Thứ năm 05/03/2026 08:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Abstract: The article analyzes shortcomings and inadequacies in the regulations on the rights, obligations and responsibilities of hazardous waste management service business entities from the point of view of environmental law, from there, makes suggestions and recommendations for improvement.

Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại (CTNH) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe con người, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. CTNH là một loại chất thải có đặc tính nguy hiểm cao, vì vậy, kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện[1]. Muốn thực hiện hoạt động này đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng rất nhiều các điều kiện khác nhau theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định của pháp luật môi trường[2] điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH còn nhiều bất cập, thiếu sót, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể liên quan, hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý CTNH trên thực tế. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là điều rất quan trọng, cần thiết.

1. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

1.1. Quyền, nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Bản chất của hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Lợi nhuận được tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi tham gia xác lập hợp đồng chuyển giao trách nhiệm quản lý CTNH, các bên đều mong muốn đạt được mục đích của mình một cách hiệu quả nhất. Đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, để cung ứng được loại hình dịch vụ này đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, chi phí để đáp ứng các điều kiện khắt khe về nhân sự và cơ sở vật chất do pháp luật quy định[3]. Chính vì vậy, chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng các quyền lợi chính đáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để đảm bảo lợi ích của bên sử dụng dịch vụ. Việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng mà các chủ thể này được hưởng cũng như xác định được các dạng trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể này phải gánh chịu khi không đảm bảo thực hiện đúng các nghĩa vụ đặt ra khi tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH từ chủ nguồn thải.

Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH. Hiện nay, các quyền và nghĩa vụ được các chủ thể tự thỏa thuận xây dựng với nhau trong các hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH, sự thỏa thuận này chủ yếu dựa vào các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật thương mại có liên quan để điều chỉnh. Điều này tạo nhiều khó khăn cho các chủ thể trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Vấn đề chưa có quy định cụ thể về quyền của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một bất lợi lớn cho những chủ thể này trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp, đây cũng là một sự thiếu sót dẫn đến mất cân đối trong kỹ thuật lập pháp khi chỉ quy định về trách nhiệm mà không quy định về quyền lợi của một chủ thể. Điều này sẽ dễ dẫn đến việc hạn chế các doanh nghiệp gia nhập vào hoạt động kinh doanh loại hình dịch vụ này vì rủi ro do việc vi phạm hợp đồng thì quá lớn, quy định về trách nhiệm thì quá nhiều mà cơ chế bảo vệ quyền lợi cho họ lại quá ít. Hậu quả của việc này là đối tượng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến quản lý CTNH sẽ càng ngày càng hẹp trong khi lẽ ra đây phải là một hoạt động cần được Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nhiều. Bên cạnh quyền, thì nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH cũng không được quy định rõ ràng. Điều này tạo cơ hội cho một số chủ thể kinh doanh loại hình dịch vụ này lợi dụng do không có các quy định pháp luật cụ thể nên đã đưa ra các điều khoản quyền lợi cho mình nhiều nhưng các nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm thì hầu như rất ít nhắc tới. Điều này rất nguy hiểm, vì trên thực tế, bên cung ứng dịch vụ thường là bên sẽ soạn thảo trước nội dung hợp đồng rồi sau đó mới chuyển sang cho chủ thể sử dụng dịch vụ xem xét, ký kết. Tuy nhiên, vì không có các quy định pháp luật xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cần phải có của chủ thể cung ứng nên các chủ thể sử dụng dịch vụ rất khó để xác định chính xác, hợp lý được các quyền, nghĩa vụ mà họ được hưởng và hệ quả là họ thường phải ký kết những hợp đồng dịch vụ với những nội dung điều khoản bất lợi cho mình mà họ không hề hay biết do không có hướng dẫn cụ thể.

Dưới một góc độ nhất định, có thể nói, pháp luật không quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên được tự do thỏa thuận trong giao dịch thương mại dựa trên các cơ pháp lý được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005… Điều này là cần thiết với tinh thần tự do kinh doanh trong các hoạt động kinh tế nhằm mục đích sinh lời. Tuy nhiên, cần phải xác định rằng, đối tượng của loại hình dịch vụ kinh doanh này là các hoạt động quản lý CTNH, một hoạt động rất đặc thù, có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tính mạng, sức khỏe con người và chất lượng môi trường. Vì vậy, bên cạnh sự điều chỉnh của luật chung thì cũng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng loại hình dịch vụ này. Từ những phân tích trên có thể thấy, hiện nay, pháp luật môi trường chưa có các quy định điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, đây là một điểm thiếu sót, vì vậy, cần phải có sự quy định bổ sung cụ thể về vấn đề này nhằm khắc phục những bất cập nêu trên.

1.2. Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy

Kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản liên quan đưa ra rất nhiều quy định về trách nhiệm buộc chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân thủ thực hiện. Việc tuân thủ, thực hiện đúng theo các trách nhiệm được quy định sẽ giúp đảm bảo hiệu quả an toàn trong công tác quản lý CTNH. Tuy nhiên, hiện nay, một số quy định pháp luật về trách nhiệm mà các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân theo vẫn còn một số bất cập, hạn chế nhất định.

Thứ nhất: Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP) quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Địa bàn hoạt động sẽ được xác nhận theo vùng[4] và từng tỉnh cụ thể. Một cơ sở xử lý CTNH sẽ được ký kết hợp đồng với các chủ nguồn thải trên địa bàn toàn bộ vùng hoặc một số tỉnh trong vùng tùy theo giấy phép. Điều này là hợp lý, một cơ sở xử lý CTNH chỉ nên được phép thu gom, vận chuyển và xử lý các CTNH từ các cơ sở phát sinh gần nó vì để đảm bảo tính an toàn tốt hơn trong quá trình vận chuyển và xử lý. Khoảng cách giữa cơ sở phát sinh CTNH và cơ sở xử lý càng xa thì việc vận chuyển càng tốn nhiều thời gian và rủi ro hơn. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở được cấp giấy phép xử lý CTNH hiện nay tập trung phần lớn ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, còn các địa bàn khác hầu như thiếu hụt trầm trọng cơ sở xử lý CTNH được cấp phép. Điều này phản ảnh đúng thực tế là phần lớn CTNH phát sinh từ các nhà máy, khu công nghiệp tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các địa bàn lân cận. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa những địa bàn khác lại không sản sinh ra CTNH, như vậy, nhu cầu xử lý CTNH là vẫn có trên những địa bàn đó. Với quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải “ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong Giấy phép xử lý CTNH”[5] đã tạo ra sự bất cập nhất định. Điều này dẫn đến thực trạng là CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không có cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh.

Thứ hai: Khoản 1 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và khoản 4 Điều 7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định nếu chủ nguồn thải CTNH không có khả năng xử lý CTNH đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì phải có trách nhiệm ký hợp đồng để chuyển giao CTNH với tổ chức, cá nhân có giấy phép phù hợp để xử lý. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP lại quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Các quy định được đề cập trên đây đã cho thấy sự thiếu đồng bộ. Bởi lẽ, chủ xử lý CTNH không có trách nhiệm phải ký hợp đồng xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động nếu các chủ nguồn thải CTNH này không có nhu cầu chuyển giao CTNH.

Thứ ba: Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm: “Đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường khi có nhu cầu liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép của mình cho chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý” và tại khoản 8 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) quy định: “Khi 02 (hai) tổ chức, cá nhân có nhu cầu liên kết trong đó một bên chỉ thực hiện việc vận chuyển CTNH và chuyển giao trách nhiệm xử lý cho bên còn lại (bao gồm cả cơ sở đang vận hành thử nghiệm xử lý CTNH) thì bên chuyển giao hoặc tiếp nhận phải gửi văn bản đề nghị kèm theo hợp đồng đến cơ quan cấp phép để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện”. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì chủ xử lý CTNH khi muốn liên kết vận chuyển CTNH để chuyển giao cho chủ thể khác có chức năng phù hợp để xử lý thì phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây, nếu chủ xử lý CTNH liên kết vận chuyển CTNH của chính mình do phát sinh trong quá trình xử lý nhưng thuộc nhóm CTNH không được phép xử lý và hoạt động vận chuyển này vẫn nằm trên cùng một phạm vi địa bàn được phép hoạt động của mình được ghi trên giấy phép nhưng khi đó vẫn phải đăng ký và phải được sự chấp thuận là điều không cần thiết và dường như đã can thiệp quá sâu vào quan hệ dân sự giữa hai cơ sở xử lý CTNH. Giả sử, nếu hợp đồng liên kết vận chuyển CTNH nào giữa hai chủ xử lý CTNH cũng phải đăng ký và có sự chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên trì trệ và thiếu linh hoạt. Điều này tạo ra quá nhiều thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết, làm cho nền kinh tế thiếu đi sự năng động. Thiết nghĩ, chỉ trường hợp nào liên kết vận chuyển CTNH phát sinh ở khu vực không thuộc địa bàn hoạt động và không có cơ sở xử lý của bên chuyển giao trách nhiệm xử lý thì các bên trong hợp đồng liên kết vận chuyển mới cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước.

Thứ tư: Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định chủ xử lý CTNH phải “thực hiện biện pháp quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH”. Tuy nhiên, chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu trách nhiệm như thế nào thì vẫn chưa được pháp luật quy định rõ. Đây là một điểm có khả năng gây nhiều khó khăn cho các chủ thể áp dụng và thực hiện pháp luật đòi hỏi pháp luật phải quy định rõ.

2. Hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

2.1. Về quyền, nghĩa vụ

Việc quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH trong các văn bản pháp luật là vô cùng cần thiết. Để đảm bảo xác định thống nhất quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện cho chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, cần phải thiết lập một quy định xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dành riêng cho chủ thể này. Đối với quyền, cần phải quy định cụ thể các quyền mà chủ thể kinh doanh dịch vụ được hưởng như: Quyền được ký hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH; quyền được cung cấp thông tin; quyền được trả tiền cho việc thực hiện dịch vụ; quyền được cấp các chứng từ có liên quan đến hoạt động kinh doanh khi đã đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định; quyền được nhà nước và các cơ quan chuyên ngành hỗ trợ, tạo điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh… Đối với nghĩa vụ, cũng giống như quyền, cần phải quy định cụ thể các nghĩa vụ mà chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải thực hiện như: Phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động; phải bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng quản lý CTNH theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố; phải đảm bảo tính trung thực, chính xác của thông tin liên quan đến hoạt động quản lý CTNH…

2.2. Về trách nhiệm

Để khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH như đã phân tích ở trên, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Để khắc phục tình trạng CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh, thì ngoài những địa bàn được cho phép trong giấy phép xử lý CTNH thì cần quy định theo hướng cho phép các chủ xử lý CTNH được phép xin bổ sung thêm địa bàn hoạt động ngoài những địa bàn được nêu trong giấy phép xử lý CTNH nếu chứng minh được những địa bàn đó có nhu cầu xử lý CTNH và tại đó không có bất kỳ một cơ sở xử lý CTNH nào.

Thứ hai: Để tạo sự đồng bộ trong quy định về trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH của chủ xử lý CTNH. Cần bổ sung thêm điều kiện xảy ra để phát sinh trách nhiệm của cơ sở xử lý CTNH, tức là chủ xử lý CTNH chỉ có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH khi chủ nguồn thải CTNH có yêu cầu ký hợp đồng chuyển giao.

Thứ ba: Để khắc phục thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết trong hoạt động liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép, pháp luật môi trường cần phải quy định rõ theo hướng trong quá trình quản lý CTNH nếu phát sinh CTNH mà không thể tự xử lý, chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng với chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý; nếu chủ phát sinh CTNH có nhu cầu liên kết vận chuyển CTNH của mình cho chủ xử lý CTNH có khả năng xử lý thì không cần phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường nếu việc vận chuyển này vẫn diễn ra trên phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép của chủ thể thực hiện hoạt động vận chuyển. Chỉ khi nào nằm ngoài phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép thì việc liên kết vận chuyển mới phải đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường và chỉ được thực hiện khi Bộ Tài nguyên và Môi trường chấp thuận. Quy định như vậy sẽ xóa bỏ được các thủ tục hành chính rờm rà, đảm bảo sự tinh gọn, hợp lý, thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH nói riêng và quản lý CTNH nói chung.

Thứ tư: Pháp luật môi trường cần bổ sung các quy định hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của chủ xử lý CTNH khi chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH. Phải quy định rõ ràng, cụ thể chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu như thế nào, bao gồm những trách nhiệm gì, hậu quả pháp lý ra sao, chế tài áp dụng là gì… Việc có thêm những quy định cụ thể như vậy không chỉ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong quá trình thực hiện mà còn hỗ trợ cho quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các chủ thể có liên quan được hiệu quả.

Tóm lại, các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, cũng như ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất cần thiết, góp phần mang lại hiệu quả, chất lượng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Trần Linh Huân

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Mục 232 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

[2]. Hiện nay, hoạt động quản lý chất thải nguy hại được điều chỉnh chủ yếu trong các văn bản pháp luật môi trường gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

[3]. Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

[4]. Căn cứ bảng 3 Phụ lục 7 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, có 6 vùng địa bàn trên cả nước, đó là Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

[5]. Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: