển khai dự án… gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng của cá nhân, tổ chức; (ii) Xác định cụ thể hành vi do doanh nghiệp nào thực hiện[3], doanh nghiệp này có năng lực chủ thể (tư cách pháp nhân) và có khả năng thực hiện việc BTTH hay không. Bởi, trong việc gây ô nhiễm môi trường nước tại một lưu vực không phải chỉ do doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm, hoặc khi có thiệt hại nhưng lại không xác định được chủ thể gây ô nhiễm.

Thứ ba, có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: Khi có thiệt hại xảy ra, người khởi kiện cần phải chứng minh rằng hậu quả này là kết quả tất yếu của hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp, ngược lại, hành vi gây ô nhiễm môi trường nước là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra[4]. Bởi lẽ, có những hành vi vi phạm pháp luật môi trường nhưng không làm rõ được mối quan hệ với thiệt hại xảy ra, nên chủ thể thực hiện hành vi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc xác định mối quan hệ giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực môi trường nói chung, môi trường nước nói riêng là khó xác định. Các thiệt hại không xảy ra tức thời ngay sau khi có hành vi, mà có những thiệt hại cần khoảng thời gian rất dài, như việc xác định thiệt hại về sức khỏe phải cần đến 05 năm đến 10 năm mới thấy rõ. Trong quá trình xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp và thiệt hại xảy ra, cần lưu ý: (i) Thời gian của mối quan hệ nhân quả sẽ ảnh hưởng thời hiệu yêu cầu BTTH; (ii) Tính hiển nhiên trong quan hệ nhân quả; (iii) Tính khách quan trong quan hệ nhân quả mà không ai có thể tác động để xóa bỏ mối quan hệ này.

Thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi: Khi có khởi kiện yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước được thực hiện theo quy định về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng[5], lỗi không phải là yếu tố để doanh nghiệp có trách nhiệm bồi thường có thể loại bỏ hoặc giảm trừ trách nhiệm[6]. Điều này có nghĩa, chỉ cần có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước thì doanh nghiệp có hành vi vi phạm phải có trách nhiệm BTTH. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc: Bảo vệ môi trường là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân[7]. Hơn nữa, do hậu quả rất lớn, nguy hiểm đối với môi trường nước của hành vi gây ô nhiễm môi trường đối với xã hội, nên doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước đều bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.

2. Một số bất cập của pháp luật trong việc thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước

Thứ nhất, bất cập về quyền khởi kiện của các chủ thể bị thiệt hại

Trong vụ kiện dân sự đòi BTTH thì quyền khởi kiện là vấn đề pháp lý đầu tiên. Bởi vì, phải thực hiện được quyền khởi kiện mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp[8]. Tuy nhiên, đặc thù của tranh chấp về môi trường là có hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hộ gia đình, cá nhân bị thiệt hại không chỉ tại một khu vực hành chính mà tại nhiều tỉnh, thành. Không phải tất cả các cá nhân bị thiệt hại đều có thể trực tiếp thực hiện quyền khởi kiện và nếu có thực hiện thì sẽ dẫn đến hiện tượng trong cùng một vụ ô nhiễm môi trường, có bao nhiêu người bị thiệt hại thì tương ứng với số đơn khởi kiện và Tòa án phải thụ lý tách ra thành từng vụ việc khác nhau. Điều này vừa gây áp lực cho Tòa án thụ lý đơn khởi kiện nhưng cũng là trở ngại cho các hộ dân bị thiệt hại trong quá trình cung cấp chứng cứ để chứng minh các điều kiện để tiến hành khởi kiện. Mặc dù, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về nhập vụ án tại Điều 42, nhưng trên thực tế, căn cứ để nhập nhiều vụ án thành một vụ án không phụ thuộc vào nhu cầu của người khởi kiện mà phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của Tòa án. Do đó, nhu cầu về quyền khởi kiện tập thể thông qua cơ chế đại diện là thực sự cần thiết.

Thứ hai, bất cập về nghĩa vụ chứng minh thiệt hại

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định bên yêu cầu bên khởi kiện phải chứng minh cho yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp[9]. Đây là một “gánh nặng” đã làm nhiều người bị thiệt hại phải từ bỏ quyền khởi kiện của mình. Bởi vì, việc điều tra, giám định để xác định mức độ thiệt hại, mối liên hệ nhân quả giữa hành vi xả thải vào môi trường nước và thiệt hại do nguồn nước bị ô nhiễm yêu cầu phải bỏ chi phí cao ngay từ ban đầu. Bên cạnh đó, các hộ nông dân là chủ thể chủ yếu chịu sự tác động từ việc ô nhiễm nguồn nước, họ bị hạn chế bởi nhận thức quy định pháp luật và không rõ cách thức để yêu cầu BTTH bằng việc khởi kiện. Vì vậy, các yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước hiện nay tại Việt Nam chủ yếu giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải. Nếu có khởi kiện ra Tòa thì cũng được hòa giải tại Tòa[10].

Thứ ba, bất cập về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước là 03 năm[11], kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Mặc dù thời hiệu này đã được kéo dài thêm 01 năm so với Bộ luật Dân sự năm 2005 nhưng vẫn còn những tranh cãi về việc cần kéo dài thời hiệu khởi kiện[12]. Bởi, pháp luật đã không có sự tách bạch giữa thời hiệu khởi kiện yêu cầu BTTH về tài sản và yêu cầu BTTH đối với sức khỏe và tính mạng con người cũng như việc đòi BTTH đối với môi trường tự nhiên. Trong khi hai loại thiệt hại sức khỏe, tính mạng con người và thiệt hại về môi trường tự nhiên cần nhiều thời gian hơn để xác định có hậu quả xảy ra.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật

Thực tế cho thấy, các phương án giải quyết yêu cầu BTTH đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là thông qua phương thức hòa giải và thương lượng để chuyển hóa khoản tiền “bồi thường” thành khoản tiền “hỗ trợ” người dân bị thiệt hại và hỗ trợ cải tạo môi trường. Nếu có khởi kiện, thì thời hạn giải quyết quá lâu hoặc được hòa giải ngay tại Tòa án. Những khó khăn, vướng mắc mà các thẩm phán gặp phải khi xử lý các vụ kiện giải quyết yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường nước một phần từ việc các doanh nghiệp không hợp tác và không nhận trách nhiệm, nhưng lý do chính là sự thiếu vắng các quy định để hỗ trợ người bị thiệt hại tiến hành khởi kiện, hoặc nếu có thì mang tính chung chung và chưa được hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về quyền khởi kiện tập thể thông qua người đại diện. Để giảm áp lực cho Tòa án thụ lý từng vụ kiện và tạo điều kiện cho các hộ dân cùng bị thiệt hại có thể được BTTH do cùng chịu ảnh hưởng ô nhiễm môi trường nước, pháp luật cần ghi nhận hình thức khởi kiện tập thể theo hướng: (i) Tòa án cần có thông báo rộng rãi về việc nhận đơn khởi kiện của một hộ gia đình khi có yêu cầu BTTH đối với doanh nghiệp trên địa bàn gây ô nhiễm môi trường nước ngay sau khi Tòa án nhận được đơn; (ii) Quy định về chủ thể có quyền đại diện người bị thiệt hại khi có ủy quyền hoặc là đại diện đương nhiên để khởi kiện yêu cầu BTTH. Thực tế cho thấy rằng, rất ít có vụ kiện mà chính cơ quan nhà nước đứng ra khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp phải BTTH khi có thiệt hại về tài sản, tính mạng và sức khỏe của người dân; nếu có, thì vụ việc đó vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, đó là vụ kiện mà Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Tư pháp là đại diện pháp lý (do Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ủy quyền) để khởi kiện yêu cầu chủ tàu Kasco Monrovia quốc tịch Liberia bồi thường hơn 14 tỷ đồng[13] nhưng chưa được giải quyết.

Có một số tranh luận về việc cơ quan nào sẽ đứng ra đại diện khởi kiện khi mà hiện nay cũng chưa có quy định cụ thể về quyền khởi kiện yêu cầu BTTH đối với môi trường tự nhiên của cơ quan quản lý nhà nước. Vì thế, khi có thiệt hại về tính mạng, tài sản và sức khỏe của các hộ dân thì người bị thiệt hại sẽ “đơn thương độc mã” trong vụ kiện đòi BTTH. Mặc dù quy định pháp luật đã quy định về chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu BTTH để bảo vệ lợi ích công cộng liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường là cơ quan tài nguyên và môi trường[14], nhưng lại không rõ là Bộ Tài Nguyên và Môi trường hay Sở Tài nguyên và Môi trường. Ngoài ra, cũng có đề xuất là tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường hoặc các tổ chức xã hội mà những nguyên đơn là thành viên như Hội Nông dân có thể làm đại diện nhằm giúp người được bồi thường bảo vệ được quyền lợi của mình tốt hơn. Tuy nhiên, đề xuất này chưa áp dụng được trong giai đoạn hiện nay, bởi chưa có Luật về Hội nên chưa rõ về quyền hạn và chức năng của các hội này. Vì vậy, Ủy ban nhân dân lại là lựa chọn hợp lý hơn, bởi đây là cơ quan hành chính địa phương[15] có nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên môi trường tại địa phương[16].

Thứ hai, tham khảo quy định “hoán đổi nghĩa vụ chứng minh” của pháp luật nước ngoài. Để khắc phục nghĩa vụ chứng minh trong vụ kiện gây ô nhiễm môi trường nước, pháp luật Việt Nam cần có sự thay đổi theo hướng đưa vào luật quy định “hoán đổi nghĩa vụ chứng minh” như pháp luật Trung Quốc[17]. Các doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm chứng minh các cáo buộc là không có căn cứ hay đưa ra quyền miễn giảm trách nhiệm pháp lý cùng với việc phải chứng minh không có mối liên hệ giữa thiệt hại xảy ra và hành vi của các doanh nghiệp. Theo đó, người khởi kiện chỉ cần chứng minh có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Việc chứng minh mức độ thiệt hại, chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra thuộc về doanh nghiệp. Để hướng dẫn các bên trong việc chứng minh thiệt hại[18], Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan xây dựng văn bản hướng dẫn cách xác định thiệt hại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nước của chủ thể gây ô nhiễm (chủ yếu là các doanh nghiệp).

Thứ ba, sửa đổi thời hiệu khởi kiện. Như đã phân tích, việc không phân biệt rõ ràng giữa thiệt hại đối với môi trường tự nhiên với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của cá nhân và thiệt hại về tài sản sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Sự suy giảm của môi trường và thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người cần phải có khoảng thời gian dài mới thấy rõ hậu quả. Vì vậy, pháp luật cần tách thời hiệu yêu cầu BTTH đối với các loại thiệt hại trên và sửa đổi thời hiệu khởi kiện đòi BTTH về tính mạng, sức khỏe đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nói chung là 10 năm.

ThS. Đào Nguyễn Hương Duyên
Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh



[1]. Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[3]. Khoản 6 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Điều 161(3) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[6]. Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7]. Khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[8]. Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[9]. Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[10]. Vụ 4.700 hộ dân tại tỉnh Đồng Nai làm hồ sơ khởi kiện đã hòa giải tại cấp sơ thẩm; Vụ 33 hộ dân tại sông Chà Và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi kiện 13 doanh nghiệp tại địa phương và yêu cầu mức bồi thường hơn 13 tỷ, sau đó, được hòa giải tại cấp phúc thẩm theo Bản án số 84/2017/DS-PT ngày 01/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về “Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường”.

[11]. Khoản 1 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[12]. Bùi Đức Hiển (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản và các lợi ích hợp pháp khác do làm ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 02+03, tháng 02/2020.

[13]. Tân Châu (2014), Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh kiện chủ tàu Kasco đòi BTTH 14,3 tỷ đồng về môi trường

[14]. Khoản 4 Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 3 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[15]. Khoản 1 Điều 144 Hiến pháp năm 2013.

[16]. Koản 3 Điều 21, khoản 3 Điều 28 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[17]. Nguyễn Minh Thư & Trần Thị Hải Hà (2020), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp - Kinh nghiệm của Trung Quốc và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/trach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-do-gay-o-nhiem-moi-truong-cua-doanh-nghiep-kinh-nghiem-cua-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam truy cập ngày 11/6/2021

[18]. Khoản 2 Điều 132 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: