Thứ hai 21/09/2026 06:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại của doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam

Để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, nhiều quy phạm pháp luật về lĩnh vực này đã được ban hành, nhưng các quy định đó còn bất cập, chồng chéo nhau. Bài viết này đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của doanh nghiệp đối với hoạt động thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại của cơ quan nhà nước.

1. Quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại


Ở Việt Nam, Hiến pháp và pháp luật ghi nhận quyền được tiếp cận thông tin nói chung và quyền được tiếp cận thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nói riêng. Cụ thể, Điều 69 Hiến pháp năm 1992 đã nghi nhận: “Công dân có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật”. Tiếp đến, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do… tiếp cận thông tin”. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra (Điều 2) và công dân được quyền tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp đó là thông tin thuộc bí mật nhà nước, thông tin mà nếu để tiếp cận sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước… (Điều 6). Với cách quy định loại trừ này, có thể hiểu là tất cả những thông tin do Nhà nước tạo ra thì công dân đều có đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin để biết, để hiểu trừ những thông tin bị cấm hoặc tiếp cận có điều kiện theo quy định của pháp luật.

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành để thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tiếp cận thông tin, nhưng những quy định tại Luật này mang tính nguyên tắc chung. Trên cơ sở đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành những quy định cụ thể để cá nhân, tổ chức có thể tiếp cận thông tin trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau. Liên quan đến quyền tiếp cận thông tin trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, Điều 74 và Điều 75 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định bên liên quan trong vụ việc điều tra được tiếp cận thông tin, tài liệu mà bên liên quan khác đã cung cấp cho cơ quan điều tra, trừ thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc phải bảo mật thông tin, tài liệu theo yêu cầu của bên cung cấp thông tin, tài liệu. Theo Điều 9 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 15/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và các biện pháp phòng vệ thương mại, thì các bên được tiếp cận các thông tin mà các bên liên quan khác cung cấp cho cơ quan điều tra và tiếp cận các thông tin về vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định tại Điều 11 Nghị định này. Đặc biệt, Thông tư số 06/2018/TT-BCT ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại cũng đã tiếp tục cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Theo đó tại Điều 7 quy định về các thông tin được công khai trong trong vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại gồm: Tài liệu do bên liên quan cung cấp cho cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; các thông báo của cơ quan điều tra và Bộ Công Thương; tài liệu về các nội dung điều tra phòng vệ thương mại làm cơ sở để dẫn đến kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra; các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra.

Từ những quy định trên có thể thấy, quyền được tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đã được pháp luật ghi nhận. Có thể hiểu, doanh nghiệp với tư cách là bên yêu cầu điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại có quyền tiếp cận bằng cách đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp 02 nhóm thông tin cơ bản là các thông tin mà bên bị điều tra cung cấp cho cơ quan điều tra và thông tin mà cơ quan điều tra tạo ra được trong quá trình điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Mặc dù việc ra đời của các quy định nêu trên góp phần làm cho quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp ngày càng đầy đủ và chi tiết. Tuy nhiên, khi nghiên cứu chúng ta có thể thấy, các quy định này khó thực thi trên thực tế, đặc biệt việc tiếp cận nhóm thông tin do cơ quan điều tra tạo ra trong quá trình điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại. Bởi lẽ:

Thứ nhất, pháp luật không quy định trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin từ cơ quan điều tra vụ việc phòng vệ thương mại

Luật quy định những thông tin cần được công bố công khai, doanh nghiệp được tiếp cận để sao, chép nhưng lại chưa quy định cụ thể doanh nghiệp phải tiến hành những bước nào để sao chụp, ghi chép các thông tin mình cần nắm bắt nhằm phục vụ cho quá trình yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Qua rà soát các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề công bố thông tin quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, thì chưa có văn bản nào quy định về trình tự, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận thông tin cần thiết, kể cả Thông tư số 06/2018/TT-BCT - văn bản được xem là quy định chi tiết về quyền tiếp cận thông liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Cách quy định này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn tiếp cận để nắm bắt các thông tin từ cơ quan điều tra.

Thứ hai, không quy định cụ thể thời gian nào thì công bố thông tin cho doanh nghiệp biết hoặc doanh nghiệp được tiếp cận thông tin vào thời điểm nào

Mục đích của việc tiếp cận thông tin điều tra, áp dụng vụ việc phòng vệ thương mại nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời có những phương án để đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đến từ doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy việc tiếp cận thông tin kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong việc đối phó và xây dựng phương án kinh doanh phù hợp trong từng tình huống cụ thể xảy ra. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thời hạn cũng thời điểm được tiếp cận thông tin từ cơ quan điều tra. Do đó, doanh nghiệp không biết nên tiếp cận thông tin vào thời gian nào là phù hợp, kết thúc quá trình điều tra, hay trong thời điểm điều tra hay vào bất cứ thời điểm nào mà doanh nghiệp thấy cần thiết.

Thứ ba, doanh nghiệp không biết những thông tin nào được phép công khai và những thông tin nào do cơ quan điều tra xem xét công khai

Theo khoản 8 Điều 7 Thông tư 06/2018/TT-BCT, bên cạnh những thông tin buộc cơ quan điều tra phải công khai cho doanh nghiệp biết liên quan đến kết quả điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại thì điều luật tiếp tục cho phép cơ quan điều tra có quyền xem xét công khai hoặc không các thông tin khác. Đây được xem là quy định mang tính dự phòng cho những quan hệ phát sinh tiếp theo, tuy vậy cách quy định này là không phù hợp, chồng chéo với văn bản luật khác. Bởi vì, Luật Quản lý ngoại thương năm 2016 cũng như Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã nghi nhận cụ thể những thông tin được phép công khai, tiếp cận, và những thông tin nào phải giữ bí mật hoặc hạn chế công khai, nhưng đến Thông tư 06/2018/TT-BCT hướng dẫn chi tiết thì nhà làm luật lại bổ sung quyền cho cơ quan điều tra được xem xét những thông tin nào cần được công khai tại khoản 8 Điều 7, cụ thể điều luật này quy định: “... Các thông tin khác do cơ quan điều tra xem xét công khai trong quá trình điều tra”. Quy định này đã làm thay đổi bản chất của quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, dẫn đến hệ quả: (i) Về phía doanh nghiệp - với tư cách là chủ thể có quyền tiếp cận thông tin lại rơi vào vị thế là chủ thể phải “đi chờ” ở cơ quan điều tra quyết định thông tin nào được, thông tin nào không được tiếp cận; (ii) Về phía cơ quan điều tra, chuyển từ chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin thành chủ thể có quyền được lựa chọn những thông tin để công khai cho doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp khó xác định thông tin nào được công khai và thông tin nào không, dẫn đến một thực tế là cơ quan điều tra công khai thông tin gì thì biết thông tin đó, nếu không thì cứ hiểu đó là thông tin không được công khai và doanh nghiệp cũng không có cách nào khác.

Thứ tư, pháp luật chưa quy định thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được công khai ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai

Một vấn đề mà doanh nghiệp hết sức quan tâm là các thông tin mà cơ quan điều tra có nghĩa vụ phải công khai, được công khai ở đâu, công khai như thế nào, cơ quan nào có trách nhiệm phải công khai thông tin. Qua khảo tìm hiểu các quy định liên quan đến việc công khai thông tin trong vụ kiện phòng vệ thương mại có thể thấy, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin, theo đó việc công khai thông tin được thực hiện qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, liên quan đến địa chỉ công khai thông tin ở đâu, cơ quan nào có nghĩa vụ công khai thì pháp luật chưa quy định, dẫn đến việc doanh nghiệp muốn tiếp cận thông tin cũng không biết phải tìm đến địa chỉ nào và ở đâu.

2. Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đối với hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại

Trong kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc thực thi các biện pháp phòng vệ thương mại đôi khi không xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng mà thay vào đó là sự tác động của vị thế kinh tế, mối quan hệ chính trị của các quốc gia liên quan đến vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Điều này được PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa[1] nhấn mạnh, để kiểm soát hiệu quả hành vi độc quyền cần tới nhiều thiết chế đa dạng… Cơ quan cạnh tranh Việt Nam sẽ gặp những thách thức từ tác động của độc quyền hành chính. Hoặc TS. Nguyễn Quý Trọng[2] khi đánh giá về thực tiễn áp dụng các biện pháp tự vệ thương mại đã khẳng định: “… Phải chăng hoạt động của cơ quan điều tra trong quá trình thực thi có chịu sức ép hay không? Hay trong trường hợp này, chúng ta phải chịu sức ép về chính trị nhiều hơn sức ép về kinh tế”. Do đó, dẫn đến thực trạng là khi có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp nước ngoài thì cơ quan điều tra sẽ đặt lên “bàn cân” giữa lợi ích của doanh nghiệp với mệnh lệnh hành chính và mối quan hệ quốc gia. Trong bối cảnh đó, không ai dám khẳng định rằng, cơ quan điều tra sẽ phải thực thi pháp luật vì lợi ích của doanh nghiệp, bởi lẽ lúc này quyền tự quyết không thuộc về doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, TS. Đoàn Trung Kiên[3] khi phân tích thực trạng các quy định về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam đã lo ngại rằng, quyền hạn của cơ quan điều tra là rất lớn, trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn tới lạm dụng quyền lực.

Trước thực tế đó, với vị thế yếu hơn và là chủ thể không mang quyền lực nhà nước, để có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thì cần thiết phải có một cơ chế giúp doanh nghiệp giám sát độc lập, trực tiếp đối với hoạt động điều tra của cơ quan điều tra trong cả quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Một trong những công cụ để giám sát hiệu quả chính là trao cho doanh nghiệp quyền được tiếp cận các thông tin về vụ việc phòng vệ thương mại từ cơ quan điều tra bằng các quy phạm pháp luật. Tuy vậy, như đã phân tích ở trên, những quy định này còn rất nhiều những bất cập cần phải hoàn thiện theo hướng:

Thứ nhất, cần quy định trình tự, thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Trình tự, thủ tục là con đường hướng dẫn doanh nghiệp tìm đến các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Tuy vậy, pháp luật hiện hành quy định các thông tin doanh nghiệp được hoặc không được tiếp cận, nhưng lại không chỉ rõ các bước, cũng như thủ tục thế nào để tiếp cận các thông tin này. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi có thể cho doanh nghiệp để tiếp cận thông tin, Thông tư số 06/2018/TT-CP cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục để tiếp cận các thông tin trong vụ việc điều tra phòng vệ thương mại. Quy định cần làm rõ những vấn đề: Để tiếp cận các thông tin công khai hoặc tiếp cận các thông tin theo yêu cầu thì doanh nghiệp cần phải có những giấy tờ gì, gửi hồ sơ tới địa chỉ nào, thời gian trả lời yêu cầu là bao lâu, khiếu nại ở đâu nếu không đồng ý. Hoặc là tiếp cận trên phương tiện điện tử thì cần làm rõ: Địa chỉ nào công bố thông tin, thời gian công bố thông tin là khi nào, cơ quan nào phải có nghĩa vụ giải đáp thắc mắc?

Thứ hai, cần quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Thời hạn công khai các thông tin liên quan đến quá trình điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hết sức quan trọng và cần thiết đối với doanh nghiệp. Bởi lẽ, mục đích cuối cùng của việc tiếp cận thông tin là để doanh nghiệp kịp thời xây dựng các phương án kinh doanh phù hợp đối phó với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi các thông tin từ cơ quan điều tra để biết được mình phải làm gì, làm như thế nào khi doanh nghiệp nước ngoài bị hoặc không bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì thế, pháp luật không chỉ quy định cụ thể thời hạn công bố thông tin mà phải công bố một cách kịp thời, thường xuyên thông qua các phương tiện điện tử cũng như các cổng thông tin của cơ quan điều tra về hoạt động điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Vì lẽ đó, Thông tư số 06/2018/TT-BCT cần bổ sung quy định về thời hạn cơ quan nhà nước liên quan phải công bố về vụ việc điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và thời hạn này phải bắt đầu từ thời điểm cơ quan điều tra nhận được đơn yêu cầu cho đến hết thời gian áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ ba, cần quy định thống nhất những thông tin nào doanh nghiệp không được phép tiếp cận hoặc tiếp cận hạn chế

Để đảm bảo tính thống nhất từ Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đến Thông tư số 06/2018/TT-CP trong việc quy định các loại thông tin nào được công khai, những thông tin nào cần bảo mật thì cần bỏ quy định tại khoản 8 Điều 7 Thông tư số 06/2018/TT-CP.

Thứ tư, cần quy định cụ thể địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ phải công bố thông tin trong vụ việc điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Như đã phân tích trên đây, tại khoản 1 Điều 11 Nghị định số 10/2018/NĐ-CP đã có quy định về phương tiện dùng để công khai thông tin là qua phương thức điện tử hoặc phương thức khác phù hợp với hạ tầng kỹ thuật của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Nghị định này chưa quy định cụ thể thông tin được công khai tại trụ sở hay trên website của cơ quan điều tra, đồng thời cơ quan nào có nghĩa vụ phải công bố thông tin. Vì vậy, cần quy định bổ sung địa chỉ công bố thông tin, cơ quan có nghĩa vụ công bố thông tin. Đồng thời, cần quy định nghĩa vụ công bố thông tin thuộc về cơ quan điều tra; địa chỉ để công bố thông tin tại trụ sở và trên website của cơ quan điều tra, đồng thời thông tin này phải được cập nhật trên các bản tin phòng vệ thương mại của Bộ Công thương.

ThS. Mai Xuân Hợi

Đại học Luật, Đại học Huế


[1] PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật Kinh tế, Nxb. Công an nhân dân, 2004.

[2] TS. Nguyễn Quý Trọng, Pháp luật về tự vệ trong nhập khẩu hàng nước ngoài vào Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2013.

[3] TS. Đoàn Trung Kiên, “Pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: