Thứ sáu 24/04/2026 21:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tạm trú của cá nhân theo pháp luật Việt Nam

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

1. Dẫn nhập

Quyền tự do cư trú là một trong các quyền cơ bản và quan trọng trong nội dung về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II Hiến pháp năm 2013.

Điều 23 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[1]. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan[2].

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

Việc xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý cũng như trên thực tiễn. Nơi cư trú là địa điểm chủ yếu mà các cá nhân xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự[3]. Nhà nước thực hiện quản lý công dân theo lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã, xã, phường, thị trấn, thôn, bản, làng…). Các quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và ngược lại như quyền bầu cử, thực hiện nghĩa vụ quân sự hay đăng ký khai sinh, khai tử… phát sinh tại nơi cư trú của cá nhân (thường trú hoặc tạm trú). Trong quan hệ xã hội của cá nhân, nơi cư trú là nơi cá nhân thường xuyên thực hiện các hoạt động cá nhân (lao động, học tập, làm việc), xây dựng các mối quan hệ với các cá nhân khác như việc lựa chọn nơi cư trú để giao nhận hàng hóa, thư tín, địa điểm tổ chức hội họp cá nhân[4].

Với tầm quan trọng như trên, Luật Cư trú năm 2020 được Quốc hội ban hành với vai trò là luật chuyên ngành quy định về việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc đăng ký, quản lý cư trú; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú[5].

2. Nơi cư trú của cá nhân, của công dân và thủ tục đăng ký tạm trú

Nơi cứ trú của cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015[6] khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 Luật Cư trú năm 2020[7].

Xét về phạm vi thì cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi con người từ khi sinh ra đều tồn tại và được định vị tại một không gian, địa điểm nhất định trong xã hội. Để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình về quản lý công dân, quản lý cư trú theo lãnh thổ thì công dân cần phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nơi cư trú của mình (đăng ký thường trú hoặc tạm trú). Đây vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân.

3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú và vấn đề vướng mắc khi thực hiện thủ tục hành chính về tạm trú

Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú hiện hành được quy định tại Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020[8].

Một vấn đề vướng mắc đặt ra ở đây là, đối với công dân đang có nơi thường trú ở một tỉnh nhưng họ có nhu cầu đăng ký thường trú tại một tỉnh khác để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác thì tại thời điểm họ thực hiện thủ tục đề nghị đăng ký tạm trú họ có nhất định phải đến cư trú thực tế tại địa điểm là chỗ ở hợp pháp mà họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền đăng ký tạm trú không hay họ chỉ cần chứng minh họ đã có chỗ ở hợp pháp là đủ điều kiện để cơ quan công an có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú. Trên thực tế đã có vụ việc xảy ra như sau[9]:

Gia đình anh M có 04 nhân khẩu gồm, anh M và vợ là chị Đ, 01 người con trai sinh năm 2016 đang học lớp 1 và con gái sinh năm 2019 đang học mẫu giáo. Tất cả đều đăng ký thường trú tại thành phố P, tỉnh G.

Năm 2022, vợ anh M chuyển xuống làm việc và đăng ký tạm trú tại cơ quan làm việc tại Phường H, Quận NHS, thành phố ĐN. Anh M tiếp tục làm việc và chăm sóc 02 con đang đi học tại nơi thường trú.

Đầu năm 2023, anh M dự định chuyển xuống thành phố ĐN sinh sống và làm việc nên gia đình anh M đã liên hệ thuê căn hộ chung cư của chủ sở hữu hợp pháp tại phường H, quận NHS, thành phố ĐN để có chỗ ở hợp pháp đăng ký tạm trú và sau đó anh M thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú cũng như liên hệ chuyển trường cho 02 con xuống học tại địa bàn tạm trú vì phải là người có đăng ký thường trú hoặc tạm trú trường mới tiếp nhận học sinh. Gia đình anh M, chị Đ cũng đã đăng ký chuyển vào nơi ở hợp pháp với Ban quản lý chung cư nơi họ đã thuê căn hộ làm nơi ở hợp pháp.

Sau khi thuê nhà xong, anh M cùng vợ là chị Đ nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an phường H sau đó về lại thành phố P, tỉnh G để tiếp tục làm việc, chăm sóc 02 con đi học. Dự định sau khi đăng ký xong tạm trú và liên hệ chuyển trường cho các con xong thì anh M cùng 02 con sẽ di chuyển xuống cư trú luôn tại địa chỉ đăng ký tạm trú. Hồ sơ đăng ký tạm trú đủ thành phần theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Cư trú năm 2020.

Tuy nhiên, sau đó anh M, chị Đ nhận được Phiếu từ chối tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú của Công an phường H (CT07) với lý do: Nhân khẩu từ ngoài tỉnh đến là hồ sơ không đủ điều kiện do công dân không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú. Anh M cho rằng, việc Công an phường H từ chối đăng ký tạm trú trong trường hợp này là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì không muốn làm phức tạp thêm vấn đề nên sau đó anh M đã phải xin nghỉ phép, nhờ người chăm sóc và đưa đón con đi học để xuống ở thực tế để làm thủ tục đăng ký tạm trú, sau khi có kết quả giải quyết mới về lại nơi thường trú để làm việc và liên hệ làm thủ tục để chuyển trường cho các con.

Xét theo quy định của Điều 27 Luật Cư trú năm 2020 về điều kiện đăng ký tạm trú thì luật chỉ quy định là “công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú”, luật không quy định là “công dân đang cư trú tại chỗ ở hợp pháp” và chỗ ở hợp pháp trong trường hợp này là điều kiện để được đăng ký tạm trú. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 28 về hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú quy định “Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình dự kiến tạm trú”.

Như vậy, theo quy định của Luật Cư trú năm 2020 trong trường hợp này phải được hiểu là khi làm thủ tục đăng ký tạm trú chỉ là nơi người đề nghị “dự kiến tạm trú” chứ không phải nơi đang cư trú như trường hợp thường trú tại Điều 22 Luật Cư trú năm 2020. Vì vậy, trong trường hợp trên đây, việc cơ quan Công an phường H, quận NHS, tỉnh ĐN ra thông báo từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ đăng ký tạm trú với lý do “công dân không không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú”, tác giả cho rằng không đúng quy định của pháp luật về cư trú.

Vấn đề này cần sớm cho những hướng dẫn nghiệp vụ chính thức từ phía cơ quan có chức năng thuộc Bộ Công an để việc áp dụng pháp luật về cư trú nói chung và đăng ký tạm trú nói riêng được thống nhất, bảo đảm quyền lợi của công dân khi thực hiện quyền tạm trú. Việc này cũng góp phần vào việc ổn định, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, tránh những bức xúc từ phía nhân dân, tăng niềm tin của nhân dân vào cơ quan hành chính nhà nước.

Quyền tự do cư trú, trong đó có quyền tạm trú là một trọng những quyền cơ bản của công dân. Luật Cư trú năm 2020 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc công dân thực hiện quyền cư trú (tạm trú) và cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý cư trú, quản lý công dân. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành Luật Cư trú năm 2020 đã phát sinh vướng mắc liên quan đến cách hiểu và áp dụng quy định của luật liên quan đến quyền tự do cư trú (tạm trú) của công dân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính tạm trú dẫn đến những bức xúc trong nhân dân. Vấn đề này cần sớm được hướng dẫn để có cách hiểu thống nhất, đúng bản chất quy định trong Luật Cư trú năm 2020 về nội dung thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký tạm trú và trách nhiệm, quyền hạn trong đăng ký tạm trú của cơ quan có thẩm quyền. Giải quyết vấn đề này góp phần vào hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật./.

Thiều Hữu Minh

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai


[1] Điều 23 Hiến pháp năm 2013.

[2] Khoản 2, 3 Điều 4 Luật Cư trú năm 2020.

[3] TS. Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Quyển 1), Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2021, tr. 117.

[4] TS. Đinh Trung Tụng (chủ biên), tlđd, tr. 117.

[5] Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Luật cư trú năm 2020.

[6] Xem: Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Xem: Khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 của Luật Cư trú năm 2020.

[8] Xem: Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020

[9] Vụ việc xảy thực tế xảy ra, tên các cơ quan và địa danh đã được mã hóa viết tắt.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: