Thứ bảy 07/03/2026 10:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Bài viết này sẽ đề cập đến một số vấn đề như xác định các yếu tố làm cơ sở cho việc xây dựng quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; xem xét thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm.


1. Vài nét về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Trong lịch sử của hoạt động bảo hiểm, học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm, được đưa ra và phát triển ban đầu ở Anh[1]. Nghị viện Anh đã ban hành hai đạo luật là George II và George III (1774)[2] để quy định bảo hiểm tài sản và bảo hiểm nhân thọ tương ứng. Hai đạo luật đều yêu cầu rằng, người mua bảo hiểm cần phải có lợi ích nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Nếu như trong bảo hiểm về tài sản, quyền lợi được bảo hiểm được xem xét về sự mất mát, tổn thất về tài sản nếu có khi xảy ra rủi ro thì trong bảo hiểm con người quyền lợi bảo hiểm cũng có thể hiểu là những lợi ích có từ người được bảo hiểm[3]. Vì tham gia bảo hiểm nhân thọ là họ đang lo lắng về tương lai của bản thân, cho những người liên quan nhất định và cần tìm đến sự đảm bảo tài chính cho chính bản thân hoặc những người có liên quan khi rủi ro xảy ra rủi ro. Do vậy, mục đích của học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người còn được dùng nhằm để bảo đảm cho các công ty bảo hiểm chống lại các yêu cầu gian lận, bảo vệ người được bảo hiểm trước những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi tàn ác của những người khác có chủ đích gây ảnh hưởng đến tính mạng của người được bảo hiểm[4].

Hiểu một cách chung nhất, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ đặc biệt giữa bên tham gia hợp đồng bảo hiểm (người được bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng) phải có với đối tượng bảo hiểm cho dù đó là cuộc sống hay tài sản hay trách nhiệm mà anh ấy/cô ấy có thể được tiếp xúc[5]. Trong bảo hiểm nhân thọ thì quyền lợi có thể được bảo hiểm chính là một mối quan tâm bảo hiểm trong cuộc sống có thể được thiết lập trên một trong hai loại:

(i) Yếu tố 1: Mối quan tâm yêu thương và tình cảm không thể bảo đảm cho những người có quan hệ mật thiết với huyết thống hoặc hôn nhân. Trong yếu tố này, người mua bảo hiểm hoặc lo lắng về khả năng rủi ro làm cho người được bảo hiểm bị chết, bị các ảnh hưởng khác làm cho chính bản thân họ hoặc người thân bị ảnh hưởng. Về yếu tố này, pháp luật các quốc gia tương đối thống nhất trong quy định rằng đó là những chủ thể có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau.

(ii) Yếu tố 2: Cho tất cả những người khác, một lợi ích kinh tế hợp pháp và đáng kể trong cuộc sống liên tục, sức khỏe và sự an toàn của cơ thể của người được bảo hiểm[6]. Đây là những chủ thể mà người được bảo hiểm có những mối quan hệ lợi ích nhất định nên những người này cần được đảm bảo khoản lợi ích vật chất đó khi người được bảo hiểm gặp những rủi ro nhất định. Đối với phần quy định này thì các quốc gia khác nhau có thể có những quy định khác nhau.

2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Đây là quy định về quyền lợi được bảo hiểm nói chung cho hoạt động bảo hiểm. Nếu theo quy định đó, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Quy định này được làm rõ hơn tại khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010. Theo đó, bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Do vậy, quyền lợi được bảo hiểm của Việt Nam đã xác định cơ bản các yếu tố như: (i) Mối quan hệ dựa trên huyết thống và hôn nhân đang tồn tại hoặc ly hôn. Đây là mối quan hệ mà pháp luật thừa nhận, các thành viên có sự quan tâm, lo lắng lẫn nhau. Đồng thời pháp luật cũng quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của các chủ thể liên quan trên trong Luật Hôn nhân và Gia đình[7]; (ii) Mối quan hệ cấp dưỡng khác (nếu có) theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác.

Đánh giá quy định này, tác giả cho rằng: (i) Quy định này còn có sự trùng lắp. Bởi lẽ, trong điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định một trong các chủ thể mà người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Tuy nhiên, theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 xác định rằng, “quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Do vậy, người khác ở đây có thể hiểu là người mà bên mua bảo hiểm có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Tuy nhiên, điều này nó sẽ trùng với quy định của điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010; (ii) Quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ còn chưa đầy đủ. Pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành mới chỉ nêu rõ được yếu tố 1 và một phần yếu tố 2 (đã được nêu ở phần 1 bài viết). Theo đó, pháp luật chưa xác định đa dạng hơn về những người khác có những quyền lợi được bảo hiểm khác, chẳng hạn như người sử dụng lao động và người lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã có phát sinh vấn đề mở rộng hơn so với quy định này. Đó là rất nhiều quy tắc bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận cho phép tổ chức (người sử dụng lao động) mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Quy định này được coi là một biện pháp, chính sách nhằm thu hút, giữ chân người lao động trong các doanh nghiệp[8].

Điều này đã và đang gây ra không thống nhất về mặt lý luận. Theo đó, có hai nhóm quan điểm:

Thứ nhất, đây là các sản phẩm chưa đúng quy định. Vì rõ ràng, trong quy định tại khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đều xác định người mua bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm cho người khác khi có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong khi đó, mối quan hệ giữa tổ chức (người sử dụng lao động) và người lao động không hề có mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Bộ luật Dân sự mà đó là mối quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động. Việc xác định cho phép tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động là trái quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Vì vậy, hoạt động này cần phải được ngăn chặn và không cho phép triển khai.

Thứ hai, đây là các sản phẩm hợp pháp. Bởi lẽ, theo quy định thì đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi triển khai[9]. Cho nên, đây là các sản phẩm hợp pháp dựa trên sự cho phép của Bộ Tài chính. Đồng thời, trong các quy định khác có liên quan cũng đã và đang thừa nhận việc mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là hợp pháp. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm 2.11 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) đã xác định: Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để trích nộp bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là khoản chi không được vào khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khoản chi trích mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại điểm này còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; quy chế tài chính của công ty, tổng công ty, tập đoàn. Do vậy, khoản chi này được pháp luật thuế thừa nhận là hợp pháp nên hoạt động mua bảo hiểm nhân thọ giữa tổ chức cho người lao động là hợp pháp. Đây có thể xem là biện pháp áp dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giữ chân người lao động, thu hút nhân sự tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp.

3. Kiến nghị

Với những điểm bất cập và hạn chế trong quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ nêu trên, để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, tác giả kiến nghị:

Một là, bỏ cụm từ “người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng” trong điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, vì điểm d khoản 2 Điều 31 đã bao quát quy định của cụm từ này.

Hai là, cần xem xét và điều chỉnh lại khái niệm về quyền lợi được bảo hiểm theo hướng mở rộng nội hàm của phần quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ không chỉ là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng bảo hiểm mà còn có thể bao hàm cả các lợi ích kinh tế khác (nếu có) sẽ gặp rủi ro nhất định cho chủ thể khác và cần được xem xét, quan tâm để bảo vệ quyền lợi của người khác. Trên cơ sở nền tảng đó, thay đổi quy định những người được bảo hiểm trong pháp luật nhân thọ thành các nhóm: (i) Nhóm quan hệ dựa trên hôn nhân, huyết thống: Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em…; (ii) Nhóm quan hệ dựa trên sự tồn tại lợi ích kinh tế nhất định giữa người mua bảo hiểm và người thụ thưởng: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi gây thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự, người lao động và người sử dụng lao động.

Đối với nhóm thứ hai, khi có quy định này đã hợp thức hóa những tồn tại trước đây trong các văn bản dưới luật (đã được trình bày ở phần trên). Tuy nhiên, cũng cần thận trọng và có những quy định chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các quy định này. Bởi vì việc mua bảo hiểm cho người lao động trong công ty, doanh nghiệp xuất phát từ hai khía cạnh là biện pháp thu hút và giữ chân người lao động trong công ty, doanh nghiệp và là cách thức để công ty có thể đạt được sự kỳ vọng tài chính nhất định từ người lao động của mình khi có rủi ro xảy ra.

Nếu theo khía cạnh thứ nhất, thì khoản tiền mà người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động cũng được coi là thu nhập chịu thuế của người lao động. Do vậy, về lý luận, người thụ hưởng phải là người lao động. Tuy nhiên, trong quan hệ này, người mua bảo hiểm là người sử dụng lao động nên nếu người lao động không còn làm việc cho công ty, doanh nghiệp khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn thời gian thì xử lý như thế nào? Bởi việc chuyển nhượng cần tuân thủ Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 là việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó. Nếu lúc này người sử dụng lao động bất hợp tác thì câu chuyện đó sẽ xử lý ra sao là vấn đề mà pháp luật còn chưa quy định rõ. Vì vậy, cần có những quy định chặt chẽ để đảm bảo cho người lao động trong trường hợp này.

Nếu theo khía cạnh thứ hai, người sử dụng lao động sẽ chính là người thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm vì họ đã không đạt được sự kỳ vọng vào người lao động của mình khi những người này chết bất ngờ. Đây là khía cạnh mà pháp luật Việt Nam chưa xem xét và chưa đề cập đến. Vì vậy, cần có quy định bổ sung để đảm bảo thêm quyền lợi cho công ty, doanh nghiệp để họ có thể giảm thiểu những tổn thất nhất định trong hoạt động kinh doanh và tránh việc xem đây là khoản thu nhập của người lao động.

Tóm lại, với tầm quan trọng của việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm ảnh hưởng đến việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị vô hiệu, bị chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích các bên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ nên việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này là điều rất cần và hữu ích cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, tác giả mong muốn rằng, những kiến nghị này góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phát huy tích cực hơn nữa vai trò của bảo hiểm trong cuộc sống và nền kinh tế.

TS. Phan Phương Nam

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1]Julian Long, The Concept of Insurable Interest and the Insurance Law Reform Act 1985, Auckland University Law Review,p. 82 theo www.nzlii.org/nz/journals/AukULawRw/1992/5.pdf truy cập ngày 15/20/2019; Vadim Mantrov (2017), Perception of Insurable Interest in European Insurance Law, Juridiskā zinātne / Law, No. 10, 2017, p.253 và Gary I. Salzman, “Public policy and insurable interest in life insurance”, Americam business law association bulletin, p.37 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf, truy cập ngày 15/02/2019.

[2] Dagne Daukantaite (2004), “Is a family relationship alone enough to create an insurable interest in the life of the other?”, International Journal of Baltic Law, Volume 1 No. 2 (February, 2004), p.37.

[3] Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb. Hồng Đức, tr. 22.

[4] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (03), p. 479 và Gary I. Salzman, tlđd (01), p. 42 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf truy cập ngày 15/02/2019.

[5] Reetika, Applicability of insurable interest and science of life insurance in india, JNUB Journal of Law (Online) p.47-57, theo http://www.jagannathuniversityncr.ac.in/jnubjournaloflaw/, truy cập ngày 19/02/2019.

[6] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (04), p. 483.

[7] Xem từ Điều 108 đến Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[8] Khánh Ngọc, “Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Tuyệt chiêu giữ chân nhân tài” đăng trên https://baodautu.vn/bao-hiem-nhan-tho-cho-nhan-vien-tuyet-chieu-giu-chan-nhan-tai-d87110.html truy cập ngày 20/02/2019; Phan Anh, “Trả ơn nhân viên bằng bảo hiểm nhân thọ” theo https://vnexpress.net/kinh-doanh/tra-on-nhan-vien-bang-bao-hiem-nhan-tho-2687981.html truy cập ngày 19/02/2019.

[9] Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: