Thứ tư 22/04/2026 22:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Bài viết này sẽ đề cập đến một số vấn đề như xác định các yếu tố làm cơ sở cho việc xây dựng quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; xem xét thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm.


1. Vài nét về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Trong lịch sử của hoạt động bảo hiểm, học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm, được đưa ra và phát triển ban đầu ở Anh[1]. Nghị viện Anh đã ban hành hai đạo luật là George II và George III (1774)[2] để quy định bảo hiểm tài sản và bảo hiểm nhân thọ tương ứng. Hai đạo luật đều yêu cầu rằng, người mua bảo hiểm cần phải có lợi ích nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Nếu như trong bảo hiểm về tài sản, quyền lợi được bảo hiểm được xem xét về sự mất mát, tổn thất về tài sản nếu có khi xảy ra rủi ro thì trong bảo hiểm con người quyền lợi bảo hiểm cũng có thể hiểu là những lợi ích có từ người được bảo hiểm[3]. Vì tham gia bảo hiểm nhân thọ là họ đang lo lắng về tương lai của bản thân, cho những người liên quan nhất định và cần tìm đến sự đảm bảo tài chính cho chính bản thân hoặc những người có liên quan khi rủi ro xảy ra rủi ro. Do vậy, mục đích của học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người còn được dùng nhằm để bảo đảm cho các công ty bảo hiểm chống lại các yêu cầu gian lận, bảo vệ người được bảo hiểm trước những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi tàn ác của những người khác có chủ đích gây ảnh hưởng đến tính mạng của người được bảo hiểm[4].

Hiểu một cách chung nhất, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ đặc biệt giữa bên tham gia hợp đồng bảo hiểm (người được bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng) phải có với đối tượng bảo hiểm cho dù đó là cuộc sống hay tài sản hay trách nhiệm mà anh ấy/cô ấy có thể được tiếp xúc[5]. Trong bảo hiểm nhân thọ thì quyền lợi có thể được bảo hiểm chính là một mối quan tâm bảo hiểm trong cuộc sống có thể được thiết lập trên một trong hai loại:

(i) Yếu tố 1: Mối quan tâm yêu thương và tình cảm không thể bảo đảm cho những người có quan hệ mật thiết với huyết thống hoặc hôn nhân. Trong yếu tố này, người mua bảo hiểm hoặc lo lắng về khả năng rủi ro làm cho người được bảo hiểm bị chết, bị các ảnh hưởng khác làm cho chính bản thân họ hoặc người thân bị ảnh hưởng. Về yếu tố này, pháp luật các quốc gia tương đối thống nhất trong quy định rằng đó là những chủ thể có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau.

(ii) Yếu tố 2: Cho tất cả những người khác, một lợi ích kinh tế hợp pháp và đáng kể trong cuộc sống liên tục, sức khỏe và sự an toàn của cơ thể của người được bảo hiểm[6]. Đây là những chủ thể mà người được bảo hiểm có những mối quan hệ lợi ích nhất định nên những người này cần được đảm bảo khoản lợi ích vật chất đó khi người được bảo hiểm gặp những rủi ro nhất định. Đối với phần quy định này thì các quốc gia khác nhau có thể có những quy định khác nhau.

2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Đây là quy định về quyền lợi được bảo hiểm nói chung cho hoạt động bảo hiểm. Nếu theo quy định đó, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Quy định này được làm rõ hơn tại khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010. Theo đó, bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Do vậy, quyền lợi được bảo hiểm của Việt Nam đã xác định cơ bản các yếu tố như: (i) Mối quan hệ dựa trên huyết thống và hôn nhân đang tồn tại hoặc ly hôn. Đây là mối quan hệ mà pháp luật thừa nhận, các thành viên có sự quan tâm, lo lắng lẫn nhau. Đồng thời pháp luật cũng quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của các chủ thể liên quan trên trong Luật Hôn nhân và Gia đình[7]; (ii) Mối quan hệ cấp dưỡng khác (nếu có) theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác.

Đánh giá quy định này, tác giả cho rằng: (i) Quy định này còn có sự trùng lắp. Bởi lẽ, trong điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định một trong các chủ thể mà người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Tuy nhiên, theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 xác định rằng, “quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Do vậy, người khác ở đây có thể hiểu là người mà bên mua bảo hiểm có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Tuy nhiên, điều này nó sẽ trùng với quy định của điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010; (ii) Quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ còn chưa đầy đủ. Pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành mới chỉ nêu rõ được yếu tố 1 và một phần yếu tố 2 (đã được nêu ở phần 1 bài viết). Theo đó, pháp luật chưa xác định đa dạng hơn về những người khác có những quyền lợi được bảo hiểm khác, chẳng hạn như người sử dụng lao động và người lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã có phát sinh vấn đề mở rộng hơn so với quy định này. Đó là rất nhiều quy tắc bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận cho phép tổ chức (người sử dụng lao động) mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Quy định này được coi là một biện pháp, chính sách nhằm thu hút, giữ chân người lao động trong các doanh nghiệp[8].

Điều này đã và đang gây ra không thống nhất về mặt lý luận. Theo đó, có hai nhóm quan điểm:

Thứ nhất, đây là các sản phẩm chưa đúng quy định. Vì rõ ràng, trong quy định tại khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đều xác định người mua bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm cho người khác khi có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong khi đó, mối quan hệ giữa tổ chức (người sử dụng lao động) và người lao động không hề có mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Bộ luật Dân sự mà đó là mối quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động. Việc xác định cho phép tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động là trái quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Vì vậy, hoạt động này cần phải được ngăn chặn và không cho phép triển khai.

Thứ hai, đây là các sản phẩm hợp pháp. Bởi lẽ, theo quy định thì đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi triển khai[9]. Cho nên, đây là các sản phẩm hợp pháp dựa trên sự cho phép của Bộ Tài chính. Đồng thời, trong các quy định khác có liên quan cũng đã và đang thừa nhận việc mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là hợp pháp. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm 2.11 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) đã xác định: Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để trích nộp bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là khoản chi không được vào khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khoản chi trích mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại điểm này còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; quy chế tài chính của công ty, tổng công ty, tập đoàn. Do vậy, khoản chi này được pháp luật thuế thừa nhận là hợp pháp nên hoạt động mua bảo hiểm nhân thọ giữa tổ chức cho người lao động là hợp pháp. Đây có thể xem là biện pháp áp dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giữ chân người lao động, thu hút nhân sự tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp.

3. Kiến nghị

Với những điểm bất cập và hạn chế trong quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ nêu trên, để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, tác giả kiến nghị:

Một là, bỏ cụm từ “người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng” trong điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, vì điểm d khoản 2 Điều 31 đã bao quát quy định của cụm từ này.

Hai là, cần xem xét và điều chỉnh lại khái niệm về quyền lợi được bảo hiểm theo hướng mở rộng nội hàm của phần quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ không chỉ là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng bảo hiểm mà còn có thể bao hàm cả các lợi ích kinh tế khác (nếu có) sẽ gặp rủi ro nhất định cho chủ thể khác và cần được xem xét, quan tâm để bảo vệ quyền lợi của người khác. Trên cơ sở nền tảng đó, thay đổi quy định những người được bảo hiểm trong pháp luật nhân thọ thành các nhóm: (i) Nhóm quan hệ dựa trên hôn nhân, huyết thống: Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em…; (ii) Nhóm quan hệ dựa trên sự tồn tại lợi ích kinh tế nhất định giữa người mua bảo hiểm và người thụ thưởng: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi gây thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự, người lao động và người sử dụng lao động.

Đối với nhóm thứ hai, khi có quy định này đã hợp thức hóa những tồn tại trước đây trong các văn bản dưới luật (đã được trình bày ở phần trên). Tuy nhiên, cũng cần thận trọng và có những quy định chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các quy định này. Bởi vì việc mua bảo hiểm cho người lao động trong công ty, doanh nghiệp xuất phát từ hai khía cạnh là biện pháp thu hút và giữ chân người lao động trong công ty, doanh nghiệp và là cách thức để công ty có thể đạt được sự kỳ vọng tài chính nhất định từ người lao động của mình khi có rủi ro xảy ra.

Nếu theo khía cạnh thứ nhất, thì khoản tiền mà người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động cũng được coi là thu nhập chịu thuế của người lao động. Do vậy, về lý luận, người thụ hưởng phải là người lao động. Tuy nhiên, trong quan hệ này, người mua bảo hiểm là người sử dụng lao động nên nếu người lao động không còn làm việc cho công ty, doanh nghiệp khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn thời gian thì xử lý như thế nào? Bởi việc chuyển nhượng cần tuân thủ Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 là việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó. Nếu lúc này người sử dụng lao động bất hợp tác thì câu chuyện đó sẽ xử lý ra sao là vấn đề mà pháp luật còn chưa quy định rõ. Vì vậy, cần có những quy định chặt chẽ để đảm bảo cho người lao động trong trường hợp này.

Nếu theo khía cạnh thứ hai, người sử dụng lao động sẽ chính là người thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm vì họ đã không đạt được sự kỳ vọng vào người lao động của mình khi những người này chết bất ngờ. Đây là khía cạnh mà pháp luật Việt Nam chưa xem xét và chưa đề cập đến. Vì vậy, cần có quy định bổ sung để đảm bảo thêm quyền lợi cho công ty, doanh nghiệp để họ có thể giảm thiểu những tổn thất nhất định trong hoạt động kinh doanh và tránh việc xem đây là khoản thu nhập của người lao động.

Tóm lại, với tầm quan trọng của việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm ảnh hưởng đến việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị vô hiệu, bị chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích các bên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ nên việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này là điều rất cần và hữu ích cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, tác giả mong muốn rằng, những kiến nghị này góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phát huy tích cực hơn nữa vai trò của bảo hiểm trong cuộc sống và nền kinh tế.

TS. Phan Phương Nam

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1]Julian Long, The Concept of Insurable Interest and the Insurance Law Reform Act 1985, Auckland University Law Review,p. 82 theo www.nzlii.org/nz/journals/AukULawRw/1992/5.pdf truy cập ngày 15/20/2019; Vadim Mantrov (2017), Perception of Insurable Interest in European Insurance Law, Juridiskā zinātne / Law, No. 10, 2017, p.253 và Gary I. Salzman, “Public policy and insurable interest in life insurance”, Americam business law association bulletin, p.37 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf, truy cập ngày 15/02/2019.

[2] Dagne Daukantaite (2004), “Is a family relationship alone enough to create an insurable interest in the life of the other?”, International Journal of Baltic Law, Volume 1 No. 2 (February, 2004), p.37.

[3] Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb. Hồng Đức, tr. 22.

[4] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (03), p. 479 và Gary I. Salzman, tlđd (01), p. 42 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf truy cập ngày 15/02/2019.

[5] Reetika, Applicability of insurable interest and science of life insurance in india, JNUB Journal of Law (Online) p.47-57, theo http://www.jagannathuniversityncr.ac.in/jnubjournaloflaw/, truy cập ngày 19/02/2019.

[6] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (04), p. 483.

[7] Xem từ Điều 108 đến Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[8] Khánh Ngọc, “Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Tuyệt chiêu giữ chân nhân tài” đăng trên https://baodautu.vn/bao-hiem-nhan-tho-cho-nhan-vien-tuyet-chieu-giu-chan-nhan-tai-d87110.html truy cập ngày 20/02/2019; Phan Anh, “Trả ơn nhân viên bằng bảo hiểm nhân thọ” theo https://vnexpress.net/kinh-doanh/tra-on-nhan-vien-bang-bao-hiem-nhan-tho-2687981.html truy cập ngày 19/02/2019.

[9] Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: