Thứ tư 14/01/2026 11:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tạm trú của cá nhân theo pháp luật Việt Nam

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

1. Dẫn nhập

Quyền tự do cư trú là một trong các quyền cơ bản và quan trọng trong nội dung về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II Hiến pháp năm 2013.

Điều 23 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[1]. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan[2].

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, quyền cư trú của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 (tại Điều 23); Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 40 đến Điều 45) và Luật Cư trú năm 2020.

Việc xác định nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý cũng như trên thực tiễn. Nơi cư trú là địa điểm chủ yếu mà các cá nhân xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự[3]. Nhà nước thực hiện quản lý công dân theo lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã, xã, phường, thị trấn, thôn, bản, làng…). Các quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và ngược lại như quyền bầu cử, thực hiện nghĩa vụ quân sự hay đăng ký khai sinh, khai tử… phát sinh tại nơi cư trú của cá nhân (thường trú hoặc tạm trú). Trong quan hệ xã hội của cá nhân, nơi cư trú là nơi cá nhân thường xuyên thực hiện các hoạt động cá nhân (lao động, học tập, làm việc), xây dựng các mối quan hệ với các cá nhân khác như việc lựa chọn nơi cư trú để giao nhận hàng hóa, thư tín, địa điểm tổ chức hội họp cá nhân[4].

Với tầm quan trọng như trên, Luật Cư trú năm 2020 được Quốc hội ban hành với vai trò là luật chuyên ngành quy định về việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; việc đăng ký, quản lý cư trú; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú[5].

2. Nơi cư trú của cá nhân, của công dân và thủ tục đăng ký tạm trú

Nơi cứ trú của cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015[6] khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 Luật Cư trú năm 2020[7].

Xét về phạm vi thì cá nhân bao gồm cả công dân, người nước ngoài và người không quốc tịch cư trú trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi con người từ khi sinh ra đều tồn tại và được định vị tại một không gian, địa điểm nhất định trong xã hội. Để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình về quản lý công dân, quản lý cư trú theo lãnh thổ thì công dân cần phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nơi cư trú của mình (đăng ký thường trú hoặc tạm trú). Đây vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của công dân.

3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú và vấn đề vướng mắc khi thực hiện thủ tục hành chính về tạm trú

Điều kiện, hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú hiện hành được quy định tại Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020[8].

Một vấn đề vướng mắc đặt ra ở đây là, đối với công dân đang có nơi thường trú ở một tỉnh nhưng họ có nhu cầu đăng ký thường trú tại một tỉnh khác để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác thì tại thời điểm họ thực hiện thủ tục đề nghị đăng ký tạm trú họ có nhất định phải đến cư trú thực tế tại địa điểm là chỗ ở hợp pháp mà họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền đăng ký tạm trú không hay họ chỉ cần chứng minh họ đã có chỗ ở hợp pháp là đủ điều kiện để cơ quan công an có thẩm quyền thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú. Trên thực tế đã có vụ việc xảy ra như sau[9]:

Gia đình anh M có 04 nhân khẩu gồm, anh M và vợ là chị Đ, 01 người con trai sinh năm 2016 đang học lớp 1 và con gái sinh năm 2019 đang học mẫu giáo. Tất cả đều đăng ký thường trú tại thành phố P, tỉnh G.

Năm 2022, vợ anh M chuyển xuống làm việc và đăng ký tạm trú tại cơ quan làm việc tại Phường H, Quận NHS, thành phố ĐN. Anh M tiếp tục làm việc và chăm sóc 02 con đang đi học tại nơi thường trú.

Đầu năm 2023, anh M dự định chuyển xuống thành phố ĐN sinh sống và làm việc nên gia đình anh M đã liên hệ thuê căn hộ chung cư của chủ sở hữu hợp pháp tại phường H, quận NHS, thành phố ĐN để có chỗ ở hợp pháp đăng ký tạm trú và sau đó anh M thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú cũng như liên hệ chuyển trường cho 02 con xuống học tại địa bàn tạm trú vì phải là người có đăng ký thường trú hoặc tạm trú trường mới tiếp nhận học sinh. Gia đình anh M, chị Đ cũng đã đăng ký chuyển vào nơi ở hợp pháp với Ban quản lý chung cư nơi họ đã thuê căn hộ làm nơi ở hợp pháp.

Sau khi thuê nhà xong, anh M cùng vợ là chị Đ nộp hồ sơ đăng ký tạm trú tại Công an phường H sau đó về lại thành phố P, tỉnh G để tiếp tục làm việc, chăm sóc 02 con đi học. Dự định sau khi đăng ký xong tạm trú và liên hệ chuyển trường cho các con xong thì anh M cùng 02 con sẽ di chuyển xuống cư trú luôn tại địa chỉ đăng ký tạm trú. Hồ sơ đăng ký tạm trú đủ thành phần theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Cư trú năm 2020.

Tuy nhiên, sau đó anh M, chị Đ nhận được Phiếu từ chối tiếp nhận hồ sơ đăng ký tạm trú của Công an phường H (CT07) với lý do: Nhân khẩu từ ngoài tỉnh đến là hồ sơ không đủ điều kiện do công dân không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú. Anh M cho rằng, việc Công an phường H từ chối đăng ký tạm trú trong trường hợp này là không đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vì không muốn làm phức tạp thêm vấn đề nên sau đó anh M đã phải xin nghỉ phép, nhờ người chăm sóc và đưa đón con đi học để xuống ở thực tế để làm thủ tục đăng ký tạm trú, sau khi có kết quả giải quyết mới về lại nơi thường trú để làm việc và liên hệ làm thủ tục để chuyển trường cho các con.

Xét theo quy định của Điều 27 Luật Cư trú năm 2020 về điều kiện đăng ký tạm trú thì luật chỉ quy định là “công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú”, luật không quy định là “công dân đang cư trú tại chỗ ở hợp pháp” và chỗ ở hợp pháp trong trường hợp này là điều kiện để được đăng ký tạm trú. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 28 về hồ sơ, thủ tục đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú quy định “Người đăng ký tạm trú nộp hồ sơ đăng ký tạm trú đến cơ quan đăng ký cư trú nơi mình dự kiến tạm trú”.

Như vậy, theo quy định của Luật Cư trú năm 2020 trong trường hợp này phải được hiểu là khi làm thủ tục đăng ký tạm trú chỉ là nơi người đề nghị “dự kiến tạm trú” chứ không phải nơi đang cư trú như trường hợp thường trú tại Điều 22 Luật Cư trú năm 2020. Vì vậy, trong trường hợp trên đây, việc cơ quan Công an phường H, quận NHS, tỉnh ĐN ra thông báo từ chối tiếp nhận giải quyết hồ sơ đăng ký tạm trú với lý do “công dân không không cư trú thực tế tại nơi đề nghị đăng ký tạm trú”, tác giả cho rằng không đúng quy định của pháp luật về cư trú.

Vấn đề này cần sớm cho những hướng dẫn nghiệp vụ chính thức từ phía cơ quan có chức năng thuộc Bộ Công an để việc áp dụng pháp luật về cư trú nói chung và đăng ký tạm trú nói riêng được thống nhất, bảo đảm quyền lợi của công dân khi thực hiện quyền tạm trú. Việc này cũng góp phần vào việc ổn định, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, tránh những bức xúc từ phía nhân dân, tăng niềm tin của nhân dân vào cơ quan hành chính nhà nước.

Quyền tự do cư trú, trong đó có quyền tạm trú là một trọng những quyền cơ bản của công dân. Luật Cư trú năm 2020 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc công dân thực hiện quyền cư trú (tạm trú) và cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý cư trú, quản lý công dân. Tuy nhiên, từ thực tiễn thi hành Luật Cư trú năm 2020 đã phát sinh vướng mắc liên quan đến cách hiểu và áp dụng quy định của luật liên quan đến quyền tự do cư trú (tạm trú) của công dân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính tạm trú dẫn đến những bức xúc trong nhân dân. Vấn đề này cần sớm được hướng dẫn để có cách hiểu thống nhất, đúng bản chất quy định trong Luật Cư trú năm 2020 về nội dung thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký tạm trú và trách nhiệm, quyền hạn trong đăng ký tạm trú của cơ quan có thẩm quyền. Giải quyết vấn đề này góp phần vào hiệu quả hoạt động thi hành pháp luật./.

Thiều Hữu Minh

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai


[1] Điều 23 Hiến pháp năm 2013.

[2] Khoản 2, 3 Điều 4 Luật Cư trú năm 2020.

[3] TS. Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 (Quyển 1), Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2021, tr. 117.

[4] TS. Đinh Trung Tụng (chủ biên), tlđd, tr. 117.

[5] Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Luật cư trú năm 2020.

[6] Xem: Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Xem: Khoản 2, 8, 9, 10 Điều 2 của Luật Cư trú năm 2020.

[8] Xem: Điều 27, Điều 28 Luật Cư trú năm 2020

[9] Vụ việc xảy thực tế xảy ra, tên các cơ quan và địa danh đã được mã hóa viết tắt.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: