Thứ ba 13/10/2026 10:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Bài viết này sẽ đề cập đến một số vấn đề như xác định các yếu tố làm cơ sở cho việc xây dựng quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; xem xét thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm.


1. Vài nét về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Trong lịch sử của hoạt động bảo hiểm, học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm, được đưa ra và phát triển ban đầu ở Anh[1]. Nghị viện Anh đã ban hành hai đạo luật là George II và George III (1774)[2] để quy định bảo hiểm tài sản và bảo hiểm nhân thọ tương ứng. Hai đạo luật đều yêu cầu rằng, người mua bảo hiểm cần phải có lợi ích nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Nếu như trong bảo hiểm về tài sản, quyền lợi được bảo hiểm được xem xét về sự mất mát, tổn thất về tài sản nếu có khi xảy ra rủi ro thì trong bảo hiểm con người quyền lợi bảo hiểm cũng có thể hiểu là những lợi ích có từ người được bảo hiểm[3]. Vì tham gia bảo hiểm nhân thọ là họ đang lo lắng về tương lai của bản thân, cho những người liên quan nhất định và cần tìm đến sự đảm bảo tài chính cho chính bản thân hoặc những người có liên quan khi rủi ro xảy ra rủi ro. Do vậy, mục đích của học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người còn được dùng nhằm để bảo đảm cho các công ty bảo hiểm chống lại các yêu cầu gian lận, bảo vệ người được bảo hiểm trước những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi tàn ác của những người khác có chủ đích gây ảnh hưởng đến tính mạng của người được bảo hiểm[4].

Hiểu một cách chung nhất, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ đặc biệt giữa bên tham gia hợp đồng bảo hiểm (người được bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng) phải có với đối tượng bảo hiểm cho dù đó là cuộc sống hay tài sản hay trách nhiệm mà anh ấy/cô ấy có thể được tiếp xúc[5]. Trong bảo hiểm nhân thọ thì quyền lợi có thể được bảo hiểm chính là một mối quan tâm bảo hiểm trong cuộc sống có thể được thiết lập trên một trong hai loại:

(i) Yếu tố 1: Mối quan tâm yêu thương và tình cảm không thể bảo đảm cho những người có quan hệ mật thiết với huyết thống hoặc hôn nhân. Trong yếu tố này, người mua bảo hiểm hoặc lo lắng về khả năng rủi ro làm cho người được bảo hiểm bị chết, bị các ảnh hưởng khác làm cho chính bản thân họ hoặc người thân bị ảnh hưởng. Về yếu tố này, pháp luật các quốc gia tương đối thống nhất trong quy định rằng đó là những chủ thể có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau.

(ii) Yếu tố 2: Cho tất cả những người khác, một lợi ích kinh tế hợp pháp và đáng kể trong cuộc sống liên tục, sức khỏe và sự an toàn của cơ thể của người được bảo hiểm[6]. Đây là những chủ thể mà người được bảo hiểm có những mối quan hệ lợi ích nhất định nên những người này cần được đảm bảo khoản lợi ích vật chất đó khi người được bảo hiểm gặp những rủi ro nhất định. Đối với phần quy định này thì các quốc gia khác nhau có thể có những quy định khác nhau.

2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Đây là quy định về quyền lợi được bảo hiểm nói chung cho hoạt động bảo hiểm. Nếu theo quy định đó, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Quy định này được làm rõ hơn tại khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010. Theo đó, bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Do vậy, quyền lợi được bảo hiểm của Việt Nam đã xác định cơ bản các yếu tố như: (i) Mối quan hệ dựa trên huyết thống và hôn nhân đang tồn tại hoặc ly hôn. Đây là mối quan hệ mà pháp luật thừa nhận, các thành viên có sự quan tâm, lo lắng lẫn nhau. Đồng thời pháp luật cũng quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của các chủ thể liên quan trên trong Luật Hôn nhân và Gia đình[7]; (ii) Mối quan hệ cấp dưỡng khác (nếu có) theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác.

Đánh giá quy định này, tác giả cho rằng: (i) Quy định này còn có sự trùng lắp. Bởi lẽ, trong điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định một trong các chủ thể mà người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Tuy nhiên, theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 xác định rằng, “quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Do vậy, người khác ở đây có thể hiểu là người mà bên mua bảo hiểm có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Tuy nhiên, điều này nó sẽ trùng với quy định của điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010; (ii) Quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ còn chưa đầy đủ. Pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành mới chỉ nêu rõ được yếu tố 1 và một phần yếu tố 2 (đã được nêu ở phần 1 bài viết). Theo đó, pháp luật chưa xác định đa dạng hơn về những người khác có những quyền lợi được bảo hiểm khác, chẳng hạn như người sử dụng lao động và người lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã có phát sinh vấn đề mở rộng hơn so với quy định này. Đó là rất nhiều quy tắc bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận cho phép tổ chức (người sử dụng lao động) mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Quy định này được coi là một biện pháp, chính sách nhằm thu hút, giữ chân người lao động trong các doanh nghiệp[8].

Điều này đã và đang gây ra không thống nhất về mặt lý luận. Theo đó, có hai nhóm quan điểm:

Thứ nhất, đây là các sản phẩm chưa đúng quy định. Vì rõ ràng, trong quy định tại khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đều xác định người mua bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm cho người khác khi có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong khi đó, mối quan hệ giữa tổ chức (người sử dụng lao động) và người lao động không hề có mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Bộ luật Dân sự mà đó là mối quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động. Việc xác định cho phép tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động là trái quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Vì vậy, hoạt động này cần phải được ngăn chặn và không cho phép triển khai.

Thứ hai, đây là các sản phẩm hợp pháp. Bởi lẽ, theo quy định thì đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi triển khai[9]. Cho nên, đây là các sản phẩm hợp pháp dựa trên sự cho phép của Bộ Tài chính. Đồng thời, trong các quy định khác có liên quan cũng đã và đang thừa nhận việc mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là hợp pháp. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm 2.11 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) đã xác định: Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để trích nộp bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là khoản chi không được vào khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khoản chi trích mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại điểm này còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; quy chế tài chính của công ty, tổng công ty, tập đoàn. Do vậy, khoản chi này được pháp luật thuế thừa nhận là hợp pháp nên hoạt động mua bảo hiểm nhân thọ giữa tổ chức cho người lao động là hợp pháp. Đây có thể xem là biện pháp áp dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giữ chân người lao động, thu hút nhân sự tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp.

3. Kiến nghị

Với những điểm bất cập và hạn chế trong quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ nêu trên, để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, tác giả kiến nghị:

Một là, bỏ cụm từ “người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng” trong điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, vì điểm d khoản 2 Điều 31 đã bao quát quy định của cụm từ này.

Hai là, cần xem xét và điều chỉnh lại khái niệm về quyền lợi được bảo hiểm theo hướng mở rộng nội hàm của phần quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ không chỉ là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng bảo hiểm mà còn có thể bao hàm cả các lợi ích kinh tế khác (nếu có) sẽ gặp rủi ro nhất định cho chủ thể khác và cần được xem xét, quan tâm để bảo vệ quyền lợi của người khác. Trên cơ sở nền tảng đó, thay đổi quy định những người được bảo hiểm trong pháp luật nhân thọ thành các nhóm: (i) Nhóm quan hệ dựa trên hôn nhân, huyết thống: Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em…; (ii) Nhóm quan hệ dựa trên sự tồn tại lợi ích kinh tế nhất định giữa người mua bảo hiểm và người thụ thưởng: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi gây thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự, người lao động và người sử dụng lao động.

Đối với nhóm thứ hai, khi có quy định này đã hợp thức hóa những tồn tại trước đây trong các văn bản dưới luật (đã được trình bày ở phần trên). Tuy nhiên, cũng cần thận trọng và có những quy định chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các quy định này. Bởi vì việc mua bảo hiểm cho người lao động trong công ty, doanh nghiệp xuất phát từ hai khía cạnh là biện pháp thu hút và giữ chân người lao động trong công ty, doanh nghiệp và là cách thức để công ty có thể đạt được sự kỳ vọng tài chính nhất định từ người lao động của mình khi có rủi ro xảy ra.

Nếu theo khía cạnh thứ nhất, thì khoản tiền mà người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động cũng được coi là thu nhập chịu thuế của người lao động. Do vậy, về lý luận, người thụ hưởng phải là người lao động. Tuy nhiên, trong quan hệ này, người mua bảo hiểm là người sử dụng lao động nên nếu người lao động không còn làm việc cho công ty, doanh nghiệp khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn thời gian thì xử lý như thế nào? Bởi việc chuyển nhượng cần tuân thủ Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 là việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó. Nếu lúc này người sử dụng lao động bất hợp tác thì câu chuyện đó sẽ xử lý ra sao là vấn đề mà pháp luật còn chưa quy định rõ. Vì vậy, cần có những quy định chặt chẽ để đảm bảo cho người lao động trong trường hợp này.

Nếu theo khía cạnh thứ hai, người sử dụng lao động sẽ chính là người thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm vì họ đã không đạt được sự kỳ vọng vào người lao động của mình khi những người này chết bất ngờ. Đây là khía cạnh mà pháp luật Việt Nam chưa xem xét và chưa đề cập đến. Vì vậy, cần có quy định bổ sung để đảm bảo thêm quyền lợi cho công ty, doanh nghiệp để họ có thể giảm thiểu những tổn thất nhất định trong hoạt động kinh doanh và tránh việc xem đây là khoản thu nhập của người lao động.

Tóm lại, với tầm quan trọng của việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm ảnh hưởng đến việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị vô hiệu, bị chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích các bên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ nên việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này là điều rất cần và hữu ích cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, tác giả mong muốn rằng, những kiến nghị này góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phát huy tích cực hơn nữa vai trò của bảo hiểm trong cuộc sống và nền kinh tế.

TS. Phan Phương Nam

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1]Julian Long, The Concept of Insurable Interest and the Insurance Law Reform Act 1985, Auckland University Law Review,p. 82 theo www.nzlii.org/nz/journals/AukULawRw/1992/5.pdf truy cập ngày 15/20/2019; Vadim Mantrov (2017), Perception of Insurable Interest in European Insurance Law, Juridiskā zinātne / Law, No. 10, 2017, p.253 và Gary I. Salzman, “Public policy and insurable interest in life insurance”, Americam business law association bulletin, p.37 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf, truy cập ngày 15/02/2019.

[2] Dagne Daukantaite (2004), “Is a family relationship alone enough to create an insurable interest in the life of the other?”, International Journal of Baltic Law, Volume 1 No. 2 (February, 2004), p.37.

[3] Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb. Hồng Đức, tr. 22.

[4] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (03), p. 479 và Gary I. Salzman, tlđd (01), p. 42 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf truy cập ngày 15/02/2019.

[5] Reetika, Applicability of insurable interest and science of life insurance in india, JNUB Journal of Law (Online) p.47-57, theo http://www.jagannathuniversityncr.ac.in/jnubjournaloflaw/, truy cập ngày 19/02/2019.

[6] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (04), p. 483.

[7] Xem từ Điều 108 đến Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[8] Khánh Ngọc, “Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Tuyệt chiêu giữ chân nhân tài” đăng trên https://baodautu.vn/bao-hiem-nhan-tho-cho-nhan-vien-tuyet-chieu-giu-chan-nhan-tai-d87110.html truy cập ngày 20/02/2019; Phan Anh, “Trả ơn nhân viên bằng bảo hiểm nhân thọ” theo https://vnexpress.net/kinh-doanh/tra-on-nhan-vien-bang-bao-hiem-nhan-tho-2687981.html truy cập ngày 19/02/2019.

[9] Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: