Thứ sáu 11/09/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Tài sản, quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung, trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nói riêng được quy định tại Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014… Tuy nhiên, sau hơn hai năm thực thi, các quy định của pháp luật về vấn đề này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.

Abstract: Property, ownership in an enterprise in general, in a limited company with two or more members in particular, are provided in the Constitution of 2013 and in other laws such as the Civil Code of 2015, Enterprise Law of 2014, Investment Law of 2014 ... After two years of implementation, however, legal provisions regarding this issue show limitations, inadequacies which need to be amended in order to ensure the compatibility to international law and conformity with economic - social conditions of Vietnam.

1. Sự ghi nhận của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp và những tác động tích cực

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 đã tiếp tục hiện thực hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế, cũng như tạo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động góp vốn thành lập, tổ chức quản lý, chuyển nhượng vốn và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp[1], đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, phục vụ[2]. Trên thực tế, Nhà nước đã hình thành cơ sở pháp lý cần thiết để tổ chức, vận hành, quản lý nền kinh tế thị trường với hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Một trong những nội dung quan trọng tác động đến sự phát triển bền vững hay suy vong của doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) nói riêng đó là vấn đề tài sản, quyền sở hữu tài sản.

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của quyền tự do kinh doanh. Việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản đều phải dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự[3]. Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; thu hoa lợi, lợi tức; tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; được thừa kế…[4]. Trường hợp pháp luật có các quy định khác hoặc quy định đó trái với Bộ luật Dân sự thì quy định đó phải được thể hiện trong văn bản luật hoặc đạo luật khác do Quốc hội ban hành. Quyền sở hữu là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì nó chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Tài sản và quyền sở hữu tài sản tạo nên “xương sống” cho quá trình gia nhập, phát triển hay rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên. Nội dung của pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện trên nhiều phương diện như: Chủ thể, đối tượng, xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ sở hữu tài sản… Quá trình thực thi về tài sản và quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung, trong công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định trên nhiều phương diện khác nhau như: (i) Góp vốn của thành viên khi thành lập công ty; (ii) Thực hiện quyền chủ sở hữu tài sản và các quyền về tài sản qua chuyển nhương, mua lại tài sản là phần vốn góp; (iii) Thanh toán mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp và nhận cổ tức của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào công ty…

Những quy định của pháp luật về vấn đề này đã tạo “hành lang pháp lý” thúc đẩy hoạt động đầu tư của nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến tháng 06/2017, cả nước có 61.276 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 596.200 tỷ đồng, tăng 12,4% về số doanh nghiệp và tăng 39,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới ở mức 9,7 tỷ đồng, tăng 24%. Nếu tính cả 859.200 tỷ đồng của 18.100 lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 06 tháng đầu năm 2017 là 1.455.400 tỷ đồng[5]. Các thiết chế pháp luật hiện hành cũng đã góp phần tác động tích cực đến hoạt động thu hút đầu tư, tính đến ngày 20/03/2017, cả nước có 23.071 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 300,7 tỷ USD. Trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 175,57 tỷ USD, chiếm 59,3% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 52,58 tỷ USD (chiếm 17,48% tổng vốn đầu tư), sản xuất, phân phối điện, khí nước với 12,9 tỷ USD (chiếm 4,29% tổng vốn đầu tư)[6].

2. Một số bất cập, hạn chế từ các quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một pháp nhân, có quyền sở hữu tài sản đứng tên công ty và tài sản của công ty không phải là tài sản riêng của các thành viên công ty. Điều này thể hiện sự tách biệt về trách nhiệm bằng tài sản của pháp nhân với tài sản của các thành viên của pháp nhân. Công ty có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công ty với tư cách là chủ sở hữu. Thành viên góp vốn bằng tiền hoặc bằng tài sản vào công ty, phần góp này trở thành tài sản của công ty[7] và không còn là tài sản của riêng thành viên đó nữa. Quá trình thực hiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan đến quyền sở hữu tài sản cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực cũng bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế, gây khó khăn cho việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên, bao gồm:

Một là, về vốn kê khai khi thành lập công ty

Trên thực tế có hai xu hướng kê khai và góp vốn điều lệ: (i) Kê khai mức vốn điều lệ rất lớn và lớn hơn nhiều so với số vốn thực tế các thành viên góp vào công ty do doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng về khả năng tài chính trong kinh doanh để thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng và tham gia đấu thầu; (ii) Kê khai mức vốn điều lệ nhỏ hơn so số tiền các thành viên thực góp vào công ty do sợ phải trả thuế nhiều. Vốn điều lệ của rất nhiều doanh nghiệp không thực sự đúng với số vốn mà thành viên công ty thực góp vào công ty. Hiện tượng “vốn ảo” trong công ty dẫn đến phần lớn tranh chấp giữa các thành viên trong công ty xuất phát từ việc các bên vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm của các bên trong góp vốn vào công ty, yêu cầu về góp vốn đúng và đủ theo cam kết. Mặc dù vậy, các bên chưa thực sự hiểu một cách đầy đủ và trong một số trường hợp còn vi phạm nguyên tắc này; còn thiếu cơ chế thúc đẩy cũng như để các bên liên quan giám sát quá trình này nhằm hạn chế gian lận. Ví dụ như việc kê khai mức vốn điều lệ lớn hơn nhiều so với số vốn thực tế các thành viên góp vào công ty do doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng về khả năng tài chính trong kinh doanh để thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng. Về vấn đề này, thì Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng mới chỉ quy định nguyên tắc xác lập quyền sở hữu mà chưa quy định nguyên tắc cho việc chấm dứt quyền này[8]. Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp thì việc giải quyết gặp khá nhiều khó khăn và để lại những hệ lụy khôn lường ảnh hưởng tới quyền lợi của các thành viên và ngay chính cả lợi ích của công ty.

Hai là, về chuyển nhượng vốn, thừa kế phần vốn góp trong công ty

Sự biến động quyền sở hữu tài sản do chuyển nhượng vốn hay thừa kế phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên làm tăng số lượng thành viên, số lượng thành viên có thể trên 50 thành viên. Mặc dù để xử lý trường hợp này theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty sẽ phải tiến hành chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, do giao dịch chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên không liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty nên về lý thuyết công ty vẫn hoạt động bình thường với trên 50 thành viên trong lúc chờ chuyển đổi và như vậy là không phù hợp quy định của luật do Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký là hành vi bị cấm[9]. Như vậy, việc chuyển nhượng vốn góp hay thừa kế phần vốn góp trong thực tế không chỉ gây biến động về quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Bên cạnh đó, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng không gây ra việc thay đổi tổng vốn điều lệ của công ty, khi đó khoản tiền chuyển nhượng được chuyển thẳng cho bên chuyển nhượng và nhà đầu tư nước ngoài gián tiếp sở hữu phần vốn góp mà bên chuyển nhượng đã góp vào công ty. Điều này có nghĩa, không có dòng tiền từ nhà đầu tư nước ngoài chuyển vào công ty và quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc nhà đầu tư phải mở tài khoản vốn tại ngân hàng ở Việt Nam để thực hiện chuyển nhượng vốn rõ ràng không đạt được mục tiêu thông qua dòng tiền đầu tư để theo dõi, có chế tài kịp thời đối với tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài ở trường hợp này.

Bốn là, quy định về điều kiện chuyển nhượng vốn góp

Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc thành viên công ty muốn chuyển nhượng phần vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện[10] nhưng không nêu rõ điều kiện đó như thế nào sẽ làm nảy sinh hiện tượng thành viên công ty cố ý chào bán phần vốn góp của mình với giá nhiều hơn giá trị thực tế của phần vốn góp khiến các thành viên còn lại trong công ty không thể mua được, từ đó chuyển nhượng dễ dàng cho bên thứ ba định trước không phải là thành viên công ty. Hành động này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu phần vốn góp của thành viên công ty và tính “đóng” của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong thực tế.

Năm là, về người thành lập doanh nghiệp

“Người thành lập doanh nghiệp” là khái niệm mới được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014[11]. Đây là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp[12], tham gia quá trình thành lập doanh nghiệp và có thể ký “hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp”[13]. Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa đặt ra tiêu chí về mức độ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp vào thời điểm trước khi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp. Do đó, trường hợp người thành lập doanh nghiệp thu lợi từ hợp đồng cho bản thân hoặc người có liên quan của mình, các thành viên công ty sẽ khó xác định trách nhiệm của chủ thể này. Trong khi đó doanh nghiệp khi được thành lập sẽ phải tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng này và thanh toán nợ phát sinh bằng tài sản của công ty. Bên cạnh đó, một số quy định có liên quan về thực thi quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên liên quan đến người thành lập công ty cũng chưa minh bạch. Một số khái niệm “với cùng điều kiện”[14] hoặc “cam kết góp”[15] hay xác định mức độ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp vào thời điểm trước khi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp cũng chưa được làm rõ.

Sáu là, về nghị quyết của hội đồng thành viên

Nghị quyết của hội đồng thành viên có hiệu lực thi hành kể từ ngày được thông qua hoặc từ ngày có hiệu lực được ghi tại nghị quyết đó[16]. Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến nghị quyết của hội đồng thành viên về chuyển nhượng phần vốn góp hoặc tăng/giảm vốn điều lệ gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu phần vốn góp, thành viên công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua cùng với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ thi hành một phần nghị quyết, lúc này nghị quyết của hội đồng thành viên tuy bị khởi kiện nhưng vẫn có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Trường hợp thành viên, nhóm thành viên yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua thì nghị quyết đó vẫn có hiệu lực thi hành cho đến khi có quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài có hiệu lực thi hành” ngay cả khi Tòa án trên cơ sở Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015[17] quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ thi hành một phần nghị quyết của Hội đồng thành viên.

Bảy là, sự xung đột pháp luật về đối tượng góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên

Khi tổ chức Việt Nam không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, hợp tác xã, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản), các tổ chức được thành lập ở nước ngoài không có tư cách pháp nhân (một số quỹ đầu tư nước ngoài) góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên[18], các tổ chức này cử đại diện tham gia hội đồng thành viên để quản lý công ty. Dựa trên quan điểm rằng, tổ chức không có tư cách pháp nhân không thể tự mình thành lập và quản lý doanh nghiệp mà phải thực hiện quyền của mình qua các thành viên trong tổ chức đó và nhằm tránh hậu quả pháp lý không rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định tổ chức không có tư cách pháp nhân được quyền góp vốn nhưng không có quyền quản lý công ty[19]. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 với tư cách là luật chung vẫn cho phép tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia xác lập và thực hiện giao dịch dân sự và đặt ra nguyên tắc xác định trách nhiệm của các thành viên tổ chức này khi tham gia góp vốn. Có hai cách hiểu đối với quy định trên: (i) Theo quan điểm linh hoạt, tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn có thể góp vốn và sau đó tham gia quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên vì quy định hạn chế quyền quản lý công ty nằm tại Chương II Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hạn chế về quyền quản lý doanh nghiệp không áp dụng cho trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đã được thành lập, rồi sau đó mới cho tổ chức không có tư cách pháp nhân góp vốn và tham gia hội đồng thành viên; (ii) Quan điểm thận trọng cho rằng, nếu tổ chức không có tư cách pháp nhân và không được quyền quản lý doanh nghiệp ngay từ thời điểm thành lập doanh nghiệp thì cũng sẽ không có quyền quản lý doanh nghiệp sau khi góp vốn, quan điểm này vẫn đang tồn tại[20].

Mặt khác, quá trình cụ thể hóa chính sách trong xây dựng pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản nói chung và quyền sở hữu tài sản của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng đôi khi tạo ra sự chưa hợp lý, bất nhất. Ví dụ, tại khoản 6 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định một trong các quyền của thành viên công ty là được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp (đây chính là một phần tài sản mà thành viên thu được thông qua hoạt động góp vốn vào công ty). Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định “quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”[21]. Như vậy, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản là một phần quyền định đoạt và là căn cứ quan trọng của chấm dứt quyền sở hữu. Trong thực tế, bất cứ chủ thể nào không phân biệt mức độ hành vi dân sự cũng tiêu dùng được tài sản. Do vậy, quy định “việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật” là chưa hợp lý khi đưa “tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”[22] vào khái niệm quyền định đoạt.

Hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản chưa cao. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu[23]. Trong đó, pháp luật về quyền sở hữu tài sản và thực thi quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên mặc dù đã có những tác động tích cực trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy huy động vốn, phát triển, mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; từng bước góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến đến quá trình hình thành, phát triển hay rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến lợi ích của thành viên và công ty. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng luông mang tính cấp thiết và là bài toán cần có lời giải hữu hiệu hiện nay ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Quý Trọng

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Tư pháp (2015), Đề cương giới thiệu Luật Doanh nghiệp năm 2014, Trang thông tin về phổ biến giáo dục pháp luật, tại địa chỉ http://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tl-pbgdpl/Pages/de-cuong.aspx?ItemId=202 ngày truy cập 03/7/2017.

[2]. Hướng tới sáng tạo, phát triển và dáp ứng nhu cầu của đời sống người dân và xã hội.

[3]. Khoản 1 Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Tổng Cục thống kê (2017), “Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017”, Trang thông tin tình hình kinh tế-xã hội, tại địa chỉ http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18471 ngày truy cập 03/7/2017.

[6]. Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), “Tình hình thu hút Đầu tư nước ngoài Quý I năm 2017”, Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài, tại địa chỉ https://dautunuocngoai.gov.vn/tinbai/5247/Tinh-hinh-thu-hut-Dau-tu-nuoc-ngoai-Quy-I-nam-2017 ngày truy cập 5/7/2017.

[7]. Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[8]. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, TP.HCM, tr.212.

[9]. Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[11]. Điều 15 Luật Doanh nghiệp năm 2005 tuy có đề cập đến “Người thành lập doanh nghiệp” nhưng chưa nêu rõ.

[12]. Khoản 19 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[13]. Khoản 1 Điều 19 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[14]. Điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[15]. Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[16]. Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[17]. Điều 111 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[18]. Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[19]. Điểm đ khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[20]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp - Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân Trí, Hà Nội, tr.99-100.

[21]. Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[22]. Xem thêm Điều 193 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[23]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: