Thứ sáu 16/01/2026 09:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Abstract: The article analyzes shortcomings and inadequacies in the regulations on the rights, obligations and responsibilities of hazardous waste management service business entities from the point of view of environmental law, from there, makes suggestions and recommendations for improvement.

Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại (CTNH) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe con người, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. CTNH là một loại chất thải có đặc tính nguy hiểm cao, vì vậy, kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện[1]. Muốn thực hiện hoạt động này đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng rất nhiều các điều kiện khác nhau theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định của pháp luật môi trường[2] điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH còn nhiều bất cập, thiếu sót, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể liên quan, hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý CTNH trên thực tế. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là điều rất quan trọng, cần thiết.

1. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

1.1. Quyền, nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Bản chất của hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Lợi nhuận được tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi tham gia xác lập hợp đồng chuyển giao trách nhiệm quản lý CTNH, các bên đều mong muốn đạt được mục đích của mình một cách hiệu quả nhất. Đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, để cung ứng được loại hình dịch vụ này đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, chi phí để đáp ứng các điều kiện khắt khe về nhân sự và cơ sở vật chất do pháp luật quy định[3]. Chính vì vậy, chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng các quyền lợi chính đáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để đảm bảo lợi ích của bên sử dụng dịch vụ. Việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng mà các chủ thể này được hưởng cũng như xác định được các dạng trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể này phải gánh chịu khi không đảm bảo thực hiện đúng các nghĩa vụ đặt ra khi tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH từ chủ nguồn thải.

Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH. Hiện nay, các quyền và nghĩa vụ được các chủ thể tự thỏa thuận xây dựng với nhau trong các hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH, sự thỏa thuận này chủ yếu dựa vào các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật thương mại có liên quan để điều chỉnh. Điều này tạo nhiều khó khăn cho các chủ thể trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Vấn đề chưa có quy định cụ thể về quyền của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một bất lợi lớn cho những chủ thể này trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp, đây cũng là một sự thiếu sót dẫn đến mất cân đối trong kỹ thuật lập pháp khi chỉ quy định về trách nhiệm mà không quy định về quyền lợi của một chủ thể. Điều này sẽ dễ dẫn đến việc hạn chế các doanh nghiệp gia nhập vào hoạt động kinh doanh loại hình dịch vụ này vì rủi ro do việc vi phạm hợp đồng thì quá lớn, quy định về trách nhiệm thì quá nhiều mà cơ chế bảo vệ quyền lợi cho họ lại quá ít. Hậu quả của việc này là đối tượng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến quản lý CTNH sẽ càng ngày càng hẹp trong khi lẽ ra đây phải là một hoạt động cần được Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nhiều. Bên cạnh quyền, thì nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH cũng không được quy định rõ ràng. Điều này tạo cơ hội cho một số chủ thể kinh doanh loại hình dịch vụ này lợi dụng do không có các quy định pháp luật cụ thể nên đã đưa ra các điều khoản quyền lợi cho mình nhiều nhưng các nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm thì hầu như rất ít nhắc tới. Điều này rất nguy hiểm, vì trên thực tế, bên cung ứng dịch vụ thường là bên sẽ soạn thảo trước nội dung hợp đồng rồi sau đó mới chuyển sang cho chủ thể sử dụng dịch vụ xem xét, ký kết. Tuy nhiên, vì không có các quy định pháp luật xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cần phải có của chủ thể cung ứng nên các chủ thể sử dụng dịch vụ rất khó để xác định chính xác, hợp lý được các quyền, nghĩa vụ mà họ được hưởng và hệ quả là họ thường phải ký kết những hợp đồng dịch vụ với những nội dung điều khoản bất lợi cho mình mà họ không hề hay biết do không có hướng dẫn cụ thể.

Dưới một góc độ nhất định, có thể nói, pháp luật không quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên được tự do thỏa thuận trong giao dịch thương mại dựa trên các cơ pháp lý được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005… Điều này là cần thiết với tinh thần tự do kinh doanh trong các hoạt động kinh tế nhằm mục đích sinh lời. Tuy nhiên, cần phải xác định rằng, đối tượng của loại hình dịch vụ kinh doanh này là các hoạt động quản lý CTNH, một hoạt động rất đặc thù, có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tính mạng, sức khỏe con người và chất lượng môi trường. Vì vậy, bên cạnh sự điều chỉnh của luật chung thì cũng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng loại hình dịch vụ này. Từ những phân tích trên có thể thấy, hiện nay, pháp luật môi trường chưa có các quy định điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, đây là một điểm thiếu sót, vì vậy, cần phải có sự quy định bổ sung cụ thể về vấn đề này nhằm khắc phục những bất cập nêu trên.

1.2. Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy

Kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản liên quan đưa ra rất nhiều quy định về trách nhiệm buộc chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân thủ thực hiện. Việc tuân thủ, thực hiện đúng theo các trách nhiệm được quy định sẽ giúp đảm bảo hiệu quả an toàn trong công tác quản lý CTNH. Tuy nhiên, hiện nay, một số quy định pháp luật về trách nhiệm mà các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân theo vẫn còn một số bất cập, hạn chế nhất định.

Thứ nhất: Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP) quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Địa bàn hoạt động sẽ được xác nhận theo vùng[4] và từng tỉnh cụ thể. Một cơ sở xử lý CTNH sẽ được ký kết hợp đồng với các chủ nguồn thải trên địa bàn toàn bộ vùng hoặc một số tỉnh trong vùng tùy theo giấy phép. Điều này là hợp lý, một cơ sở xử lý CTNH chỉ nên được phép thu gom, vận chuyển và xử lý các CTNH từ các cơ sở phát sinh gần nó vì để đảm bảo tính an toàn tốt hơn trong quá trình vận chuyển và xử lý. Khoảng cách giữa cơ sở phát sinh CTNH và cơ sở xử lý càng xa thì việc vận chuyển càng tốn nhiều thời gian và rủi ro hơn. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở được cấp giấy phép xử lý CTNH hiện nay tập trung phần lớn ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, còn các địa bàn khác hầu như thiếu hụt trầm trọng cơ sở xử lý CTNH được cấp phép. Điều này phản ảnh đúng thực tế là phần lớn CTNH phát sinh từ các nhà máy, khu công nghiệp tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các địa bàn lân cận. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa những địa bàn khác lại không sản sinh ra CTNH, như vậy, nhu cầu xử lý CTNH là vẫn có trên những địa bàn đó. Với quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải “ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong Giấy phép xử lý CTNH”[5] đã tạo ra sự bất cập nhất định. Điều này dẫn đến thực trạng là CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không có cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh.

Thứ hai: Khoản 1 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và khoản 4 Điều 7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định nếu chủ nguồn thải CTNH không có khả năng xử lý CTNH đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì phải có trách nhiệm ký hợp đồng để chuyển giao CTNH với tổ chức, cá nhân có giấy phép phù hợp để xử lý. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP lại quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Các quy định được đề cập trên đây đã cho thấy sự thiếu đồng bộ. Bởi lẽ, chủ xử lý CTNH không có trách nhiệm phải ký hợp đồng xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động nếu các chủ nguồn thải CTNH này không có nhu cầu chuyển giao CTNH.

Thứ ba: Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm: “Đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường khi có nhu cầu liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép của mình cho chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý” và tại khoản 8 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) quy định: “Khi 02 (hai) tổ chức, cá nhân có nhu cầu liên kết trong đó một bên chỉ thực hiện việc vận chuyển CTNH và chuyển giao trách nhiệm xử lý cho bên còn lại (bao gồm cả cơ sở đang vận hành thử nghiệm xử lý CTNH) thì bên chuyển giao hoặc tiếp nhận phải gửi văn bản đề nghị kèm theo hợp đồng đến cơ quan cấp phép để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện”. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì chủ xử lý CTNH khi muốn liên kết vận chuyển CTNH để chuyển giao cho chủ thể khác có chức năng phù hợp để xử lý thì phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây, nếu chủ xử lý CTNH liên kết vận chuyển CTNH của chính mình do phát sinh trong quá trình xử lý nhưng thuộc nhóm CTNH không được phép xử lý và hoạt động vận chuyển này vẫn nằm trên cùng một phạm vi địa bàn được phép hoạt động của mình được ghi trên giấy phép nhưng khi đó vẫn phải đăng ký và phải được sự chấp thuận là điều không cần thiết và dường như đã can thiệp quá sâu vào quan hệ dân sự giữa hai cơ sở xử lý CTNH. Giả sử, nếu hợp đồng liên kết vận chuyển CTNH nào giữa hai chủ xử lý CTNH cũng phải đăng ký và có sự chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên trì trệ và thiếu linh hoạt. Điều này tạo ra quá nhiều thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết, làm cho nền kinh tế thiếu đi sự năng động. Thiết nghĩ, chỉ trường hợp nào liên kết vận chuyển CTNH phát sinh ở khu vực không thuộc địa bàn hoạt động và không có cơ sở xử lý của bên chuyển giao trách nhiệm xử lý thì các bên trong hợp đồng liên kết vận chuyển mới cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước.

Thứ tư: Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định chủ xử lý CTNH phải “thực hiện biện pháp quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH”. Tuy nhiên, chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu trách nhiệm như thế nào thì vẫn chưa được pháp luật quy định rõ. Đây là một điểm có khả năng gây nhiều khó khăn cho các chủ thể áp dụng và thực hiện pháp luật đòi hỏi pháp luật phải quy định rõ.

2. Hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

2.1. Về quyền, nghĩa vụ

Việc quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH trong các văn bản pháp luật là vô cùng cần thiết. Để đảm bảo xác định thống nhất quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện cho chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, cần phải thiết lập một quy định xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dành riêng cho chủ thể này. Đối với quyền, cần phải quy định cụ thể các quyền mà chủ thể kinh doanh dịch vụ được hưởng như: Quyền được ký hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH; quyền được cung cấp thông tin; quyền được trả tiền cho việc thực hiện dịch vụ; quyền được cấp các chứng từ có liên quan đến hoạt động kinh doanh khi đã đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định; quyền được nhà nước và các cơ quan chuyên ngành hỗ trợ, tạo điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh… Đối với nghĩa vụ, cũng giống như quyền, cần phải quy định cụ thể các nghĩa vụ mà chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải thực hiện như: Phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động; phải bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng quản lý CTNH theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố; phải đảm bảo tính trung thực, chính xác của thông tin liên quan đến hoạt động quản lý CTNH…

2.2. Về trách nhiệm

Để khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH như đã phân tích ở trên, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Để khắc phục tình trạng CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh, thì ngoài những địa bàn được cho phép trong giấy phép xử lý CTNH thì cần quy định theo hướng cho phép các chủ xử lý CTNH được phép xin bổ sung thêm địa bàn hoạt động ngoài những địa bàn được nêu trong giấy phép xử lý CTNH nếu chứng minh được những địa bàn đó có nhu cầu xử lý CTNH và tại đó không có bất kỳ một cơ sở xử lý CTNH nào.

Thứ hai: Để tạo sự đồng bộ trong quy định về trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH của chủ xử lý CTNH. Cần bổ sung thêm điều kiện xảy ra để phát sinh trách nhiệm của cơ sở xử lý CTNH, tức là chủ xử lý CTNH chỉ có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH khi chủ nguồn thải CTNH có yêu cầu ký hợp đồng chuyển giao.

Thứ ba: Để khắc phục thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết trong hoạt động liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép, pháp luật môi trường cần phải quy định rõ theo hướng trong quá trình quản lý CTNH nếu phát sinh CTNH mà không thể tự xử lý, chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng với chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý; nếu chủ phát sinh CTNH có nhu cầu liên kết vận chuyển CTNH của mình cho chủ xử lý CTNH có khả năng xử lý thì không cần phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường nếu việc vận chuyển này vẫn diễn ra trên phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép của chủ thể thực hiện hoạt động vận chuyển. Chỉ khi nào nằm ngoài phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép thì việc liên kết vận chuyển mới phải đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường và chỉ được thực hiện khi Bộ Tài nguyên và Môi trường chấp thuận. Quy định như vậy sẽ xóa bỏ được các thủ tục hành chính rờm rà, đảm bảo sự tinh gọn, hợp lý, thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH nói riêng và quản lý CTNH nói chung.

Thứ tư: Pháp luật môi trường cần bổ sung các quy định hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của chủ xử lý CTNH khi chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH. Phải quy định rõ ràng, cụ thể chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu như thế nào, bao gồm những trách nhiệm gì, hậu quả pháp lý ra sao, chế tài áp dụng là gì… Việc có thêm những quy định cụ thể như vậy không chỉ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong quá trình thực hiện mà còn hỗ trợ cho quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các chủ thể có liên quan được hiệu quả.

Tóm lại, các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, cũng như ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất cần thiết, góp phần mang lại hiệu quả, chất lượng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Trần Linh Huân

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Mục 232 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

[2]. Hiện nay, hoạt động quản lý chất thải nguy hại được điều chỉnh chủ yếu trong các văn bản pháp luật môi trường gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

[3]. Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

[4]. Căn cứ bảng 3 Phụ lục 7 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, có 6 vùng địa bàn trên cả nước, đó là Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

[5]. Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: