Thứ bảy 14/03/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Tài sản, quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung, trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nói riêng được quy định tại Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014… Tuy nhiên, sau hơn hai năm thực thi, các quy định của pháp luật về vấn đề này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung để đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.

Abstract: Property, ownership in an enterprise in general, in a limited company with two or more members in particular, are provided in the Constitution of 2013 and in other laws such as the Civil Code of 2015, Enterprise Law of 2014, Investment Law of 2014 ... After two years of implementation, however, legal provisions regarding this issue show limitations, inadequacies which need to be amended in order to ensure the compatibility to international law and conformity with economic - social conditions of Vietnam.

1. Sự ghi nhận của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp và những tác động tích cực

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 đã tiếp tục hiện thực hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế, cũng như tạo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động góp vốn thành lập, tổ chức quản lý, chuyển nhượng vốn và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp[1], đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, phục vụ[2]. Trên thực tế, Nhà nước đã hình thành cơ sở pháp lý cần thiết để tổ chức, vận hành, quản lý nền kinh tế thị trường với hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu, quyền tự do kinh doanh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Một trong những nội dung quan trọng tác động đến sự phát triển bền vững hay suy vong của doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) nói riêng đó là vấn đề tài sản, quyền sở hữu tài sản.

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của quyền tự do kinh doanh. Việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản đều phải dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự[3]. Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; thu hoa lợi, lợi tức; tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; được thừa kế…[4]. Trường hợp pháp luật có các quy định khác hoặc quy định đó trái với Bộ luật Dân sự thì quy định đó phải được thể hiện trong văn bản luật hoặc đạo luật khác do Quốc hội ban hành. Quyền sở hữu là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì nó chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Tài sản và quyền sở hữu tài sản tạo nên “xương sống” cho quá trình gia nhập, phát triển hay rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên. Nội dung của pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện trên nhiều phương diện như: Chủ thể, đối tượng, xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ sở hữu tài sản… Quá trình thực thi về tài sản và quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung, trong công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định trên nhiều phương diện khác nhau như: (i) Góp vốn của thành viên khi thành lập công ty; (ii) Thực hiện quyền chủ sở hữu tài sản và các quyền về tài sản qua chuyển nhương, mua lại tài sản là phần vốn góp; (iii) Thanh toán mọi hoạt động mua, bán, chuyển nhượng cổ phần và phần vốn góp và nhận cổ tức của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào công ty…

Những quy định của pháp luật về vấn đề này đã tạo “hành lang pháp lý” thúc đẩy hoạt động đầu tư của nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến tháng 06/2017, cả nước có 61.276 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 596.200 tỷ đồng, tăng 12,4% về số doanh nghiệp và tăng 39,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới ở mức 9,7 tỷ đồng, tăng 24%. Nếu tính cả 859.200 tỷ đồng của 18.100 lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 06 tháng đầu năm 2017 là 1.455.400 tỷ đồng[5]. Các thiết chế pháp luật hiện hành cũng đã góp phần tác động tích cực đến hoạt động thu hút đầu tư, tính đến ngày 20/03/2017, cả nước có 23.071 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 300,7 tỷ USD. Trong đó, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với 175,57 tỷ USD, chiếm 59,3% tổng vốn đầu tư, tiếp theo là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 52,58 tỷ USD (chiếm 17,48% tổng vốn đầu tư), sản xuất, phân phối điện, khí nước với 12,9 tỷ USD (chiếm 4,29% tổng vốn đầu tư)[6].

2. Một số bất cập, hạn chế từ các quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một pháp nhân, có quyền sở hữu tài sản đứng tên công ty và tài sản của công ty không phải là tài sản riêng của các thành viên công ty. Điều này thể hiện sự tách biệt về trách nhiệm bằng tài sản của pháp nhân với tài sản của các thành viên của pháp nhân. Công ty có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công ty với tư cách là chủ sở hữu. Thành viên góp vốn bằng tiền hoặc bằng tài sản vào công ty, phần góp này trở thành tài sản của công ty[7] và không còn là tài sản của riêng thành viên đó nữa. Quá trình thực hiện quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan đến quyền sở hữu tài sản cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực cũng bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế, gây khó khăn cho việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên, bao gồm:

Một là, về vốn kê khai khi thành lập công ty

Trên thực tế có hai xu hướng kê khai và góp vốn điều lệ: (i) Kê khai mức vốn điều lệ rất lớn và lớn hơn nhiều so với số vốn thực tế các thành viên góp vào công ty do doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng về khả năng tài chính trong kinh doanh để thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng và tham gia đấu thầu; (ii) Kê khai mức vốn điều lệ nhỏ hơn so số tiền các thành viên thực góp vào công ty do sợ phải trả thuế nhiều. Vốn điều lệ của rất nhiều doanh nghiệp không thực sự đúng với số vốn mà thành viên công ty thực góp vào công ty. Hiện tượng “vốn ảo” trong công ty dẫn đến phần lớn tranh chấp giữa các thành viên trong công ty xuất phát từ việc các bên vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm của các bên trong góp vốn vào công ty, yêu cầu về góp vốn đúng và đủ theo cam kết. Mặc dù vậy, các bên chưa thực sự hiểu một cách đầy đủ và trong một số trường hợp còn vi phạm nguyên tắc này; còn thiếu cơ chế thúc đẩy cũng như để các bên liên quan giám sát quá trình này nhằm hạn chế gian lận. Ví dụ như việc kê khai mức vốn điều lệ lớn hơn nhiều so với số vốn thực tế các thành viên góp vào công ty do doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng về khả năng tài chính trong kinh doanh để thuận lợi hơn trong vay vốn ngân hàng. Về vấn đề này, thì Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng mới chỉ quy định nguyên tắc xác lập quyền sở hữu mà chưa quy định nguyên tắc cho việc chấm dứt quyền này[8]. Chính vì vậy, khi xảy ra tranh chấp thì việc giải quyết gặp khá nhiều khó khăn và để lại những hệ lụy khôn lường ảnh hưởng tới quyền lợi của các thành viên và ngay chính cả lợi ích của công ty.

Hai là, về chuyển nhượng vốn, thừa kế phần vốn góp trong công ty

Sự biến động quyền sở hữu tài sản do chuyển nhượng vốn hay thừa kế phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên làm tăng số lượng thành viên, số lượng thành viên có thể trên 50 thành viên. Mặc dù để xử lý trường hợp này theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty sẽ phải tiến hành chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, do giao dịch chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên không liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty nên về lý thuyết công ty vẫn hoạt động bình thường với trên 50 thành viên trong lúc chờ chuyển đổi và như vậy là không phù hợp quy định của luật do Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký là hành vi bị cấm[9]. Như vậy, việc chuyển nhượng vốn góp hay thừa kế phần vốn góp trong thực tế không chỉ gây biến động về quyền sở hữu tài sản mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của công ty. Bên cạnh đó, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng không gây ra việc thay đổi tổng vốn điều lệ của công ty, khi đó khoản tiền chuyển nhượng được chuyển thẳng cho bên chuyển nhượng và nhà đầu tư nước ngoài gián tiếp sở hữu phần vốn góp mà bên chuyển nhượng đã góp vào công ty. Điều này có nghĩa, không có dòng tiền từ nhà đầu tư nước ngoài chuyển vào công ty và quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc nhà đầu tư phải mở tài khoản vốn tại ngân hàng ở Việt Nam để thực hiện chuyển nhượng vốn rõ ràng không đạt được mục tiêu thông qua dòng tiền đầu tư để theo dõi, có chế tài kịp thời đối với tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài ở trường hợp này.

Bốn là, quy định về điều kiện chuyển nhượng vốn góp

Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc thành viên công ty muốn chuyển nhượng phần vốn góp phải chào bán phần vốn góp đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện[10] nhưng không nêu rõ điều kiện đó như thế nào sẽ làm nảy sinh hiện tượng thành viên công ty cố ý chào bán phần vốn góp của mình với giá nhiều hơn giá trị thực tế của phần vốn góp khiến các thành viên còn lại trong công ty không thể mua được, từ đó chuyển nhượng dễ dàng cho bên thứ ba định trước không phải là thành viên công ty. Hành động này sẽ làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu phần vốn góp của thành viên công ty và tính “đóng” của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong thực tế.

Năm là, về người thành lập doanh nghiệp

“Người thành lập doanh nghiệp” là khái niệm mới được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014[11]. Đây là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp[12], tham gia quá trình thành lập doanh nghiệp và có thể ký “hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp”[13]. Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa đặt ra tiêu chí về mức độ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp vào thời điểm trước khi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp. Do đó, trường hợp người thành lập doanh nghiệp thu lợi từ hợp đồng cho bản thân hoặc người có liên quan của mình, các thành viên công ty sẽ khó xác định trách nhiệm của chủ thể này. Trong khi đó doanh nghiệp khi được thành lập sẽ phải tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng này và thanh toán nợ phát sinh bằng tài sản của công ty. Bên cạnh đó, một số quy định có liên quan về thực thi quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên liên quan đến người thành lập công ty cũng chưa minh bạch. Một số khái niệm “với cùng điều kiện”[14] hoặc “cam kết góp”[15] hay xác định mức độ trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp vào thời điểm trước khi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp cũng chưa được làm rõ.

Sáu là, về nghị quyết của hội đồng thành viên

Nghị quyết của hội đồng thành viên có hiệu lực thi hành kể từ ngày được thông qua hoặc từ ngày có hiệu lực được ghi tại nghị quyết đó[16]. Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến nghị quyết của hội đồng thành viên về chuyển nhượng phần vốn góp hoặc tăng/giảm vốn điều lệ gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu phần vốn góp, thành viên công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua cùng với việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ thi hành một phần nghị quyết, lúc này nghị quyết của hội đồng thành viên tuy bị khởi kiện nhưng vẫn có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Trường hợp thành viên, nhóm thành viên yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài hủy bỏ nghị quyết đã được thông qua thì nghị quyết đó vẫn có hiệu lực thi hành cho đến khi có quyết định của Tòa án hoặc Trọng tài có hiệu lực thi hành” ngay cả khi Tòa án trên cơ sở Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015[17] quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đình chỉ thi hành một phần nghị quyết của Hội đồng thành viên.

Bảy là, sự xung đột pháp luật về đối tượng góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên

Khi tổ chức Việt Nam không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, hợp tác xã, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản), các tổ chức được thành lập ở nước ngoài không có tư cách pháp nhân (một số quỹ đầu tư nước ngoài) góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên[18], các tổ chức này cử đại diện tham gia hội đồng thành viên để quản lý công ty. Dựa trên quan điểm rằng, tổ chức không có tư cách pháp nhân không thể tự mình thành lập và quản lý doanh nghiệp mà phải thực hiện quyền của mình qua các thành viên trong tổ chức đó và nhằm tránh hậu quả pháp lý không rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định tổ chức không có tư cách pháp nhân được quyền góp vốn nhưng không có quyền quản lý công ty[19]. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 với tư cách là luật chung vẫn cho phép tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia xác lập và thực hiện giao dịch dân sự và đặt ra nguyên tắc xác định trách nhiệm của các thành viên tổ chức này khi tham gia góp vốn. Có hai cách hiểu đối với quy định trên: (i) Theo quan điểm linh hoạt, tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn có thể góp vốn và sau đó tham gia quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên vì quy định hạn chế quyền quản lý công ty nằm tại Chương II Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hạn chế về quyền quản lý doanh nghiệp không áp dụng cho trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đã được thành lập, rồi sau đó mới cho tổ chức không có tư cách pháp nhân góp vốn và tham gia hội đồng thành viên; (ii) Quan điểm thận trọng cho rằng, nếu tổ chức không có tư cách pháp nhân và không được quyền quản lý doanh nghiệp ngay từ thời điểm thành lập doanh nghiệp thì cũng sẽ không có quyền quản lý doanh nghiệp sau khi góp vốn, quan điểm này vẫn đang tồn tại[20].

Mặt khác, quá trình cụ thể hóa chính sách trong xây dựng pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản nói chung và quyền sở hữu tài sản của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng đôi khi tạo ra sự chưa hợp lý, bất nhất. Ví dụ, tại khoản 6 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định một trong các quyền của thành viên công ty là được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp (đây chính là một phần tài sản mà thành viên thu được thông qua hoạt động góp vốn vào công ty). Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định “quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”[21]. Như vậy, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản là một phần quyền định đoạt và là căn cứ quan trọng của chấm dứt quyền sở hữu. Trong thực tế, bất cứ chủ thể nào không phân biệt mức độ hành vi dân sự cũng tiêu dùng được tài sản. Do vậy, quy định “việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái quy định của pháp luật” là chưa hợp lý khi đưa “tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”[22] vào khái niệm quyền định đoạt.

Hệ thống pháp luật nước ta vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản chưa cao. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu[23]. Trong đó, pháp luật về quyền sở hữu tài sản và thực thi quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên mặc dù đã có những tác động tích cực trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy huy động vốn, phát triển, mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; từng bước góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, hạn chế ảnh hưởng đến đến quá trình hình thành, phát triển hay rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp, tác động trực tiếp hay gián tiếp đến lợi ích của thành viên và công ty. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng luông mang tính cấp thiết và là bài toán cần có lời giải hữu hiệu hiện nay ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Quý Trọng

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Tư pháp (2015), Đề cương giới thiệu Luật Doanh nghiệp năm 2014, Trang thông tin về phổ biến giáo dục pháp luật, tại địa chỉ http://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tl-pbgdpl/Pages/de-cuong.aspx?ItemId=202 ngày truy cập 03/7/2017.

[2]. Hướng tới sáng tạo, phát triển và dáp ứng nhu cầu của đời sống người dân và xã hội.

[3]. Khoản 1 Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Tổng Cục thống kê (2017), “Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017”, Trang thông tin tình hình kinh tế-xã hội, tại địa chỉ http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18471 ngày truy cập 03/7/2017.

[6]. Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2017), “Tình hình thu hút Đầu tư nước ngoài Quý I năm 2017”, Trang thông tin điện tử đầu tư nước ngoài, tại địa chỉ https://dautunuocngoai.gov.vn/tinbai/5247/Tinh-hinh-thu-hut-Dau-tu-nuoc-ngoai-Quy-I-nam-2017 ngày truy cập 5/7/2017.

[7]. Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[8]. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, TP.HCM, tr.212.

[9]. Khoản 3 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10]. Điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[11]. Điều 15 Luật Doanh nghiệp năm 2005 tuy có đề cập đến “Người thành lập doanh nghiệp” nhưng chưa nêu rõ.

[12]. Khoản 19 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[13]. Khoản 1 Điều 19 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[14]. Điểm a khoản 1 Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[15]. Điều 48 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[16]. Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[17]. Điều 111 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[18]. Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[19]. Điểm đ khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[20]. Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp - Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân Trí, Hà Nội, tr.99-100.

[21]. Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[22]. Xem thêm Điều 193 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[23]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: