Thứ năm 20/08/2026 03:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thiếu sót, bất cập trong quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường, từ đó đề ra các đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện.

Abstract: The article analyzes shortcomings and inadequacies in the regulations on the rights, obligations and responsibilities of hazardous waste management service business entities from the point of view of environmental law, from there, makes suggestions and recommendations for improvement.

Kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại (CTNH) có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe con người, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. CTNH là một loại chất thải có đặc tính nguy hiểm cao, vì vậy, kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện[1]. Muốn thực hiện hoạt động này đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng rất nhiều các điều kiện khác nhau theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay, các quy định của pháp luật môi trường[2] điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH còn nhiều bất cập, thiếu sót, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể liên quan, hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý CTNH trên thực tế. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là điều rất quan trọng, cần thiết.

1. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

1.1. Quyền, nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại

Bản chất của hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Lợi nhuận được tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi tham gia xác lập hợp đồng chuyển giao trách nhiệm quản lý CTNH, các bên đều mong muốn đạt được mục đích của mình một cách hiệu quả nhất. Đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, để cung ứng được loại hình dịch vụ này đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, chi phí để đáp ứng các điều kiện khắt khe về nhân sự và cơ sở vật chất do pháp luật quy định[3]. Chính vì vậy, chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng các quyền lợi chính đáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để đảm bảo lợi ích của bên sử dụng dịch vụ. Việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng mà các chủ thể này được hưởng cũng như xác định được các dạng trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể này phải gánh chịu khi không đảm bảo thực hiện đúng các nghĩa vụ đặt ra khi tiếp nhận trách nhiệm quản lý CTNH từ chủ nguồn thải.

Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan chưa có một điều khoản cụ thể nào quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH. Hiện nay, các quyền và nghĩa vụ được các chủ thể tự thỏa thuận xây dựng với nhau trong các hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH, sự thỏa thuận này chủ yếu dựa vào các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật thương mại có liên quan để điều chỉnh. Điều này tạo nhiều khó khăn cho các chủ thể trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Vấn đề chưa có quy định cụ thể về quyền của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một bất lợi lớn cho những chủ thể này trong việc bảo vệ quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp, đây cũng là một sự thiếu sót dẫn đến mất cân đối trong kỹ thuật lập pháp khi chỉ quy định về trách nhiệm mà không quy định về quyền lợi của một chủ thể. Điều này sẽ dễ dẫn đến việc hạn chế các doanh nghiệp gia nhập vào hoạt động kinh doanh loại hình dịch vụ này vì rủi ro do việc vi phạm hợp đồng thì quá lớn, quy định về trách nhiệm thì quá nhiều mà cơ chế bảo vệ quyền lợi cho họ lại quá ít. Hậu quả của việc này là đối tượng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến quản lý CTNH sẽ càng ngày càng hẹp trong khi lẽ ra đây phải là một hoạt động cần được Nhà nước hỗ trợ và khuyến khích nhiều. Bên cạnh quyền, thì nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH cũng không được quy định rõ ràng. Điều này tạo cơ hội cho một số chủ thể kinh doanh loại hình dịch vụ này lợi dụng do không có các quy định pháp luật cụ thể nên đã đưa ra các điều khoản quyền lợi cho mình nhiều nhưng các nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm thì hầu như rất ít nhắc tới. Điều này rất nguy hiểm, vì trên thực tế, bên cung ứng dịch vụ thường là bên sẽ soạn thảo trước nội dung hợp đồng rồi sau đó mới chuyển sang cho chủ thể sử dụng dịch vụ xem xét, ký kết. Tuy nhiên, vì không có các quy định pháp luật xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cần phải có của chủ thể cung ứng nên các chủ thể sử dụng dịch vụ rất khó để xác định chính xác, hợp lý được các quyền, nghĩa vụ mà họ được hưởng và hệ quả là họ thường phải ký kết những hợp đồng dịch vụ với những nội dung điều khoản bất lợi cho mình mà họ không hề hay biết do không có hướng dẫn cụ thể.

Dưới một góc độ nhất định, có thể nói, pháp luật không quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên được tự do thỏa thuận trong giao dịch thương mại dựa trên các cơ pháp lý được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005… Điều này là cần thiết với tinh thần tự do kinh doanh trong các hoạt động kinh tế nhằm mục đích sinh lời. Tuy nhiên, cần phải xác định rằng, đối tượng của loại hình dịch vụ kinh doanh này là các hoạt động quản lý CTNH, một hoạt động rất đặc thù, có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề tính mạng, sức khỏe con người và chất lượng môi trường. Vì vậy, bên cạnh sự điều chỉnh của luật chung thì cũng cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành về quyền và nghĩa vụ của chủ thể cung ứng loại hình dịch vụ này. Từ những phân tích trên có thể thấy, hiện nay, pháp luật môi trường chưa có các quy định điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, đây là một điểm thiếu sót, vì vậy, cần phải có sự quy định bổ sung cụ thể về vấn đề này nhằm khắc phục những bất cập nêu trên.

1.2. Trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy

Kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là một loại ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có giá trị về mặt bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản liên quan đưa ra rất nhiều quy định về trách nhiệm buộc chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân thủ thực hiện. Việc tuân thủ, thực hiện đúng theo các trách nhiệm được quy định sẽ giúp đảm bảo hiệu quả an toàn trong công tác quản lý CTNH. Tuy nhiên, hiện nay, một số quy định pháp luật về trách nhiệm mà các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải tuân theo vẫn còn một số bất cập, hạn chế nhất định.

Thứ nhất: Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP) quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Địa bàn hoạt động sẽ được xác nhận theo vùng[4] và từng tỉnh cụ thể. Một cơ sở xử lý CTNH sẽ được ký kết hợp đồng với các chủ nguồn thải trên địa bàn toàn bộ vùng hoặc một số tỉnh trong vùng tùy theo giấy phép. Điều này là hợp lý, một cơ sở xử lý CTNH chỉ nên được phép thu gom, vận chuyển và xử lý các CTNH từ các cơ sở phát sinh gần nó vì để đảm bảo tính an toàn tốt hơn trong quá trình vận chuyển và xử lý. Khoảng cách giữa cơ sở phát sinh CTNH và cơ sở xử lý càng xa thì việc vận chuyển càng tốn nhiều thời gian và rủi ro hơn. Tuy nhiên, hầu hết các cơ sở được cấp giấy phép xử lý CTNH hiện nay tập trung phần lớn ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, còn các địa bàn khác hầu như thiếu hụt trầm trọng cơ sở xử lý CTNH được cấp phép. Điều này phản ảnh đúng thực tế là phần lớn CTNH phát sinh từ các nhà máy, khu công nghiệp tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các địa bàn lân cận. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa những địa bàn khác lại không sản sinh ra CTNH, như vậy, nhu cầu xử lý CTNH là vẫn có trên những địa bàn đó. Với quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm phải “ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong Giấy phép xử lý CTNH”[5] đã tạo ra sự bất cập nhất định. Điều này dẫn đến thực trạng là CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không có cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh.

Thứ hai: Khoản 1 Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và khoản 4 Điều 7 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định nếu chủ nguồn thải CTNH không có khả năng xử lý CTNH đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì phải có trách nhiệm ký hợp đồng để chuyển giao CTNH với tổ chức, cá nhân có giấy phép phù hợp để xử lý. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP lại quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH. Các quy định được đề cập trên đây đã cho thấy sự thiếu đồng bộ. Bởi lẽ, chủ xử lý CTNH không có trách nhiệm phải ký hợp đồng xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động nếu các chủ nguồn thải CTNH này không có nhu cầu chuyển giao CTNH.

Thứ ba: Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP quy định chủ xử lý CTNH có trách nhiệm: “Đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường khi có nhu cầu liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép của mình cho chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý” và tại khoản 8 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT) quy định: “Khi 02 (hai) tổ chức, cá nhân có nhu cầu liên kết trong đó một bên chỉ thực hiện việc vận chuyển CTNH và chuyển giao trách nhiệm xử lý cho bên còn lại (bao gồm cả cơ sở đang vận hành thử nghiệm xử lý CTNH) thì bên chuyển giao hoặc tiếp nhận phải gửi văn bản đề nghị kèm theo hợp đồng đến cơ quan cấp phép để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện”. Như vậy, theo các quy định nêu trên thì chủ xử lý CTNH khi muốn liên kết vận chuyển CTNH để chuyển giao cho chủ thể khác có chức năng phù hợp để xử lý thì phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường để được xem xét, chấp thuận trước khi thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây, nếu chủ xử lý CTNH liên kết vận chuyển CTNH của chính mình do phát sinh trong quá trình xử lý nhưng thuộc nhóm CTNH không được phép xử lý và hoạt động vận chuyển này vẫn nằm trên cùng một phạm vi địa bàn được phép hoạt động của mình được ghi trên giấy phép nhưng khi đó vẫn phải đăng ký và phải được sự chấp thuận là điều không cần thiết và dường như đã can thiệp quá sâu vào quan hệ dân sự giữa hai cơ sở xử lý CTNH. Giả sử, nếu hợp đồng liên kết vận chuyển CTNH nào giữa hai chủ xử lý CTNH cũng phải đăng ký và có sự chấp thuận của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên trì trệ và thiếu linh hoạt. Điều này tạo ra quá nhiều thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết, làm cho nền kinh tế thiếu đi sự năng động. Thiết nghĩ, chỉ trường hợp nào liên kết vận chuyển CTNH phát sinh ở khu vực không thuộc địa bàn hoạt động và không có cơ sở xử lý của bên chuyển giao trách nhiệm xử lý thì các bên trong hợp đồng liên kết vận chuyển mới cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước.

Thứ tư: Khoản 2 Điều 9 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT quy định chủ xử lý CTNH phải “thực hiện biện pháp quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH”. Tuy nhiên, chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu trách nhiệm như thế nào thì vẫn chưa được pháp luật quy định rõ. Đây là một điểm có khả năng gây nhiều khó khăn cho các chủ thể áp dụng và thực hiện pháp luật đòi hỏi pháp luật phải quy định rõ.

2. Hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại dưới góc độ pháp luật môi trường

2.1. Về quyền, nghĩa vụ

Việc quy định một cách rõ ràng quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH trong các văn bản pháp luật là vô cùng cần thiết. Để đảm bảo xác định thống nhất quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện cho chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH, cần phải thiết lập một quy định xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dành riêng cho chủ thể này. Đối với quyền, cần phải quy định cụ thể các quyền mà chủ thể kinh doanh dịch vụ được hưởng như: Quyền được ký hợp đồng dịch vụ quản lý CTNH; quyền được cung cấp thông tin; quyền được trả tiền cho việc thực hiện dịch vụ; quyền được cấp các chứng từ có liên quan đến hoạt động kinh doanh khi đã đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định; quyền được nhà nước và các cơ quan chuyên ngành hỗ trợ, tạo điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh… Đối với nghĩa vụ, cũng giống như quyền, cần phải quy định cụ thể các nghĩa vụ mà chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH phải thực hiện như: Phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động; phải bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng quản lý CTNH theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố; phải đảm bảo tính trung thực, chính xác của thông tin liên quan đến hoạt động quản lý CTNH…

2.2. Về trách nhiệm

Để khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH như đã phân tích ở trên, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Để khắc phục tình trạng CTNH ở những địa bàn còn lại tuy có nhu cầu xử lý CTNH nhưng vì địa bàn này không cơ sở xử lý CTNH và cũng không có tên trong giấy phép xử lý CTNH nên dẫn đến tình trạng CTNH không được xử lý trong một thời gian dài, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và khu dân cư xung quanh, thì ngoài những địa bàn được cho phép trong giấy phép xử lý CTNH thì cần quy định theo hướng cho phép các chủ xử lý CTNH được phép xin bổ sung thêm địa bàn hoạt động ngoài những địa bàn được nêu trong giấy phép xử lý CTNH nếu chứng minh được những địa bàn đó có nhu cầu xử lý CTNH và tại đó không có bất kỳ một cơ sở xử lý CTNH nào.

Thứ hai: Để tạo sự đồng bộ trong quy định về trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH của chủ xử lý CTNH. Cần bổ sung thêm điều kiện xảy ra để phát sinh trách nhiệm của cơ sở xử lý CTNH, tức là chủ xử lý CTNH chỉ có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với các chủ nguồn thải CTNH trên địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép xử lý CTNH khi chủ nguồn thải CTNH có yêu cầu ký hợp đồng chuyển giao.

Thứ ba: Để khắc phục thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết trong hoạt động liên kết để vận chuyển các CTNH không có trong giấy phép, pháp luật môi trường cần phải quy định rõ theo hướng trong quá trình quản lý CTNH nếu phát sinh CTNH mà không thể tự xử lý, chủ xử lý CTNH có trách nhiệm ký hợp đồng với chủ xử lý CTNH khác có chức năng phù hợp để xử lý; nếu chủ phát sinh CTNH có nhu cầu liên kết vận chuyển CTNH của mình cho chủ xử lý CTNH có khả năng xử lý thì không cần phải đăng ký tại Bộ Tài nguyên và Môi trường nếu việc vận chuyển này vẫn diễn ra trên phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép của chủ thể thực hiện hoạt động vận chuyển. Chỉ khi nào nằm ngoài phạm vi địa bàn hoạt động được ghi trong giấy phép thì việc liên kết vận chuyển mới phải đăng ký với Bộ Tài nguyên và Môi trường và chỉ được thực hiện khi Bộ Tài nguyên và Môi trường chấp thuận. Quy định như vậy sẽ xóa bỏ được các thủ tục hành chính rờm rà, đảm bảo sự tinh gọn, hợp lý, thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH nói riêng và quản lý CTNH nói chung.

Thứ tư: Pháp luật môi trường cần bổ sung các quy định hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của chủ xử lý CTNH khi chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với hoạt động của phương tiện vận chuyển không chính chủ trong quá trình vận chuyển CTNH. Phải quy định rõ ràng, cụ thể chịu hoàn toàn trách nhiệm là chịu như thế nào, bao gồm những trách nhiệm gì, hậu quả pháp lý ra sao, chế tài áp dụng là gì… Việc có thêm những quy định cụ thể như vậy không chỉ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng trong quá trình thực hiện mà còn hỗ trợ cho quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của các chủ thể có liên quan được hiệu quả.

Tóm lại, các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, cũng như ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH là rất cần thiết, góp phần mang lại hiệu quả, chất lượng trong hoạt động kinh doanh dịch vụ quản lý CTNH.

Trần Linh Huân

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Mục 232 Phụ lục 4 ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

[2]. Hiện nay, hoạt động quản lý chất thải nguy hại được điều chỉnh chủ yếu trong các văn bản pháp luật môi trường gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

[3]. Điều 9 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

[4]. Căn cứ bảng 3 Phụ lục 7 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, có 6 vùng địa bàn trên cả nước, đó là Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

[5]. Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: