Thứ ba 10/02/2026 18:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Bài viết này sẽ đề cập đến một số vấn đề như xác định các yếu tố làm cơ sở cho việc xây dựng quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; xem xét thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về nội dung này và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lợi có thể được bảo hiểm.


1. Vài nét về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Trong lịch sử của hoạt động bảo hiểm, học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm, được đưa ra và phát triển ban đầu ở Anh[1]. Nghị viện Anh đã ban hành hai đạo luật là George II và George III (1774)[2] để quy định bảo hiểm tài sản và bảo hiểm nhân thọ tương ứng. Hai đạo luật đều yêu cầu rằng, người mua bảo hiểm cần phải có lợi ích nhất định đối với đối tượng được bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm. Nếu như trong bảo hiểm về tài sản, quyền lợi được bảo hiểm được xem xét về sự mất mát, tổn thất về tài sản nếu có khi xảy ra rủi ro thì trong bảo hiểm con người quyền lợi bảo hiểm cũng có thể hiểu là những lợi ích có từ người được bảo hiểm[3]. Vì tham gia bảo hiểm nhân thọ là họ đang lo lắng về tương lai của bản thân, cho những người liên quan nhất định và cần tìm đến sự đảm bảo tài chính cho chính bản thân hoặc những người có liên quan khi rủi ro xảy ra rủi ro. Do vậy, mục đích của học thuyết về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người còn được dùng nhằm để bảo đảm cho các công ty bảo hiểm chống lại các yêu cầu gian lận, bảo vệ người được bảo hiểm trước những hành vi vi phạm pháp luật, hành vi tàn ác của những người khác có chủ đích gây ảnh hưởng đến tính mạng của người được bảo hiểm[4].

Hiểu một cách chung nhất, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ đặc biệt giữa bên tham gia hợp đồng bảo hiểm (người được bảo hiểm hoặc chủ hợp đồng) phải có với đối tượng bảo hiểm cho dù đó là cuộc sống hay tài sản hay trách nhiệm mà anh ấy/cô ấy có thể được tiếp xúc[5]. Trong bảo hiểm nhân thọ thì quyền lợi có thể được bảo hiểm chính là một mối quan tâm bảo hiểm trong cuộc sống có thể được thiết lập trên một trong hai loại:

(i) Yếu tố 1: Mối quan tâm yêu thương và tình cảm không thể bảo đảm cho những người có quan hệ mật thiết với huyết thống hoặc hôn nhân. Trong yếu tố này, người mua bảo hiểm hoặc lo lắng về khả năng rủi ro làm cho người được bảo hiểm bị chết, bị các ảnh hưởng khác làm cho chính bản thân họ hoặc người thân bị ảnh hưởng. Về yếu tố này, pháp luật các quốc gia tương đối thống nhất trong quy định rằng đó là những chủ thể có mối quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau.

(ii) Yếu tố 2: Cho tất cả những người khác, một lợi ích kinh tế hợp pháp và đáng kể trong cuộc sống liên tục, sức khỏe và sự an toàn của cơ thể của người được bảo hiểm[6]. Đây là những chủ thể mà người được bảo hiểm có những mối quan hệ lợi ích nhất định nên những người này cần được đảm bảo khoản lợi ích vật chất đó khi người được bảo hiểm gặp những rủi ro nhất định. Đối với phần quy định này thì các quốc gia khác nhau có thể có những quy định khác nhau.

2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Đây là quy định về quyền lợi được bảo hiểm nói chung cho hoạt động bảo hiểm. Nếu theo quy định đó, thì quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Quy định này được làm rõ hơn tại khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010. Theo đó, bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho bản thân bên mua bảo hiểm; vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Do vậy, quyền lợi được bảo hiểm của Việt Nam đã xác định cơ bản các yếu tố như: (i) Mối quan hệ dựa trên huyết thống và hôn nhân đang tồn tại hoặc ly hôn. Đây là mối quan hệ mà pháp luật thừa nhận, các thành viên có sự quan tâm, lo lắng lẫn nhau. Đồng thời pháp luật cũng quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của các chủ thể liên quan trên trong Luật Hôn nhân và Gia đình[7]; (ii) Mối quan hệ cấp dưỡng khác (nếu có) theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác.

Đánh giá quy định này, tác giả cho rằng: (i) Quy định này còn có sự trùng lắp. Bởi lẽ, trong điểm d khoản 1 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 quy định một trong các chủ thể mà người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Tuy nhiên, theo khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 xác định rằng, “quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Do vậy, người khác ở đây có thể hiểu là người mà bên mua bảo hiểm có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Tuy nhiên, điều này nó sẽ trùng với quy định của điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010; (ii) Quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ còn chưa đầy đủ. Pháp luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành mới chỉ nêu rõ được yếu tố 1 và một phần yếu tố 2 (đã được nêu ở phần 1 bài viết). Theo đó, pháp luật chưa xác định đa dạng hơn về những người khác có những quyền lợi được bảo hiểm khác, chẳng hạn như người sử dụng lao động và người lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã có phát sinh vấn đề mở rộng hơn so với quy định này. Đó là rất nhiều quy tắc bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đã ghi nhận cho phép tổ chức (người sử dụng lao động) mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Quy định này được coi là một biện pháp, chính sách nhằm thu hút, giữ chân người lao động trong các doanh nghiệp[8].

Điều này đã và đang gây ra không thống nhất về mặt lý luận. Theo đó, có hai nhóm quan điểm:

Thứ nhất, đây là các sản phẩm chưa đúng quy định. Vì rõ ràng, trong quy định tại khoản 9 Điều 3 và Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đều xác định người mua bảo hiểm chỉ mua bảo hiểm cho người khác khi có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Trong khi đó, mối quan hệ giữa tổ chức (người sử dụng lao động) và người lao động không hề có mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Bộ luật Dân sự mà đó là mối quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động. Việc xác định cho phép tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động là trái quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Vì vậy, hoạt động này cần phải được ngăn chặn và không cho phép triển khai.

Thứ hai, đây là các sản phẩm hợp pháp. Bởi lẽ, theo quy định thì đối với các sản phẩm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ phải được Bộ Tài chính phê chuẩn trước khi triển khai[9]. Cho nên, đây là các sản phẩm hợp pháp dựa trên sự cho phép của Bộ Tài chính. Đồng thời, trong các quy định khác có liên quan cũng đã và đang thừa nhận việc mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là hợp pháp. Cụ thể, tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung điểm 2.11 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) đã xác định: Phần chi vượt mức 03 triệu đồng/tháng/người để trích nộp bảo hiểm nhân thọ cho người lao động là khoản chi không được vào khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khoản chi trích mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động được tính vào chi phí được trừ ngoài việc không vượt mức quy định tại điểm này còn phải được ghi cụ thể điều kiện hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; quy chế tài chính của công ty, tổng công ty, tập đoàn. Do vậy, khoản chi này được pháp luật thuế thừa nhận là hợp pháp nên hoạt động mua bảo hiểm nhân thọ giữa tổ chức cho người lao động là hợp pháp. Đây có thể xem là biện pháp áp dụng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giữ chân người lao động, thu hút nhân sự tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp.

3. Kiến nghị

Với những điểm bất cập và hạn chế trong quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ nêu trên, để hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, tác giả kiến nghị:

Một là, bỏ cụm từ “người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng” trong điểm c khoản 2 Điều 31 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010, vì điểm d khoản 2 Điều 31 đã bao quát quy định của cụm từ này.

Hai là, cần xem xét và điều chỉnh lại khái niệm về quyền lợi được bảo hiểm theo hướng mở rộng nội hàm của phần quyền lợi được bảo hiểm. Theo đó, quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ không chỉ là quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng bảo hiểm mà còn có thể bao hàm cả các lợi ích kinh tế khác (nếu có) sẽ gặp rủi ro nhất định cho chủ thể khác và cần được xem xét, quan tâm để bảo vệ quyền lợi của người khác. Trên cơ sở nền tảng đó, thay đổi quy định những người được bảo hiểm trong pháp luật nhân thọ thành các nhóm: (i) Nhóm quan hệ dựa trên hôn nhân, huyết thống: Cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em…; (ii) Nhóm quan hệ dựa trên sự tồn tại lợi ích kinh tế nhất định giữa người mua bảo hiểm và người thụ thưởng: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng khi gây thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự, người lao động và người sử dụng lao động.

Đối với nhóm thứ hai, khi có quy định này đã hợp thức hóa những tồn tại trước đây trong các văn bản dưới luật (đã được trình bày ở phần trên). Tuy nhiên, cũng cần thận trọng và có những quy định chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các quy định này. Bởi vì việc mua bảo hiểm cho người lao động trong công ty, doanh nghiệp xuất phát từ hai khía cạnh là biện pháp thu hút và giữ chân người lao động trong công ty, doanh nghiệp và là cách thức để công ty có thể đạt được sự kỳ vọng tài chính nhất định từ người lao động của mình khi có rủi ro xảy ra.

Nếu theo khía cạnh thứ nhất, thì khoản tiền mà người sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động cũng được coi là thu nhập chịu thuế của người lao động. Do vậy, về lý luận, người thụ hưởng phải là người lao động. Tuy nhiên, trong quan hệ này, người mua bảo hiểm là người sử dụng lao động nên nếu người lao động không còn làm việc cho công ty, doanh nghiệp khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vẫn còn thời gian thì xử lý như thế nào? Bởi việc chuyển nhượng cần tuân thủ Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 là việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó. Nếu lúc này người sử dụng lao động bất hợp tác thì câu chuyện đó sẽ xử lý ra sao là vấn đề mà pháp luật còn chưa quy định rõ. Vì vậy, cần có những quy định chặt chẽ để đảm bảo cho người lao động trong trường hợp này.

Nếu theo khía cạnh thứ hai, người sử dụng lao động sẽ chính là người thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm vì họ đã không đạt được sự kỳ vọng vào người lao động của mình khi những người này chết bất ngờ. Đây là khía cạnh mà pháp luật Việt Nam chưa xem xét và chưa đề cập đến. Vì vậy, cần có quy định bổ sung để đảm bảo thêm quyền lợi cho công ty, doanh nghiệp để họ có thể giảm thiểu những tổn thất nhất định trong hoạt động kinh doanh và tránh việc xem đây là khoản thu nhập của người lao động.

Tóm lại, với tầm quan trọng của việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm ảnh hưởng đến việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị vô hiệu, bị chấm dứt làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích các bên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ nên việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định này là điều rất cần và hữu ích cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, tác giả mong muốn rằng, những kiến nghị này góp phần hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phát huy tích cực hơn nữa vai trò của bảo hiểm trong cuộc sống và nền kinh tế.

TS. Phan Phương Nam

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1]Julian Long, The Concept of Insurable Interest and the Insurance Law Reform Act 1985, Auckland University Law Review,p. 82 theo www.nzlii.org/nz/journals/AukULawRw/1992/5.pdf truy cập ngày 15/20/2019; Vadim Mantrov (2017), Perception of Insurable Interest in European Insurance Law, Juridiskā zinātne / Law, No. 10, 2017, p.253 và Gary I. Salzman, “Public policy and insurable interest in life insurance”, Americam business law association bulletin, p.37 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf, truy cập ngày 15/02/2019.

[2] Dagne Daukantaite (2004), “Is a family relationship alone enough to create an insurable interest in the life of the other?”, International Journal of Baltic Law, Volume 1 No. 2 (February, 2004), p.37.

[3] Nguyễn Thị Thủy (2017), Pháp luật hợp đồng bảo hiểm con người, Nxb. Hồng Đức, tr. 22.

[4] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (03), p. 479 và Gary I. Salzman, tlđd (01), p. 42 theo www.bus.umich.edu/KresgeLibrary/resources/abla/abld_6.1.37-45.pdf truy cập ngày 15/02/2019.

[5] Reetika, Applicability of insurable interest and science of life insurance in india, JNUB Journal of Law (Online) p.47-57, theo http://www.jagannathuniversityncr.ac.in/jnubjournaloflaw/, truy cập ngày 19/02/2019.

[6] Peter Nash Swisher (2005), tlđd (04), p. 483.

[7] Xem từ Điều 108 đến Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[8] Khánh Ngọc, “Bảo hiểm nhân thọ cho nhân viên: Tuyệt chiêu giữ chân nhân tài” đăng trên https://baodautu.vn/bao-hiem-nhan-tho-cho-nhan-vien-tuyet-chieu-giu-chan-nhan-tai-d87110.html truy cập ngày 20/02/2019; Phan Anh, “Trả ơn nhân viên bằng bảo hiểm nhân thọ” theo https://vnexpress.net/kinh-doanh/tra-on-nhan-vien-bang-bao-hiem-nhan-tho-2687981.html truy cập ngày 19/02/2019.

[9] Khoản 3 Điều 39 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: