Thứ tư 20/05/2026 08:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, nhiều quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đã được ban hành, nhưng các quy định đó còn bất cập, chồng chéo nhau. Bài viết này đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của doanh nghiệp đối với hoạt động thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại của cơ quan nhà nước.

1. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại


Ở Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận quyền được tiếp cận thông tin nói chung và quyền được tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói riêng. Cụ thể, Điều 69 Hiến pháp năm 1992 đã nghi nhận: “Công dân có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật”. Tiếp đến, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do… tiếp cận thông tin”. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra (Điều 2) và công dân được quyền tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp đó là thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước… (Điều 6). Với cách quy định loại trừ này, có thể hiểu là tất cả những thông tin do Nhà nước tạo ra thì công dân đều có đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin để biết, để hiểu trừ những thông tin bị cấm hoặc tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tiếp cận thông tin, nhưng những quy định tại Luật này mang tính nguyên tắc chung. Trên cơ sở đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những quy định cụ thể để cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận thông tin trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Liên quan đến quyền tiếp cận thông tin trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, Điều 74 và Điều 75 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định bên liên quan trong vụ việc điều tra được tiếp cận thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho cơ quan điều tra, trừ thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc phải bảo mật thông tin, tài liệu theo yêu cầu của bên cung cấp thông tin, tài liệu. Theo Điều 9 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các biện pháp phòng vệ thương mại, thì các bên được tiếp cận các thông tin mà các bên liên quan khác cung cấp cho cơ quan điều tra và tiếp cận các thông tin về vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định tại Điều 11 Nghị định này. Đặc biệt, Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại cũng đã tiếp tục cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Theo đó tại Điều 7 quy định về các thông tin được công khai trong trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại gồm: Tài liệu do bên liên quan cung cấp cho cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; các thông báo của cơ quan điều tra và Bộ Công Thương; tài liệu về các nội dung điều tra phòng vệ thương mại làm cơ sở để dẫn đến kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra; các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra.

Từ những quy định trên có thể thấy, quyền được tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được pháp luật ghi nhận. Có thể hiểu, doanh nghiệp với tư cách là bên yêu cầu điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại có quyền tiếp cận bằng cách đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp 02 nhóm thông tin cơ bản là các thông tin mà bên bị điều tra cung cấp cho cơ quan điều tra và thông tin mà cơ quan điều tra tạo ra được trong quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Mặc dù việc ra đời của các quy định nêu trên góp phần làm cho quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp ngày càng đầy đủ và chi tiết. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chúng ta có thể thấy, các quy định này khó thực thi trên thực tế, đặc biệt việc tiếp cận nhóm thông tin do cơ quan điều tra tạo ra trong quá trình điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại. Bởi lẽ:

Thứ nhất, pháp luật không quy định trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin từ cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại

Luật quy định những thông tin cần được công bố công khai, doanh nghiệp được tiếp cận để sao, chép nhưng lại chưa quy định cụ thể doanh nghiệp phải tiến hành những bước nào để sao chụp, ghi chép các thông tin mình cần nắm bắt nhằm phục vụ cho quá trình yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Qua rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề công bố thông tin quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, thì chưa có văn bản nào quy định về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận thông tin cần thiết, kể cả Thông tư số 06/2018/TT-BCT - văn bản được xem là quy định chi tiết về quyền tiếp cận thông liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Cách quy định này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tiếp cận để nắm bắt các thông tin từ cơ quan điều tra.

Thứ hai, không quy định cụ thể thời gian nào thì công bố thông tin cho doanh nghiệp biết hoặc doanh nghiệp được tiếp cận thông tin vào thời điểm nào

Mục đích của việc tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời có những phương án để đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến từ doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy việc tiếp cận thông tin kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong việc đối phó và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp trong từng tình huống cụ thể xảy ra. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thời hạn cũng thời điểm được tiếp cận thông tin từ cơ quan điều tra. Do đó, doanh nghiệp không biết nên tiếp cận thông tin vào thời gian nào là phù hợp, kết thúc quá trình điều tra, hay trong thời điểm điều tra hay vào bất cứ thời điểm nào mà doanh nghiệp thấy cần thiết.

Thứ ba, doanh nghiệp không biết những thông tin nào được phép công khai và những thông tin nào do cơ quan điều tra xem xét công khai

Theo khoản 8 Điều 7 Thông tư 06/2018/TT-BCT, bên cạnh những thông tin buộc cơ quan điều tra phải công khai cho doanh nghiệp biết liên quan đến kết quả điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại thì điều luật tiếp tục cho phép cơ quan điều tra có quyền xem xét công khai hoặc không các thông tin khác. Đây được xem là quy định mang tính dự phòng cho những quan hệ phát sinh tiếp theo, tuy vậy cách quy định này là không phù hợp, chồng chéo với văn bản luật khác. Bởi vì, Luật Quản lý ngoại thương năm 2016 cũng như Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã nghi nhận cụ thể những thông tin được phép công khai, tiếp cận, và những thông tin nào phải giữ bí mật hoặc hạn chế công khai, nhưng đến Thông tư 06/2018/TT-BCT hướng dẫn chi tiết thì nhà làm luật lại bổ sung quyền cho cơ quan điều tra được xem xét những thông tin nào cần được công khai tại khoản 8 Điều 7, cụ thể điều luật này quy định: “... Các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra”. Quy định này đã làm thay đổi bản chất của quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, dẫn đến hệ quả: (i) Về phía doanh nghiệp - với tư cách là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin lại rơi vào vị thế là chủ thể phải “đi chờ” ở cơ quan điều tra quyết định thông tin nào được, thông tin nào không được tiếp cận; (ii) Về phía cơ quan điều tra, chuyển từ chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin thành chủ thể có quyền được lựa chọn những thông tin để công khai cho doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp khó xác định thông tin nào được công khai và thông tin nào không, dẫn đến một thực tế là cơ quan điều tra công khai thông tin gì thì biết thông tin đó, nếu không thì cứ hiểu đó là thông tin không được công khai và doanh nghiệp cũng không có cách nào khác.

Thứ tư, pháp luật chưa quy định thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được công khai ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai

Một vấn đề mà doanh nghiệp hết sức quan tâm là các thông tin mà cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải công khai, được công khai ở đâu, công khai như thế nào, cơ quan nào có trách nhiệm phải công khai thông tin. Qua khảo tìm hiểu các quy định liên quan đến việc công khai thông tin trong vụ kiện phòng vệ thương mại có thể thấy, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin, theo đó việc công khai thông tin được thực hiện qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, liên quan đến địa chỉ công khai thông tin ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai thì pháp luật chưa quy định, dẫn đến việc doanh nghiệp muốn tiếp cận thông tin cũng không biết phải tìm đến địa chỉ nào và ở đâu.

2. Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Trong kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại đôi khi không xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng mà thay vào đó là sự tác động của vị thế kinh tế, mối quan hệ chính trị của các quốc gia liên quan đến vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Điều này được PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa[1] nhấn mạnh, để kiểm soát hiệu quả hành vi độc quyền cần tới nhiều thiết chế đa dạng… Cơ quan cạnh tranh Việt Nam sẽ gặp những thách thức từ tác động của độc quyền hành chính. Hoặc TS. Nguyễn Quý Trọng[2] khi đánh giá về thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đã khẳng định: “… Phải chăng hoạt động của cơ quan điều tra trong quá trình thực thi có chịu sức ép hay không? Hay trong trường hợp này, chúng ta phải chịu sức ép về chính trị nhiều hơn sức ép về kinh tế”. Do đó, dẫn đến thực trạng là khi có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp nước ngoài thì cơ quan điều tra sẽ đặt lên “bàn cân” giữa lợi ích của doanh nghiệp với mệnh lệnh hành chính và mối quan hệ quốc gia. Trong bối cảnh đó, không ai dám khẳng định rằng, cơ quan điều tra sẽ phải thực thi pháp luật vì lợi ích của doanh nghiệp, bởi lẽ lúc này quyền tự quyết không thuộc về doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, TS. Đoàn Trung Kiên[3] khi phân tích thực trạng các quy định về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam đã lo ngại rằng, quyền hạn của cơ quan điều tra là rất lớn, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực.

Trước thực tế đó, với vị thế yếu hơn và là chủ thể không mang quyền lực nhà nước, để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì cần thiết phải có một cơ chế giúp doanh nghiệp giám sát độc lập, trực tiếp đối với hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trong cả quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Một trong những công cụ để giám sát hiệu quả chính là trao cho doanh nghiệp quyền được tiếp cận các thông tin về vụ việc phòng vệ thương mại từ cơ quan điều tra bằng các quy phạm pháp luật. Tuy vậy, như đã phân tích ở trên, những quy định này còn rất nhiều những bất cập cần phải hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, cần quy định trình tự, thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Trình tự, thủ tục là con đường hướng dẫn doanh nghiệp tìm đến các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Tuy vậy, pháp luật hiện hành quy định các thông tin doanh nghiệp được hoặc không được tiếp cận, nhưng lại không chỉ rõ các bước, cũng như thủ tục thế nào để tiếp cận các thông tin này. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi có thể cho doanh nghiệp để tiếp cận thông tin, Thông tư số 06/2018/TT-CP cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Quy định cần làm rõ những vấn đề: Để tiếp cận các thông tin công khai hoặc tiếp cận các thông tin theo yêu cầu thì doanh nghiệp cần phải có những giấy tờ gì, gửi hồ sơ tới địa chỉ nào, thời gian trả lời yêu cầu là bao lâu, khiếu nại ở đâu nếu không đồng ý. Hoặc là tiếp cận trên phương tiện điện tử thì cần làm rõ: Địa chỉ nào công bố thông tin, thời gian công bố thông tin là khi nào, cơ quan nào phải có nghĩa vụ giải đáp thắc mắc?

Thứ hai, cần quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Thời hạn công khai các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hết sức quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng của việc tiếp cận thông tin là để doanh nghiệp kịp thời xây dựng các phương án kinh doanh phù hợp đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các thông tin từ cơ quan điều tra để biết được mình phải làm gì, làm như thế nào khi doanh nghiệp nước ngoài bị hoặc không bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì thế, pháp luật không chỉ quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin mà phải công bố một cách kịp thời, thường xuyên thông qua các phương tiện điện tử cũng như các cổng thông tin của cơ quan điều tra về hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì lẽ đó, Thông tư số 06/2018/TT-BCT cần bổ sung quy định về thời hạn cơ quan nhà nước liên quan phải công bố về vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và thời hạn này phải bắt đầu từ thời điểm cơ quan điều tra nhận được đơn yêu cầu cho đến hết thời gian áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ ba, cần quy định thống nhất những thông tin nào doanh nghiệp không được phép tiếp cận hoặc tiếp cận hạn chế

Để đảm bảo tính thống nhất từ Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đến Thông tư số 06/2018/TT-CP trong việc quy định các loại thông tin nào được công khai, những thông tin nào cần bảo mật thì cần bỏ quy định tại khoản 8 Điều 7 Thông tư số 06/2018/TT-CP.

Thứ tư, cần quy định cụ thể địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ phải công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Như đã phân tích trên đây, tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã có quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin là qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Nghị định này chưa quy định cụ thể thông tin được công khai tại trụ sở hay trên website của cơ quan điều tra, đồng thời cơ quan nào có nghĩa vụ phải công bố thông tin. Vì vậy, cần quy định bổ sung địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ công bố thông tin. Đồng thời, cần quy định nghĩa vụ công bố thông tin thuộc về cơ quan điều tra; địa chỉ để công bố thông tin tại trụ sở và trên website của cơ quan điều tra, đồng thời thông tin này phải được cập nhật trên các bản tin phòng vệ thương mại của Bộ Công thương.

ThS. Mai Xuân Hợi

Đại học Luật, Đại học Huế


[1] PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, 2004.

[2] TS. Nguyễn Quý Trọng, Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng nước ngoài vào Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013.

[3] TS. Đoàn Trung Kiên, “Pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: