Thứ tư 18/03/2026 16:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, nhiều quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đã được ban hành, nhưng các quy định đó còn bất cập, chồng chéo nhau. Bài viết này đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của doanh nghiệp đối với hoạt động thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại của cơ quan nhà nước.

1. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại


Ở Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận quyền được tiếp cận thông tin nói chung và quyền được tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói riêng. Cụ thể, Điều 69 Hiến pháp năm 1992 đã nghi nhận: “Công dân có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật”. Tiếp đến, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do… tiếp cận thông tin”. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra (Điều 2) và công dân được quyền tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp đó là thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước… (Điều 6). Với cách quy định loại trừ này, có thể hiểu là tất cả những thông tin do Nhà nước tạo ra thì công dân đều có đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin để biết, để hiểu trừ những thông tin bị cấm hoặc tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tiếp cận thông tin, nhưng những quy định tại Luật này mang tính nguyên tắc chung. Trên cơ sở đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những quy định cụ thể để cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận thông tin trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Liên quan đến quyền tiếp cận thông tin trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, Điều 74 và Điều 75 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định bên liên quan trong vụ việc điều tra được tiếp cận thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho cơ quan điều tra, trừ thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc phải bảo mật thông tin, tài liệu theo yêu cầu của bên cung cấp thông tin, tài liệu. Theo Điều 9 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các biện pháp phòng vệ thương mại, thì các bên được tiếp cận các thông tin mà các bên liên quan khác cung cấp cho cơ quan điều tra và tiếp cận các thông tin về vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định tại Điều 11 Nghị định này. Đặc biệt, Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại cũng đã tiếp tục cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Theo đó tại Điều 7 quy định về các thông tin được công khai trong trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại gồm: Tài liệu do bên liên quan cung cấp cho cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; các thông báo của cơ quan điều tra và Bộ Công Thương; tài liệu về các nội dung điều tra phòng vệ thương mại làm cơ sở để dẫn đến kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra; các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra.

Từ những quy định trên có thể thấy, quyền được tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được pháp luật ghi nhận. Có thể hiểu, doanh nghiệp với tư cách là bên yêu cầu điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại có quyền tiếp cận bằng cách đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp 02 nhóm thông tin cơ bản là các thông tin mà bên bị điều tra cung cấp cho cơ quan điều tra và thông tin mà cơ quan điều tra tạo ra được trong quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Mặc dù việc ra đời của các quy định nêu trên góp phần làm cho quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp ngày càng đầy đủ và chi tiết. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chúng ta có thể thấy, các quy định này khó thực thi trên thực tế, đặc biệt việc tiếp cận nhóm thông tin do cơ quan điều tra tạo ra trong quá trình điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại. Bởi lẽ:

Thứ nhất, pháp luật không quy định trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin từ cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại

Luật quy định những thông tin cần được công bố công khai, doanh nghiệp được tiếp cận để sao, chép nhưng lại chưa quy định cụ thể doanh nghiệp phải tiến hành những bước nào để sao chụp, ghi chép các thông tin mình cần nắm bắt nhằm phục vụ cho quá trình yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Qua rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề công bố thông tin quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, thì chưa có văn bản nào quy định về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận thông tin cần thiết, kể cả Thông tư số 06/2018/TT-BCT - văn bản được xem là quy định chi tiết về quyền tiếp cận thông liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Cách quy định này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tiếp cận để nắm bắt các thông tin từ cơ quan điều tra.

Thứ hai, không quy định cụ thể thời gian nào thì công bố thông tin cho doanh nghiệp biết hoặc doanh nghiệp được tiếp cận thông tin vào thời điểm nào

Mục đích của việc tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời có những phương án để đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến từ doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy việc tiếp cận thông tin kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong việc đối phó và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp trong từng tình huống cụ thể xảy ra. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thời hạn cũng thời điểm được tiếp cận thông tin từ cơ quan điều tra. Do đó, doanh nghiệp không biết nên tiếp cận thông tin vào thời gian nào là phù hợp, kết thúc quá trình điều tra, hay trong thời điểm điều tra hay vào bất cứ thời điểm nào mà doanh nghiệp thấy cần thiết.

Thứ ba, doanh nghiệp không biết những thông tin nào được phép công khai và những thông tin nào do cơ quan điều tra xem xét công khai

Theo khoản 8 Điều 7 Thông tư 06/2018/TT-BCT, bên cạnh những thông tin buộc cơ quan điều tra phải công khai cho doanh nghiệp biết liên quan đến kết quả điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại thì điều luật tiếp tục cho phép cơ quan điều tra có quyền xem xét công khai hoặc không các thông tin khác. Đây được xem là quy định mang tính dự phòng cho những quan hệ phát sinh tiếp theo, tuy vậy cách quy định này là không phù hợp, chồng chéo với văn bản luật khác. Bởi vì, Luật Quản lý ngoại thương năm 2016 cũng như Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã nghi nhận cụ thể những thông tin được phép công khai, tiếp cận, và những thông tin nào phải giữ bí mật hoặc hạn chế công khai, nhưng đến Thông tư 06/2018/TT-BCT hướng dẫn chi tiết thì nhà làm luật lại bổ sung quyền cho cơ quan điều tra được xem xét những thông tin nào cần được công khai tại khoản 8 Điều 7, cụ thể điều luật này quy định: “... Các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra”. Quy định này đã làm thay đổi bản chất của quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, dẫn đến hệ quả: (i) Về phía doanh nghiệp - với tư cách là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin lại rơi vào vị thế là chủ thể phải “đi chờ” ở cơ quan điều tra quyết định thông tin nào được, thông tin nào không được tiếp cận; (ii) Về phía cơ quan điều tra, chuyển từ chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin thành chủ thể có quyền được lựa chọn những thông tin để công khai cho doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp khó xác định thông tin nào được công khai và thông tin nào không, dẫn đến một thực tế là cơ quan điều tra công khai thông tin gì thì biết thông tin đó, nếu không thì cứ hiểu đó là thông tin không được công khai và doanh nghiệp cũng không có cách nào khác.

Thứ tư, pháp luật chưa quy định thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được công khai ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai

Một vấn đề mà doanh nghiệp hết sức quan tâm là các thông tin mà cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải công khai, được công khai ở đâu, công khai như thế nào, cơ quan nào có trách nhiệm phải công khai thông tin. Qua khảo tìm hiểu các quy định liên quan đến việc công khai thông tin trong vụ kiện phòng vệ thương mại có thể thấy, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin, theo đó việc công khai thông tin được thực hiện qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, liên quan đến địa chỉ công khai thông tin ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai thì pháp luật chưa quy định, dẫn đến việc doanh nghiệp muốn tiếp cận thông tin cũng không biết phải tìm đến địa chỉ nào và ở đâu.

2. Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Trong kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại đôi khi không xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng mà thay vào đó là sự tác động của vị thế kinh tế, mối quan hệ chính trị của các quốc gia liên quan đến vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Điều này được PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa[1] nhấn mạnh, để kiểm soát hiệu quả hành vi độc quyền cần tới nhiều thiết chế đa dạng… Cơ quan cạnh tranh Việt Nam sẽ gặp những thách thức từ tác động của độc quyền hành chính. Hoặc TS. Nguyễn Quý Trọng[2] khi đánh giá về thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đã khẳng định: “… Phải chăng hoạt động của cơ quan điều tra trong quá trình thực thi có chịu sức ép hay không? Hay trong trường hợp này, chúng ta phải chịu sức ép về chính trị nhiều hơn sức ép về kinh tế”. Do đó, dẫn đến thực trạng là khi có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp nước ngoài thì cơ quan điều tra sẽ đặt lên “bàn cân” giữa lợi ích của doanh nghiệp với mệnh lệnh hành chính và mối quan hệ quốc gia. Trong bối cảnh đó, không ai dám khẳng định rằng, cơ quan điều tra sẽ phải thực thi pháp luật vì lợi ích của doanh nghiệp, bởi lẽ lúc này quyền tự quyết không thuộc về doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, TS. Đoàn Trung Kiên[3] khi phân tích thực trạng các quy định về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam đã lo ngại rằng, quyền hạn của cơ quan điều tra là rất lớn, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực.

Trước thực tế đó, với vị thế yếu hơn và là chủ thể không mang quyền lực nhà nước, để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì cần thiết phải có một cơ chế giúp doanh nghiệp giám sát độc lập, trực tiếp đối với hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trong cả quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Một trong những công cụ để giám sát hiệu quả chính là trao cho doanh nghiệp quyền được tiếp cận các thông tin về vụ việc phòng vệ thương mại từ cơ quan điều tra bằng các quy phạm pháp luật. Tuy vậy, như đã phân tích ở trên, những quy định này còn rất nhiều những bất cập cần phải hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, cần quy định trình tự, thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Trình tự, thủ tục là con đường hướng dẫn doanh nghiệp tìm đến các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Tuy vậy, pháp luật hiện hành quy định các thông tin doanh nghiệp được hoặc không được tiếp cận, nhưng lại không chỉ rõ các bước, cũng như thủ tục thế nào để tiếp cận các thông tin này. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi có thể cho doanh nghiệp để tiếp cận thông tin, Thông tư số 06/2018/TT-CP cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Quy định cần làm rõ những vấn đề: Để tiếp cận các thông tin công khai hoặc tiếp cận các thông tin theo yêu cầu thì doanh nghiệp cần phải có những giấy tờ gì, gửi hồ sơ tới địa chỉ nào, thời gian trả lời yêu cầu là bao lâu, khiếu nại ở đâu nếu không đồng ý. Hoặc là tiếp cận trên phương tiện điện tử thì cần làm rõ: Địa chỉ nào công bố thông tin, thời gian công bố thông tin là khi nào, cơ quan nào phải có nghĩa vụ giải đáp thắc mắc?

Thứ hai, cần quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Thời hạn công khai các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hết sức quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng của việc tiếp cận thông tin là để doanh nghiệp kịp thời xây dựng các phương án kinh doanh phù hợp đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các thông tin từ cơ quan điều tra để biết được mình phải làm gì, làm như thế nào khi doanh nghiệp nước ngoài bị hoặc không bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì thế, pháp luật không chỉ quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin mà phải công bố một cách kịp thời, thường xuyên thông qua các phương tiện điện tử cũng như các cổng thông tin của cơ quan điều tra về hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì lẽ đó, Thông tư số 06/2018/TT-BCT cần bổ sung quy định về thời hạn cơ quan nhà nước liên quan phải công bố về vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và thời hạn này phải bắt đầu từ thời điểm cơ quan điều tra nhận được đơn yêu cầu cho đến hết thời gian áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ ba, cần quy định thống nhất những thông tin nào doanh nghiệp không được phép tiếp cận hoặc tiếp cận hạn chế

Để đảm bảo tính thống nhất từ Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đến Thông tư số 06/2018/TT-CP trong việc quy định các loại thông tin nào được công khai, những thông tin nào cần bảo mật thì cần bỏ quy định tại khoản 8 Điều 7 Thông tư số 06/2018/TT-CP.

Thứ tư, cần quy định cụ thể địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ phải công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Như đã phân tích trên đây, tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã có quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin là qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Nghị định này chưa quy định cụ thể thông tin được công khai tại trụ sở hay trên website của cơ quan điều tra, đồng thời cơ quan nào có nghĩa vụ phải công bố thông tin. Vì vậy, cần quy định bổ sung địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ công bố thông tin. Đồng thời, cần quy định nghĩa vụ công bố thông tin thuộc về cơ quan điều tra; địa chỉ để công bố thông tin tại trụ sở và trên website của cơ quan điều tra, đồng thời thông tin này phải được cập nhật trên các bản tin phòng vệ thương mại của Bộ Công thương.

ThS. Mai Xuân Hợi

Đại học Luật, Đại học Huế


[1] PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, 2004.

[2] TS. Nguyễn Quý Trọng, Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng nước ngoài vào Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013.

[3] TS. Đoàn Trung Kiên, “Pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: