Thứ hai 21/09/2026 02:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tạm trú của cá nhân theo pháp luật Việt Nam

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

1. Dẫn nhập

Quyền tự do cư trú là một trong các quyền cơ bản và quan trọng trong nội dung về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II Hiến pháp năm 2013.

Điều 23 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[1]. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan[2].

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

Việc xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý cũng như trên thực tiễn. Nơi cư trú là địa điểm chủ yếu mà các cá nhân xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự[3]. Nhà nước thực hiện quản lý công dân theo lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã, xã, phường, thị trấn, thôn, bản, làng…). Các quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và ngược lại như quyền bầu cử, thực hiện nghĩa vụ quân sự hay đăng ký khai sinh, khai tử… phát sinh tại nơi cư trú của cá nhân (thường trú hoặc tạm trú). Trong quan hệ xã hội của cá nhân, nơi cư trú là nơi cá nhân thường xuyên thực hiện các hoạt động cá nhân (lao động, học tập, làm việc), xây dựng các mối quan hệ với các cá nhân khác như việc lựa chọn nơi cư trú để giao nhận hàng hóa, thư tín, địa điểm tổ chức hội họp cá nhân[4].

Với tầm quan trọng như trên, Luật Cư trú năm 2020 được Quốc hội ban hành với vai trò là luật chuyên ngành quy định về việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc đăng ký, quản lý cư trú; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú[5].

2. Nơi cư trú của cá nhân, của công dân và thủ tục đăng ký tạm trú

Nơi cứ trú của cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015[6] khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 Luật Cư trú năm 2020[7].

Xét về phạm vi thì cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi con người từ khi sinh ra đều tồn tại và được định vị tại một không gian, địa điểm nhất định trong xã hội. Để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình về quản lý công dân, quản lý cư trú theo lãnh thổ thì công dân cần phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nơi cư trú của mình (đăng ký thường trú hoặc tạm trú). Đây vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân.

3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú và vấn đề vướng mắc khi thực hiện thủ tục hành chính về tạm trú

Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú hiện hành được quy định tại Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020[8].

Một vấn đề vướng mắc đặt ra ở đây là, đối với công dân đang có nơi thường trú ở một tỉnh nhưng họ có nhu cầu đăng ký thường trú tại một tỉnh khác để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác thì tại thời điểm họ thực hiện thủ tục đề nghị đăng ký tạm trú họ có nhất định phải đến cư trú thực tế tại địa điểm là chỗ ở hợp pháp mà họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền đăng ký tạm trú không hay họ chỉ cần chứng minh họ đã có chỗ ở hợp pháp là đủ điều kiện để cơ quan công an có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú. Trên thực tế đã có vụ việc xảy ra như sau[9]:

Gia đình anh M có 04 nhân khẩu gồm, anh M và vợ là chị Đ, 01 người con trai sinh năm 2016 đang học lớp 1 và con gái sinh năm 2019 đang học mẫu giáo. Tất cả đều đăng ký thường trú tại thành phố P, tỉnh G.

Năm 2022, vợ anh M chuyển xuống làm việc và đăng ký tạm trú tại cơ quan làm việc tại Phường H, Quận NHS, thành phố ĐN. Anh M tiếp tục làm việc và chăm sóc 02 con đang đi học tại nơi thường trú.

Đầu năm 2023, anh M dự định chuyển xuống thành phố ĐN sinh sống và làm việc nên gia đình anh M đã liên hệ thuê căn hộ chung cư của chủ sở hữu hợp pháp tại phường H, quận NHS, thành phố ĐN để có chỗ ở hợp pháp đăng ký tạm trú và sau đó anh M thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú cũng như liên hệ chuyển trường cho 02 con xuống học tại địa bàn tạm trú vì phải là người có đăng ký thường trú hoặc tạm trú trường mới tiếp nhận học sinh. Gia đình anh M, chị Đ cũng đã đăng ký chuyển vào nơi ở hợp pháp với Ban quản lý chung cư nơi họ đã thuê căn hộ làm nơi ở hợp pháp.

Sau khi thuê nhà xong, anh M cùng vợ là chị Đ nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an phường H sau đó về lại thành phố P, tỉnh G để tiếp tục làm việc, chăm sóc 02 con đi học. Dự định sau khi đăng ký xong tạm trú và liên hệ chuyển trường cho các con xong thì anh M cùng 02 con sẽ di chuyển xuống cư trú luôn tại địa chỉ đăng ký tạm trú. Hồ sơ đăng ký tạm trú đủ thành phần theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Cư trú năm 2020.

Tuy nhiên, sau đó anh M, chị Đ nhận được Phiếu từ chối tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú của Công an phường H (CT07) với lý do: Nhân khẩu từ ngoài tỉnh đến là hồ sơ không đủ điều kiện do công dân không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú. Anh M cho rằng, việc Công an phường H từ chối đăng ký tạm trú trong trường hợp này là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì không muốn làm phức tạp thêm vấn đề nên sau đó anh M đã phải xin nghỉ phép, nhờ người chăm sóc và đưa đón con đi học để xuống ở thực tế để làm thủ tục đăng ký tạm trú, sau khi có kết quả giải quyết mới về lại nơi thường trú để làm việc và liên hệ làm thủ tục để chuyển trường cho các con.

Xét theo quy định của Điều 27 Luật Cư trú năm 2020 về điều kiện đăng ký tạm trú thì luật chỉ quy định là “công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú”, luật không quy định là “công dân đang cư trú tại chỗ ở hợp pháp” và chỗ ở hợp pháp trong trường hợp này là điều kiện để được đăng ký tạm trú. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 28 về hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú quy định “Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình dự kiến tạm trú”.

Như vậy, theo quy định của Luật Cư trú năm 2020 trong trường hợp này phải được hiểu là khi làm thủ tục đăng ký tạm trú chỉ là nơi người đề nghị “dự kiến tạm trú” chứ không phải nơi đang cư trú như trường hợp thường trú tại Điều 22 Luật Cư trú năm 2020. Vì vậy, trong trường hợp trên đây, việc cơ quan Công an phường H, quận NHS, tỉnh ĐN ra thông báo từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ đăng ký tạm trú với lý do “công dân không không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú”, tác giả cho rằng không đúng quy định của pháp luật về cư trú.

Vấn đề này cần sớm cho những hướng dẫn nghiệp vụ chính thức từ phía cơ quan có chức năng thuộc Bộ Công an để việc áp dụng pháp luật về cư trú nói chung và đăng ký tạm trú nói riêng được thống nhất, bảo đảm quyền lợi của công dân khi thực hiện quyền tạm trú. Việc này cũng góp phần vào việc ổn định, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, tránh những bức xúc từ phía nhân dân, tăng niềm tin của nhân dân vào cơ quan hành chính nhà nước.

Quyền tự do cư trú, trong đó có quyền tạm trú là một trọng những quyền cơ bản của công dân. Luật Cư trú năm 2020 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc công dân thực hiện quyền cư trú (tạm trú) và cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý cư trú, quản lý công dân. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành Luật Cư trú năm 2020 đã phát sinh vướng mắc liên quan đến cách hiểu và áp dụng quy định của luật liên quan đến quyền tự do cư trú (tạm trú) của công dân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính tạm trú dẫn đến những bức xúc trong nhân dân. Vấn đề này cần sớm được hướng dẫn để có cách hiểu thống nhất, đúng bản chất quy định trong Luật Cư trú năm 2020 về nội dung thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký tạm trú và trách nhiệm, quyền hạn trong đăng ký tạm trú của cơ quan có thẩm quyền. Giải quyết vấn đề này góp phần vào hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật./.

Thiều Hữu Minh

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai


[1] Điều 23 Hiến pháp năm 2013.

[2] Khoản 2, 3 Điều 4 Luật Cư trú năm 2020.

[3] TS. Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Quyển 1), Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2021, tr. 117.

[4] TS. Đinh Trung Tụng (chủ biên), tlđd, tr. 117.

[5] Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Luật cư trú năm 2020.

[6] Xem: Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Xem: Khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 của Luật Cư trú năm 2020.

[8] Xem: Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020

[9] Vụ việc xảy thực tế xảy ra, tên các cơ quan và địa danh đã được mã hóa viết tắt.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: